Phó Tiến sĩ Xuân Yến có bài “Mấy suy nghĩ về Phật giáo trong tuồng (Hát Bội) qua các nhân vật tu hành” thế nhưng bài viết ấy đã làm điều ngược lại bằng cách biến những nhân vật tu hành “góp phần không nhỏ vào tư tưởng – nội dung của tác phẩm bằ
Xa hơn, trước các bậc thầy nghệ thuật sân khấu, thời tại thế, trong cung cách thuyết giảng, giáo hóa, đức Phật phải dùng đến mười hai cách thực hiện, ngõ hầu rót được vào tai của từng đối tượng; trong đó cách mang tên “vị tằng hữu” là cách cuối cùng (thứ 12).
Nên nhớ rằng trong các hội thi người ta có quyền đưa ra các “bài dự thi bắt buộc” sau khi các bài tự chọn đã được duyệt qua. Với Phật giáo, điều đó càng trở nên cần thiết.
Văn nghệ Phật giáo – một lãnh vực gần như thiêng liêng, tự thân nó không hứa hẹn ban thưởng, trả công cho bất kỳ ai, và nó cũng sẽ không ban tặng một bằng ghi công trạng nào hết, nói chi đến một danh hiệu.
Triết lý Tam giáo đã thắm vào chiều sâu của mỗi người dân Việt một cách tự nhiên như hơi thở, không cần phải quyến rủ, không cần phải mời mọc, không cần đem danh lợi ra để khuyến dụ...
Người Việt có câu "phép vua thua lệ làng." Những phong tục dân gian lắm lúc được biết nhiều hơn là những nguyên tắc chánh truyền. Lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng là một trường hợp điển hình.
Tất cả sự hội nhập của 3 nền tảng văn hóa tạo nên vốn văn hóa Quỳnh Lâm mà ta vừa trình bày là bằng chứng của một hiện tượng "chung sống hòa bình" thú vị của các hệ tư tưởng trái ngược trong suốt một thời đại thịnh trị dài đến 5 thế kỷ của lịch sử nước ta.
Vạn vật nghìn sai muôn khác, nhưng vô thường, sinh rồi diệt, tồn tại rồi hủy phá. Tuy nhiên trong muôn nghìn biến chuyển sinh diệt kia, vẫn có cái bất biến.
Mùa an cư thứ năm sau ngày thành đạo, đức Phật cho phép thành lập Giáo hội Ni. Những thử thách buổi đầu của Ngài là những lời giáo huấn vô ngôn cho bản chất Ni chúng.