21 | 11 | 2008
Bằng Tất Cả Tấm Lòng PDF. In Email
Văn Học và Nghệ Thuật - Truyện Phật Giáo
Viết bởi Thích Chân Tín   
Chỉ mục bài viết
Bằng Tất Cả Tấm Lòng
Bằng Tất Cả Tấm Lòng II
Tất cả các trang

mật tông văn học Phật giáo Việt Nam Phật giáo và dân tộc Bằng Tất Cả Tấm Lòng là một quyển truyện nhỏ gồm mười ba câu truyện đạo có tính giáo dục, rất nhẹ nhàng dể thương, đưa đọc giả vào thế giới “bí ẩn” của thiền môn…

Sau khóa lễ Phật, Thầy trụ trì đi qua bên trái chính điện, an tọa trên chiếc ghế dựa đặt cạnh chiếc bàn đã bài trí sẵn với một lọ hoa sen trên tấm khăn vải trắng. Nơi nền gạch hoa tất cả giới tử cùng ngồi chắp tay im lặng. Trước khi chính thức cử hành lễ quy y, Thầy nói về tính chất vô thường, vô ngã của nhân loại và chỉ ra con đường dẫn đến giải thoát giác ngộ. Phật pháp được coi như bè báu đưa người qua bể khổ, là cửa ngõ vào cảnh Niết bàn. Người học Phật muốn dứt trừ khổ não, hưởng sự an vui vô thượng thì không gì hơn là thọ trì giới pháp của Phật.


Bằng Tất Cả Tấm Lòng

Thích Chân Tính

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội 2006

MỤC LỤC

1) Quét Sân Chùa

2) Hồi Chuông Báo Tử

3) Cảm Nghĩ Từ Một Pho Tượng

4) Một Cử Chỉ Khó Quên

5) Ðeo Mắt Kính

6) Bằng Tất Cả Tấm Lòng

7) Quỷ Thần Hai Vai Chứng Giám

8) Chắp Tay Xá Chào

9) Mong Ước Đầu Xuân

10) Lời Đáp Từ Buổi Lễ Quy Y

11) Bác Tửu

12) Vị Sư Hạnh Đầu Đà

13) Nếu Chẳng Một Phen

1/ Quét Sân Chùa

Tiếng đại hồng chung vang lên trong không gian tĩnh mịch. Trên tường, đồng hồ cũng vừa điểm bốn tiếng. Cảnh nội tự Vĩnh Nghiêm chuyển mình thức giấc sau một đêm dài yên nghỉ. Chúng Tăng an cư kiết hạ chuẩn bị vân tập Trai đường niệm Phật Cảnh Sách.

Sau thời công phu khuya, tôi được phân công quét chùa. Tay cầm chiếc chổi chà, tôi nhẹ bước ra sân và leo lên cầu thang phía Ðông lang chính điện. Gió nhè nhẹ thổi, không khí buổi sáng thật trong lành. Cây bông sứ cạnh chân cầu thang đưa mùi thơm dìu dịu. Cảnh trí nội tự thật tuyệt đẹp. Tôi dừng lại để thưởng thức vài phút rồi tiến lên sân thượng. Trước mắt tôi bây giờ là những chiếc lá vàng nằm rải rác bừa bãi đó đây, phần lớn là lá si, lá hoa lan và lá điệp. Tôi bắt tay vào việc ngay và chỉ hơn nửa giờ quét dọn, sân hành lang trở lại sạch sẽ quang đãng như cũ. Cứ thế, mỗi buổi sáng tôi quét dọn sạch sẽ, chiều tối rác lá lại bừa bãi. Do vậy, tôi phải quét dọn hàng ngày.

Sáng nay, trong lúc làm việc tôi chợt nhớ đến câu chuyện Ngài Châu Lợi Bàn Ðặc. Do vì căn cơ ám độn học trước quên sau, Ngài được Ðức Phật dạy cho hai chữ “Tảo tuệ” để làm công án tu tập. Sau khi thấu triệt và thực hành rốt ráo công án này, Châu Lợi Bàn Ðặc đã quét sạch phiền não si ám và chứng ngộ Thánh quả. Bỗng bài kệ của Ngài Thần Tú ngân vang trong ký ức tôi:

Thân là cây Bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Thường thường siêng lau chùi

Chớ để nhiễm trần ai.

Phải chăng mỗi người chúng ta là một ngôi chùa? Nếu biết dùng “Tảo tuệ” quét sạch các rác rưởi phiền não, tham, sân, si v.v... ra khỏi tâm địa của mình thì không những trang nghiêm ngôi chùa tự thân, mà còn là chỗ nương tựa, quy kính cho cả Trời, người.

Boong... boong... boong...

Tiếng chuông báo tới giờ điểm tâm sáng vang lên. Tôi vội vã hốt rác vào giỏ. Trước khi xuống lầu, tôi đứng lại ngắm ngôi chùa một lần nữa. Nhìn toàn bộ cảnh trí trang nghiêm thanh tịnh, tôi cảm nghĩ: Một ngôi chùa dù lối kiến trúc bên ngoài có tráng lệ bao nhiêu, mà bên trong rêu phủ nhện giăng, nhang lạnh khói tàn chắc chắn sẽ không gây cho du khách những cảm tình lưu luyến sau khi tham quan vãn cảnh. Cũng thế, nếu mỗi người chúng ta chỉ biết trau chuốt trang điểm bên ngoài cho xinh đẹp, mà không lo gột rửa nội tâm, thì chẳng qua chỉ là lớp sơn hào nhoáng che đậy sự ruỗng mục bên trong mà thôi.

Gió vẫn nhè nhẹ thổi. Mùi hương sứ thoang thoảng trong không gian. Tôi cầm chổi thong thả bước xuống cầu thang, vừa đi vừa ngâm bài kệ:

Siêng quét dọn sân chùa

Mỗi ngày phước huệ sanh

Tuy chưa có khách đến

Nhưng cũng có Thánh đi.

2/ Hồi Chuông Báo Tử

Reng... Reng... Reng...

Ðang chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt sau khi từ Bệnh viện Chợ Rẫy trở về, chợt nghe tiếng chuông điện vang rền phía trước cửa chùa, tôi liền bật người ngồi dậy, linh tính báo cho biết một biến cố kinh hoàng sẽ xảy đến với mình.

Dòng ký ức...

Một hôm vừa đi học về đến cổng chùa, con liền nhận được lá thư ba gởi. Lòng hồi hộp, con bước vội vào phòng và bóc lá thư ra xem. Con lâng lâng sung sướng khi đọc từng dòng chữ yêu thương, từng ý nghĩ hướng thượng xuất trần của ba mà tưởng đó là một giấc mơ. Ba ơi! Ðã từ lâu con hằng mong ước và khuyến khích ba hướng tâm về lý tưởng giải thoát, thế nhưng mọi sự cố gắng của con đều bất lực trước sức mạnh lợi danh cuộc đời. Hôm nay, bỗng nhận được tin ba quyết chí sẽ từ bỏ thế sự, nguyện sống đời phạm hạnh thiêng liêng. Con vui mừng cảm động biết bao. Nhưng...

Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua. Ðã mấy mùa sen nở và bao cánh nhạn đưa thư, con chỉ nhận những lời hồi âm của ba với những từ ngữ “bận” “kẹt”, “chưa giải quyết xong”... Con rất thông cảm đợi chờ và luôn thúc giục ba hãy đại hùng đại lực cắt đứt trần duyên, dũng tiến bước lên con đường xuất gia giải thoát. Con vẫn hy vọng một ngày không xa, cha con ta sẽ sum họp dưới một mái chùa, cùng tắm mình trong ánh từ quang của Ðức Phật, cùng khích lệ nhau đi suốt lộ trình giác ngộ tâm linh. Nhưng ba ơi! Chùm bọt trên biển cả ai hay phút giây tan vỡ? Dây đằng bên bờ sông ai biết lở lúc nào? Thân tứ đại sinh có hạn, tử vô kỳ biết đâu mà chờ với đợi? Rồi, một hôm con bàng hoàng đau đớn khi nghe tin ba đau nặng, bệnh trạng mỗi lúc một trở nên nguy cấp. Ngày ba được chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy chữa trị, hai cha con chỉ còn hiểu nhau qua đôi mắt. Trong ánh mắt ba chứa đầy nuối tiếc; trong ánh mắt con tràn ngập đau thương. Ba nằm nhìn con chăm chú muốn tâm sự thật nhiều, nhưng không làm sao thốt được nên lời. Trong phút giây im lặng thiêng liêng này, con chợt nghe tiếng lòng của ba qua từng cơn nấc nhỏ, rồi từng giọt, từng giọt lệ tràn ra hố mắt, lăn dài trên gò má nhô xương. Con chết lặng cả người, cúi đầu nuốt lệ tôn trọng sự trở về thầm kín của ba mà trong lòng như đứt ruột xé gan.

Thế mà giờ này...

Reng... Reng... Reng...

Tôi bước vội ra mở cửa phòng và đoán được những gì đã xảy ra trong lúc ngoài trời còn đầy ánh sao khuya. Tôi đứng im lặng ngậm ngùi than cho lẽ sinh ly tử biệt, khi nghe tin người cha yêu quý đã ra đi không hẹn ngày trở lại.

“Ô hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng

Nhất đán vô thường vạn sự hưu” (1)

Thấm thoát đã ba Thu trôi qua, cứ mỗi lần nghe tiếng chuông điện reo, tôi lại giật mình kinh hãi, nhớ đến biến cố đau thương nhất đời mình. Ôi! Tiếng chuông báo tử, tiếng chuông cắt đứt tình phụ tử thiêng liêng, tiếng chuông vang vọng cảnh tỉnh hồn ai đang còn đắm say trong mộng ảo ái hà, hãy mau mau:

“Trần duyên sớm rũ lên thuyền giác

Nấn ná vô thường một kiếp qua.”

3/ Cảm Nghĩ Từ Một Pho Tượng

Ðược tặng một pho tượng chú tiểu ngồi tựa mình ngủ gục trên chiếc mõ, tôi thích quá. Cái nét mặt ngây thơ hồn nhiên của chú đã mau chóng hấp dẫn tôi say mê ngắm nhìn. Trong lúc thưởng thức tôi tự hỏi tại sao mình lại cảm xúc một tác phẩm nghệ thuật nhanh đến thế, trong khi trình độ nhận thức của mình còn non kém? Theo tôi hiểu, một tác phẩm văn học cũng như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, không phải ai cũng cảm thụ hết giá trị của nó, mà còn đòi hỏi ở trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân. Nỗi băn khoăn ấy đã được văn hào Nguyễn Du thốt lên cách đây gần hai thế kỷ:

“Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” (2)

Có cùng độ rung với tác giả, người đọc mới thâm nhập tác phẩm một cách trọn vẹn được. Ðiều mà các cụ ngày xưa đã nói: “Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hoặc thuật ngữ ngày nay là “Cùng một tần số”.

Về những điểm đó có lẽ tôi chưa đủ điều kiện để cảm thụ một tác phẩm nghệ thuật. Mà ở đây, khi nhìn pho tượng tôi như người đánh mất vật báu nay bỗng gặp lại. Phải chăng khi sức khỏe suy kém đi người ta mới thấy sức khỏe là quý? Và khi giấc ngủ bất an người ta mới trân trọng một giấc ngủ bình an!

Chú tiểu với đôi má phúng phính nổi trên gương mặt tròn trịa, hai mắt nhắm kín, đầu nghiêng bên phải gác trên chiếc mõ. Với tư thế này có lẽ trong lúc tụng kinh, vì buồn ngủ chịu hết nổi, chú đã bỏ dùi xuống và nhanh chóng “thâu thần nhập định”. Mặc cho thế sự thăng trầm, dòng đời trôi chảy; mặc cho chú chuột nhắt đang gặm túi áo mình, chú cứ tha hồ mà ngủ, ngủ một cách trọn vẹn. Trên gương mặt không một nét ưu tư phiền bận về những gì đã và đang xảy ra chung quanh mình. Thật sung sướng biết bao một giấc ngủ an lành.

Ăn và ngủ là hai nhu cầu tất yếu của nhân loại. Cho nên ngủ không phải là cái gì xa lạ với con người. Tuy nhiên, để có được một giấc ngủ bình an không phải dễ. Vì giấc ngủ ngoài chức năng quân bình cơ thể sau một ngày hoạt động, nó còn phản ánh ước vọng và hành động của con người khi thức. Do vậy, người ta không thể có được giấc ngủ an khi trong tâm chất chứa toàn những điều bất an. Cái hiện tượng trằn trọc, những cơn ác mộng hãi hùng trong giấc ngủ là kết quả đương nhiên của vọng tâm điên đảo, thất tình lục dục. Ðể được tự tại trong khi thức, an lành trong giấc ngủ, phương pháp tuyệt diệu nhất là “Viễn ly điên đảo mộng tưởng”. Bấy nhiêu thôi. Chỉ sáu chữ đó nếu thực hành đến nơi đến chốn thì cái “cứu cánh Niết bàn” chẳng còn xa tít trên chín từng mây xanh nữa. Vậy mà mấy ai là người có đủ nghị lực để “Viễn ly điên đảo” trong cái thế giới đầy cám dỗ và đảo điên này?

Chẳng lẽ chỉ có pho tượng chú tiểu ngủ gục trên chiếc mõ?

4/ Một Cử Chỉ Khó Quên

Như mọi Chủ nhật, sáng nay đang làm việc tại Thư viện Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, tôi nhìn ra cửa và thấy Hòa thượng Thích Thanh Kiểm cùng với một vị sư người Nhật từ trong nhà khách của Trường Cơ bản Phật học bước ra, theo sau là một đoàn người. Tôi nhận ra ngay đây là phái đoàn Phật giáo Nhật Bản sang thăm Việt Nam nhân dịp lễ Phật Ðản 2533 vừa qua. Thấy họ đang tiến về phía mình, tôi đoán là họ sẽ ghé vào thăm Thư viện nên đứng dậy chuẩn bị đón tiếp.

Ðúng như dự đoán, tôi ra chào đón và hướng dẫn đoàn vào tham quan Thư viện. Vì Hòa thượng Thanh Kiểm nói được tiếng Nhật nên đã giới thiệu trực tiếp với quý vị trong đoàn về kinh sách hiện có tại Thư viện. Trong lúc tham quan, dường như họ chú ý nhiều đến bộ Tục Tạng, Ðại Tạng của Trung Quốc và bộ Nam Truyền của Nhật Bản. Sau khi xem hỏi kỹ những bộ kinh này, đoàn dạo quanh một vòng gian ngoài rồi từ từ tiến sâu vào cuối phòng và dừng lại trước một tủ kính đựng kinh sách bằng chữ Hán loại cổ bản. Theo đề nghị của vị sư Nhật, Hòa thượng Thanh Kiểm mở cửa tủ và rút ra quyển “Giới Ðàn Tăng” đưa cho họ xem. Một ông cư sĩ Nhật lấy sổ tay ra vừa hỏi vừa ghi chép. Sau khi xem sơ hình dáng quyển sách, vị sư trao lại cho tôi. Vì chồng sách quá chật nên khi cất vào chỗ cũ có hơi khó khăn. Ðể giữ phép lịch sự trong lúc đoàn đang coi, tôi tạm để cuốn sách qua một bên rồi đứng về một phía. Tôi có tính hơi lạ là hễ khâm phục một quốc gia nào rồi, thì con người của quốc gia đó - không biết cá nhân họ như thế nào - khi qua Việt Nam tôi đều có cái nhìn thiện cảm. Do đó, sự hiện diện của vị sư Nhật hôm nay khiến tôi chú ý rất nhiều. Vì thế một cử chỉ rất nhỏ của ông tôi đều không bỏ sót.

Trong lúc Hòa thượng Thanh Kiểm đọc những tên sách cho vị cư sĩ người Nhật chép, tôi ngạc nhiên thấy vị sư cứ chăm chú, thấp thỏm như muốn lấy một vật gì trong tủ. Có lẽ Ngài muốn xem một cuốn sách nào khác, nhưng vì ngại nên không tiện hỏi chăng? Tuy nói chuyện trao đổi với nhau thật vui vẻ, nhưng thật lạ, chốc chốc vị sư lại đưa mắt nhìn về phía tủ kinh với dáng vẻ như chưa hài lòng một điều gì đó. Và khi Hòa thượng Thanh Kiểm mở tủ lấy ra một quyển sách khác theo đề nghị của ông cư sĩ Nhật, thì lập tức vị sư cũng định đưa tay vào tủ. Rồi vì Hòa thượng Thanh Kiểm đã lấy sách ra nên vị sư bèn rụt tay trở lại. Thấy thế tôi càng thắc mắc và định nhờ người thông dịch hỏi xem vị sư cần coi quyển sách gì, tôi sẽ lấy giúp, nhưng rồi lại thôi.

Sau khi trao đổi với nhau đã thỏa mãn, Hòa thượng Thanh Kiểm cất quyển sách vào chỗ cũ, đóng cửa tủ lại chuẩn bị trở ra. Lúc này vị sư Nhật mắt vẫn không rời tủ kinh và bỗng nhiên Ngài đưa tay khẽ mở tủ, rút ra quyển Giới Ðàn Tăng mà tôi để tạm qua một bên khi nãy, cố gắng nhét vào đúng chỗ của nó. Tôi chợt lặng người trước cử chỉ rất bình thường mà đáng phục này và tìm ra lời đáp. Cũng như tôi trước đó, vị sư loay hoay mãi vẫn không nhét được. Tôi thấy vậy liền đỡ lấy quyển sách và làm nhiệm vụ của mình. Ðợi khi quyển Giới Ðàn Tăng trở về đúng vị trí cũ vị sư Nhật mới cất bước, lúc này trên gương mặt đạo mạo của ông hiện lên những nét vui tươi thỏa mãn. Trước đây tôi chỉ nghe về đất nước và con người Nhật Bản. Hôm nay tôi mới thấy và hiểu họ nhiều hơn.

Cử chỉ của vị sư Nhật đã gợi nhớ lại trong tôi kỷ niệm thời niên thiếu khi còn ở tại gia. Ông thân tôi có tính sạch sẽ, mỗi khi đi làm về tới nhà thấy đồ đạc bừa bãi hoặc dơ bẩn, ông liền tự tay đi thu dọn. Tuy nhiên, không phải việc làm ấy của ông dễ dàng để chúng tôi quen thói lười biếng. Cứ mỗi lần như vậy, vừa làm ông vừa “lẩm bẩm” rất khó chịu. Thế rồi để khỏi bị “giáo dục”, cứ mỗi lần ông sắp đi làm về, chúng tôi đều phải lo dọn dẹp trong nhà cho thật gọn sạch. Và bây giờ đến lượt tôi, có lẽ đã thấm nhuần tính sạch sẽ đó, nên mỗi lần về chùa, thấy bừa bãi lại cũng... lẩm bẩm và rồi tự tay đi dọn theo thói quen “cha truyền con nối”.

Khi xuất gia tôi cũng đã ghi sâu câu “lấm rửa lệch kê” mà Thầy đã huân tập hàng ngày cho tôi. Mỗi lần đứng dậy mà không xếp ghế lại chỗ cũ là bị rầy. Ði ngang qua một vật gì thấy lệch xéo mà không chỉnh đốn lại ngay ngắn là bị la v.v... Ðại để lấy câu “lấm rửa lệch kê” làm phương châm hành động. Nếu sai cứ bị nghe “thuyết pháp” dài dài. Và để trở thành thói quen, tôi cũng phải dày công “tu luyện”. Thật ra, thói quen ấy là kết quả của sự sợ bị “chỉnh” chứ chẳng phải tu luyện gì cả.

Suy mình ra người. Ðể có được một cử chỉ rất bình thường như vị sư Nhật vừa qua, theo tôi không phải ngẫu nhiên, mà chính là một thói quen đã được rèn luyện lâu ngày. Từ điều này tôi liên tưởng đến các Thiền sư, những vị đã hoàn toàn làm chủ lấy mình, hẳn mỗi nụ cười, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ... đều tỏa ra sự bình an, tự tại và tuyệt hảo. Ôi, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Ðức Phật đâu phải chuyện hão huyền!

Vị sư Nhật đã rời khỏi Thư viện và sẽ trở về nước trong nay mai. Chắc chắn thời gian sẽ làm phai mờ hình ảnh vị sư trong ký ức tôi, nhưng cử chỉ đáng quý ấy sẽ mãi mãi khắc sâu vào tận đáy lòng.

5/ Ðeo Mắt Kính

Nếu tôi không lầm, mắt kính được sáng chế ra nhằm mục đích giúp cho những người mà cặp mắt bị sự cố. Dần dần nó đã chuyển thành công cụ bảo vệ đôi mắt, rồi tiến đến tạo mốt cho gương mặt. Do vậy đã có bao nhiêu kiểu kính ra đời. Có những cặp tạo cho gương mặt thêm dễ thương, nhưng cũng không ít loại xem càng dị dạng. Nhìn một người đeo mắt kính, nếu không phải là cận thị, tôi đều nghĩ ngay anh hay chị đang làm duyên đây! Do đã có thành kiến như vậy nên việc đeo kính của tôi bây giờ chẳng dễ dàng chút nào.

Trong đợt hội diễn vòng sơ kết văn nghệ Phật giáo nghiệp dư, do Tổ công tác Văn hóa Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại giảng đường chùa Xá Lợi, tôi phụ trách hướng dẫn nhóm Phật tử huyện Hóc Môn lên tham dự. Buổi chiều đi dự thì sáng hôm đó tôi bị đau mắt đỏ. Ðể khích lệ tinh thần các em Phật tử, mặc dù đau mắt tôi vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy có người cho mượn mắt kính đeo để tránh gió bụi khi đi đường, tôi vẫn thấy Ngài ngại và cầm nó trong tay nhiều hơn là đeo! Sau buổi hội diễn trở về chùa mắt tôi bị sưng đỏ lên. Các Phật tử đổ lỗi tại tôi không đeo kính, đi ra phố nhiều, tiếp xúc với nữ giới v.v... Ðể mau khỏi bệnh, từ hôm đó tôi tập đeo kính trước công chúng. Tuy việc đeo kính là do đau mắt chứ không phải làm duyên như tôi vẫn thường quan niệm trước đây, nhưng khi gặp ai tôi cũng giới thiệu cho họ biết trước là mình bị đau mắt đỏ!

Do Phật sự, tôi đi lại từ Thành phố về Hóc Môn bằng xe Honda rất thường xuyên. Lần nào về đến chùa, mắt tôi cũng “sản xuất” ra hai cục bụi ghèn! Có hôm, tôi bị những con vật li ti bay vào mắt làm cay xé, không thể mở mắt ra được, tôi phải dừng xe lại dụi mắt, đợi cho êm êm mới dám đi tiếp. Từ những sự thật trên khiến tôi phải xét lại quan niệm xấu về việc đeo kính của mình trước đây. Và khi nhận rõ sự lợi ích của nó rồi, tôi mong mình có được cặp kính để đeo.

Quả là Trời cao có mắt. Lòng mong ước đã được cảm ứng. Một hôm, mở gói quà nhân dịp lễ Vu Lan, tôi ngạc nhiên khi thấy cặp kính trong đó. Lòng thầm vui, tôi cứ ngắm nhìn nó mãi.

Mặc dù đã biết rõ lợi ích của mắt kính rồi, nhưng cái tư tưởng đeo kính để làm duyên chưa bị “loại khỏi vòng chiến” hoàn toàn, nên tuy có kính trong tay tôi vẫn coi như là không. Một hôm tôi đánh bạo đem ra xài thử khi đang trên đường đi từ Thành phố về Hóc Môn, nhưng chẳng đơn giản chút nào. Tôi phải giấu nó vào trong túi xách đợi đi cách thật xa chùa mới lấy ra đeo và khi về gần đến nơi lại tháo ra cất vào túi. Nhất là trong lúc đi đường tôi cảm thấy mất tự nhiên về cặp kính nơi gương mặt của mình. Mọi lần, có khi nào tôi quan tâm đến người đi đường đâu? Thế mà hôm nay tôi thấy dường như ai ai cũng nhìn tôi đến là lạ. Chẳng may gặp người quen là tôi tháo vội kính ra và giấu ngay lập tức.

Nghĩ cũng lạ, có những cái không ai chê trách, chẳng giới luật nào ngăn cấm, vậy mà chỉ vì một chút lo ngại cỏn con đã làm mất đi sự tự tại trong hành động. Thú thật, cái câu “Tâm vô quái ngại, vô quái ngại, cố vô hữu khủng bố” trong Kinh Bát nhã tôi đã thuộc làu hơn mười mấy năm rồi. Ấy thế, cho đến nay tôi vẫn đọc như két chứ chưa ứng dụng trọn vẹn câu kinh ấy trong cuộc sống thường nhật của mình. Do vậy việc đeo mắt kính của tôi chẳng biết sẽ còn bị “khủng bố” đến bao giờ?

6/ Bằng Tất Cả Tấm Lòng

Ánh nắng gay gắt của mùa Hè tháng Tư năm nay vẫn không làm nản chí các độc giả thường xuyên đến Thư viện Phật giáo đọc sách. Họ vẫn ngồi yên lặng nhìn chăm chú trên từng trang giấy mực. Thỉnh thoảng do căng thẳng thần kinh, họ ngước nhìn ra phía trước, nơi vườn cây cảnh của chùa, để cho tâm hồn thanh thản hơn, hoặc để suy tư về một vấn đề gì còn khúc mắc. Ðôi khi họ phải đứng dậy và đi dạo quanh vườn một vòng cho thư giãn rồi trở lại chỗ cũ tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù trời nắng gắt, nhưng gió vẫn nhẹ thổi đều vào Thư viện mang theo hơi nóng và mùi thơm dìu dịu của bông sứ trắng trồng cạnh lầu chuông.

Một cô gái tuổi trạc đôi mươi, gương mặt trái xoan tươi sáng, nước da ngăm đen, mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay và chiếc quần Jean xanh đã bạc màu, đứng dậy bước ra sân và đi dạo. Ðang thong thả bước từng bước một, bỗng cô gái khựng lại và nhảy vào sân cỏ khi nhìn thấy hai con chim sẻ đang lảo đảo bên gốc cây cau cảnh. Thấy người đến, đôi chim hoảng sợ đập đập đôi cánh cố thoát thân, nhưng không tài nào bay nổi và đã nằm gọn trong tay cô gái một cách dễ dàng. Chúng thở mệt nhọc yếu ớt với đôi mắt lờ đờ mất thần. Ðoán được việc gì phải làm trong lúc nguy cấp này, cô bước vội ra khỏi sân cỏ, đi đến bên vũng nước nơi chiếc vòi tưới cây bị thủng đang chảy đọng trên nền sân. Tôi nhìn thấy biết ngay những con chim vừa được phóng sinh, do bị nhốt lâu nên đã kiệt sức. Thế rồi cô gái ngồi cạnh vũng nước, đặt một con chim xuống đất, cầm một con bên tay trái, tay phải nhúng vào vũng nước rồi đem vuốt lên mặt chim, động tác thật mềm mại dịu dàng, như bàn tay người mẹ hiền chăm sóc đứa con thơ trọng bệnh. Cô gái khẽ vạch mỏ chim ra nhỏ từng giọt nước vào miệng, nó vừa nuốt vừa lắc đầu ra vẻ tỉnh táo. Mỗi lần làm xong một động tác, cô đưa tay vuốt vuốt lên mình chim để an ủi vỗ về, thỉnh thoảng lại đưa lên sát miệng thì thầm vào tai nó những câu gì đó có vẻ rất chân tình. Mồ hôi đã ướt đẫm lưng áo, cô gái vẫn ngồi đấy, chăm chú săn sóc đôi chim dưới ánh nắng cháy bỏng của mùa Hè.

Trên nền trời trong xanh, thỉnh thoảng vài cụm mây trắng lơ lửng trôi. Gió khẽ lay động cành cây. Một bông sứ trắng lìa cành rơi bên cạnh. Cô gái vẫn thản nhiên ngồi như không có chuyện gì xảy ra.

Lát sau, cô gái đứng dậy, cầm hai con chim đi vào. Ðến cửa Thư viện cô rụt rè nhìn vào chỗ tôi ngồi để dò xét. Lúc ấy tôi nhanh chóng quay mặt sang chỗ khác ra vẻ như không hề biết một tí gì về việc làm của cô. Tôi hiểu mình phải nên hết sức tế nhị trong lúc này để tránh làm ngăn trở thiện tâm của cô gái (vì tôi là thủ thư). Cô liền rón rén tiến vào một góc phòng, khẽ đặt hai con chim trên nền gạch bông rồi trở lại chỗ cũ ngồi đọc sách. Thật ra cô chỉ ngồi đó để nghỉ mệt và theo dõi tình hình sức khỏe đôi chim.

Khi chuông đồng hồ điểm mười một tiếng báo hiệu hết giờ, cô gái đem hai con chim ra ngoài. Ðến bên gốc cây cau cảnh, cô đặt một con trên sân cỏ, con kia thì tung lên trên không, chim bay lảo đảo một chút rồi đậu trên cành cây. Sau đó, cô cúi xuống nhặt xác con chim còn lại, đem đến cạnh bờ tường, moi đất chôn. Mọi việc xong xuôi, cô gái dắt xe đạp đi ra. Trước khi về cô còn ngoái nhìn lại nơi con chim vừa mới chôn như thầm thương tiếc cho số phận bất hạnh của nó.

Một bông sứ trắng lại lìa cành và rơi bên cạnh cô. Nhặt chiếc bông lên ngắm nhìn và như nhận ra được điều gì từ đấy, cô gái mỉm cười, ném bông lên mộ chim rồi leo lên xe đạp khởi hành.

Cô gái đang khuất dần sau cổng tam quan chùa Vĩnh Nghiêm, để lại trong lòng tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Trong Thư viện bây giờ chỉ còn lại mình tôi với bao cảm xúc. Quả là có những việc hết sức bình thường tưởng chừng như dễ làm, nhưng không phải ai cũng làm dễ.

Mong ước sao trong cuộc sống của mình sẽ làm được những việc thiện nhỏ, thật nhỏ thôi, nhưng bằng tất cả tấm lòng và trọn vẹn.

7/ Quỷ Thần Hai Vai Chứng Giám

Cây Bồ đề to lớn sừng sững phía trước cửa chùa. Những chiếc lá hình trái tim sum suê xanh tươi đang nhẹ nhàng lay động. Tiếng dế nỉ non hòa trong không gian tĩnh mịch. Những vì sao đang hiện rõ trên nền trời xanh thẫm. Cảnh vật chìm dần vào bóng đêm. Bên cội Bồ đề, dưới ánh sáng mờ nhạt của ngọn đèn tròn, tượng Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi uy nghiêm. Quang cảnh đã gợi lại hình ảnh sống động cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, nơi gốc cây Pippala, Sa môn Cù Ðàm đang ngồi trầm tư mặc tưởng.

Một chiếc xe đạp dừng lại, cậu bé khoảng mười bốn tuổi xuống xe dẫn bộ qua khỏi nơi Ðức Phật ngồi. Khi em vừa định lên xe đi tiếp thì tôi từ một gốc cây bông sứ cạnh đó bước ra đón đường hỏi chuyện.

- Em đi đâu về tối vậy?

Hơi ngạc nhiên trước sự xuất hiện đột ngột của tôi, em lúng túng đáp:

- Thưa... Thưa Thầy, con đi mua thuốc cho má con.

- Má em bệnh gì vậy?

- Dạ, má con bị cảm sốt.

Biết em đang vội về nên tôi vào đề ngay:

- Thường thường vào ban đêm những người qua lại nơi đây đều chạy xe luôn. Lâu nay tôi để ý chỉ có một mình em là xuống xe. Nhất là hôm nay, trong khi má đau cần thuốc gấp như vậy, tại sao em không chạy luôn mà lại xuống xe dẫn bộ?

- Dạ, thưa Thầy tại vì con làm theo đúng tấm bảng này.

Cậu bé đưa tay chỉ tấm bảng đen đề những chữ trắng “NƠI TÔN NGHIÊM, YÊU CẦU XUỐNG XE DẪN BỘ”.

Tôi mỉm cười nói:

- Biết rồi cậu bé ơi! Nhưng nhiều người nói ban đêm Phật ngủ. Còn chúng Tăng trong chùa thì đi nghỉ cả rồi, có ai thấy đâu mà sợ la rầy.

- Dạ, thưa Thầy, má con nói là người ta có quỷ thần hai vai chứng giám. Ban ngày hay ban đêm gì cũng vậy, nếu mình làm sai quỷ thần đều ghi chép đầy đủ. Mình có dối người khác được chứ không dối quỷ thần hai vai của mình được đâu Thầy.

- Vậy hả? Thế là em vì sợ quỷ thần hai vai ghi chép nên không dám làm sai lời tấm bảng này phải không?

Cậu bé gật đầu dạ rồi vội vã cáo từ và lên xe.

Do không ý thức nơi tôn nghiêm, một số người qua lại trong khuôn viên chùa, trước tượng Phật, cứ phóng xe tự nhiên. Hơn ba tháng nay chùa đã cho dựng tấm bảng cấm ấy để nhắc nhở. Sự xuất hiện của tấm bảng đã giúp họ biết lễ độ khi đi ngang qua nơi thờ phụng và nếu ai cố tình vi phạm sẽ bị chúng Tăng nhắc nhở. Thế nhưng công hiệu của tấm bảng chỉ được một vài tuần đầu. Dần dần, mỗi lần chạy xe ngang qua họ đều ghé mắt vào chùa quan sát coi có ai để ý gì không, nếu có thì chấp hành tốt xuống xe dẫn bộ, còn không thì tiếp tục hành trình trên con ngựa sắt. Dường như họ chỉ sợ người trong chùa thấy chứ không tôn trọng tấm bảng cấm. Cũng giống như đến ngã tư đường người ta không nhìn đèn đỏ mà cứ nhìn xem có anh công an không! Ðã chạy vào đường ngược chiều không sợ nguy hiểm về tai nạn xe cộ mà lại sợ cảnh sát giao thông! Hình như phần đông người ta chỉ sống bằng hình thức bên ngoài nhiều hơn là sống thực với lòng mình. Họ không tin sợ ở chính mình mà chỉ sợ những thứ bên ngoài mình. Và oái oăm thay, những điều bất hạnh xảy ra nơi cuộc đời này lại bắt nguồn từ những người không biết tin sợ chính mình. Một khi người ta tự dối mình thì cũng sẽ dối được với cha mẹ ở nhà, lừa gạt Thầy bạn ở trường và gian trá với quần chúng ngoài xã hội. Nếu một lỗ mọt trong con đê không được lấp kín kịp thời, thì chẳng bao lâu nước sẽ phá vỡ cả bờ đất lớn.

Khi tinh thần tự giác còn quá thấp, trình độ giáo dục còn hạn chế, khi mà người ta chưa sống thật với lòng mình ở mọi hoàn cảnh thì sự hiện diện của Pháp luật và Công an vẫn còn cần thiết để hạn chế tội lỗi. Và nếu trình độ khoa học chưa đủ khả năng giáo dục con người sống chân thật với chính mình, thì quỷ thần hai vai cũng vẫn còn tác dụng giúp cho một đứa trẻ chân chất nơi miền quê biết xuống xe dẫn bộ khi đi qua bảng cấm lúc vắng người.

8/ Chắp Tay Xá Chào

Thành, một bé trai khoảng hơn hai tuổi, có gương mặt sáng và đôi mắt đen huyền rất kháu khỉnh. Một vài cô Phật tử gần nhà thỉnh thoảng đưa bé qua chùa chơi. Mỗi lần gặp tôi Thành đều kêu “Thầy” và chắp tay xá chào theo sự chỉ dẫn của người lớn.

Một hôm, tôi đang trên đường về chùa bằng xe đạp, bé Thành từ trong nhà đang lững thững đuổi theo chú chó con, nên không thấy xe tôi đang chạy tới. Lúc ấy những người gần đó thấy vậy la lên, bé hoảng hồn đứng khựng lại và tôi cũng vừa thắng xe kịp. Thành nhìn lên gặp tôi liền kêu “Thầy” rồi chắp tay xá xá trước sự ngạc nhiên đến phát cười nhưng đầy trìu mến của những người quanh đó. Cái cử chỉ chắp tay chào của chú bé có khác gì những lần trước đâu, thế mà hôm nay sao lại dễ thương đến lạ!

Nhớ lại năm mười hai tuổi, tôi theo mẹ đến một Tịnh xá nhân dịp lễ hội. Khi gặp nhà sư, mẹ tôi chắp tay cúi đầu chào và kèm theo câu “Mô Phật”. Tôi thấy lối chào sao mà ngồ ngộ khác thường. Lúc ấy mọi điều mắt thấy tai nghe đối với tôi đều mới lạ cả. Từ ngôi Tịnh xá hình bát giác mái nhọn với tượng Phật Thích Ca ngồi uy nghiêm, đến những căn nhà nhỏ bằng ván hình vuông, mái lá xinh xinh bao quanh khuôn viên (sau này tôi mới biết đó là “cốc” nơi quý sư ở). Từ cây Bồ đề sừng sững tàn lá sum xuê che mát trước sân, đến dáng dấp các vị sư trong mảnh y vàng phất phới tung bay, đã gợi cho tôi những thiện cảm đầu đời về đạo. Trong lúc quan sát, tôi thấy một vị sư từ ngoài cổng đi vào Tịnh xá, quảy lủng lẳng bên hông một cái túi, trong đó đựng một quả bát để nhà sư dùng cơm, đầu phơi nắng, chân không mang dép, dáng vẻ thật ung dung tự tại. Vị sư trụ trì từ trong cốc đi ra. Họ chắp tay trước ngực cúi chào nhau rất cung kính. Vị sư chủ cũng đáp lễ theo. Nhìn cử chỉ chào của hai vị sư sao mà khiêm tốn và chân thành quá. Họ chào nhau không chỉ là hình thức xã giao lấy lệ mà xuất phát bằng tất cả tấm lòng. Ngày nay hồi tưởng lại, tự nhiên niềm kính phục nhà sư cứ tràn lên trong tôi. Và cũng chính những ấn tượng ấy đã ảnh hưởng sâu đậm đến tương lai đời tôi.

Lúc mới vào trường học, tôi được dạy khoanh tay chào khi gặp Thầy cô giáo, phải đứng dậy khi Thầy giáo vào lớp. Có điều lạ là các Thầy giáo gặp nhau không khoanh tay chào như chúng tôi vẫn chào Thầy, mà lại bắt tay. Hồi đó tôi có ý nghĩ hết sức trẻ con. Tại sao các Thầy không khoanh tay chào nhau cũng giống như quý sư ở Tịnh xá. Sư chào sư cũng chắp tay, mà Phật tử chào sư cũng tay chắp! Lớn lên, theo dõi thời sự qua màn ảnh truyền hình, tôi rất lấy làm lạ về lối chào của một số nước phương Tây. Họ gặp nhau bất kể nam nữ, già trẻ đều ôm hôn “chóc chóc” đủ cả hai bên má. Nhìn họ hôn hít nhau giữa đường giữa chợ như vậy tôi lấy làm “mắc cỡ” giùm.

Ngày nay, khi tâm trí khai thông, tôi không thấy cách chào ấy là kỳ cục nữa mà còn cho đó là nét văn hóa đặc thù của một dân tộc. Càng hiểu về văn hóa, tôi càng muốn được trông thấy những cái hay cái lạ của từng địa phương. Theo tôi, văn hóa là những nét đẹp mà người ta tìm thấy ở một dân tộc hay một tôn giáo khác mà mình không có. J.H. Fichter, giáo sư xã hội học, đã nói: “Chính qua văn hóa người ta mới tìm thấy ý nghĩa và mục đích của nếp sống vừa cá nhân vừa xã hội”. Sở dĩ ngày nay người ta dám bỏ ra một số tiền lớn để đi du lịch, cũng chỉ vì muốn tận mắt chứng kiến phong tục tập quán ở những nơi khác mình.

So sánh với lối chào khác, tôi thấy đạo Phật có lối chào rất đẹp. Khi chào nhau, người Phật tử chắp hai bàn tay lại như một búp sen. Mà đặc tính của sen là: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Như vậy người Phật tử chắp tay chào nhau, ngoài phép tắc xã giao còn thầm nhắc nhở nhau: Hãy sống một đời trong sạch như sen nở ngát hương thơm nơi bùn lầy nước đục. Thật quý hóa thay, một biểu tượng cao đẹp xuất phát từ những tâm hồn cao đẹp. Ðúng như Fichter đã nhận xét: “Một xã hội ra sao là do văn hóa tạo nên”.

Thế mà lâu nay tôi vẫn coi thường cách chào và cho đó chỉ là bổn phận: Phật tử chào Thầy, hoặc Thầy nhỏ chào Thầy lớn. Do quan niệm như thế, có lần một Thầy trẻ tuổi đến viếng chùa, tôi thấy mình lớn nên chờ vị ấy chào trước, nhưng trớ trêu thay vị ấy (có lẽ cũng thấy mình lớn) và chờ tôi chào trước. Cuối cùng, vì lịch sự tôi giơ tay lên chào (theo kiểu nhà binh) và vị ấy cũng vậy. Sau đó chúng tôi tiến hành bắt tay nhau! Nghĩ lại, tôi thấy mình hành động thật kỳ dị. Người ta thường nói càng học rộng càng có văn hóa cao. Còn tôi tự nhận xét thấy mình càng tu “cao” càng có nhiều “ngã’. Trong khi đạo Phật chủ trương “Vô ngã” mà tôi chẳng “Vô” một tí nào cả. Nếu ai cũng tăng trưởng cái “ngã” kiểu này thì có nguy cơ thế tục hóa mất. Sau này khi đọc Kinh Pháp Hoa đến phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát, biết Ngài chuyên môn đi lạy mọi người để cầu mong họ thành Phật, tôi càng cảm thấy hổ thẹn vô cùng.

Ðã hiểu văn hóa là sản phẩm của con người, con người ra sao thì văn hóa thế ấy và nhìn cách sinh hoạt của một đoàn thể, người ta biết được trình độ văn hóa thấp cao. Sự biến chất của văn hóa là kết quả tất yếu của một đoàn thể tha hóa.

Người lớn chúng ta thường giành quyền hơn so với trẻ con, nhưng có cái thua xa trẻ con mà không biết. Ðiển hình có những Phật tử khi đến chùa thì chắp tay chào quý Thầy, nhưng lúc gặp ngoài đường lại gật gật gù gù. Phải chăng chúng ta chưa biết tự hào về nét đẹp của lối chắp tay chào hay vì cái “ngã” quá to? Và mến thương làm sao cái cử chỉ chắp tay chào rất tự nhiên của bé Thành trước cái nhìn trìu mến của biết bao cặp mắt người lớn.

9/ Mong Ước Đầu Xuân

Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa là bước qua năm Tân Mùi. Khắp nơi trong Thành phố xe cộ và người qua lại tấp nập. Họ đang vội vã về nhà với những thứ bên mình như: Bánh mứt, trái cây, bông hoa... để chuẩn bị cho buổi lễ giao thừa sắp tới. Trước cửa nhà dọc theo phố chính, đèn hoa, chậu bông được trang hoàng với đủ loại màu sắc rực rỡ. Tiếng pháo đì đùng đã vang vọng đó đây. Không khí thật tươi vui nhộn nhịp.

Hòa cùng với niềm vui chung đó, tôi cũng đang trên đường về chùa với một cành mai vàng trên chiếc xe Honda. Ðang miên man nghĩ đến giờ phút giao thừa tại chùa với quang cảnh Phật tử đi lễ Phật và hái lộc đầu năm, với những lời chúc tụng bên cạnh tách trà nóng thắm tình đạo vị, bỗng tôi bị cắt đứt dòng suy tưởng khi thấy xa xa phía trước xe có một bóng người đi ngược đường. Có một điều làm tôi chú ý là người ấy không đi đứng tự nhiên mà dường như là ngồi đi, khiến tôi nghi vấn không hiểu đây là người hay ma? Bởi vì suốt đoạn đường Tô Hiến Thành, từ ngã tư Lý Thường Kiệt đến ngã ba Nguyễn Tri Phương, không có ánh sáng đèn đường, mặc dù cột điện và bóng đèn đã có sẵn từ lâu. Tối nhất là khu đối diện doanh trại quân đội với Trường Ðại học Bách Khoa. Do vậy ánh sáng đèn xe qua lại chập chờn, khi sáng khi mờ nên không thấy rõ là người hay ma. Nhưng tôi tin chắc không thể có ma xuất hiện giữa đường phố như vậy. Ðây chỉ là người mà thôi. Tôi cố hướng ánh đèn xe của mình chiếu vào người ấy xem sao. Lúc này chiếc xe chỉ còn cách xa khoảng mười thước và tôi đã nhận ra đúng là người chứ không phải ma. Một người đàn ông đi bằng hai bàn tay của chính mình, vì hai chân đã bị cụt. Xe càng đến gần tôi càng nhận rõ gương mặt gầy xạm nắng của ông. Tuổi ông khoảng độ 50, mặc chiếc áo lính đã vá nhiều mảnh với chiếc quần đùi để lộ hai chân cụt ngủn phía trước, bên dưới mông có lót một miếng vỏ xe hơi. Trên vai ông đeo một chiếc túi đã cũ màu. Ông đi bằng cách chống hai tay xuống đất - dưới bàn tay có cột hai chiếc ghế con - rồi nhấc mình lên đằng trước. Cứ thế một thân một mình ông lê từng bước trên con đường đầy xe cộ qua lại, trước giờ phút vội vã của bao nhiêu người đang chuẩn bị đón mừng xuân mới. Tôi dừng xe bên cạnh ông, qua ánh đèn thấy mặt ông nhễ nhại những giọt mồ hôi. Tôi hỏi:

- Bác đi về đâu vậy?

Ngước nhìn tôi ông đáp:

- Tôi đi đến đầu đường Nguyễn Tri Phương.

Lúc ấy có chiếc xe xích lô chạy tới, tôi liền ngoắc lại. Mặc cả giá xong tôi trả tiền trước và nhờ anh xích lô đưa ông lên xe. Trong túi chỉ còn 2.000 đồng, tôi biếu ông luôn. Gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên với lời cám ơn rất chân thành. Tôi muốn hỏi thăm và an ủi về cuộc đời bất hạnh của ông, nhưng vì trời đã tối, đường về chùa còn xa nên tôi đành phải tạm biệt ông.

Suốt chặng đường còn lại tôi không thiết nghĩ gì khác ngoài số phận của người tàn phế này. Chắc chắn khi sinh ra ông cũng đầy đủ chân tay như bao người khác. Và không khi nào ông nghĩ là cuộc đời mình sẽ bị cảnh tàn phế như vậy. Thế rồi vì chiến tranh, hay vì một lý do nào đó đã cướp đi một phần thân thể yêu quý của ông. Theo tôi đoán trong các lý do trên thì chiến tranh là phần đúng. Vì dấu tích nơi thân thể ông là một bằng chứng rõ rệt. Ai cũng công nhận và lên án chiến tranh là thảm họa và đau thương. Không một ai muốn cảnh tương tàn tương sát xảy ra giữa con người với nhau. Vậy mà tại vùng Vịnh ngày nay người ta lại đang tiến hành một cuộc chiến tranh khốc liệt. Ai đã gây nên cảnh máu đổ thịt rơi như thế? Ông trời hay con người? Rõ ràng chúng ta không thể đổ lỗi cho ông trời mà phải nhìn nhận một cách thực tế rằng chiến tranh là do con người gây ra. Mà tham, sân, si là đầu mối của bao tai họa trên quả đất này. Khi nào tham, sân, si còn khống chế sai sử con người thì cuộc đời này sẽ không bao giờ có hòa bình vĩnh cửu.

Tiếng pháo đã vang rền khắp nơi. Năm cũ đang đi qua và năm mới sắp đến. Trong khi chúng ta hân hoan đón mừng Xuân mới thì đó đây trên quả địa cầu này chiến tranh vẫn tiếp tục gieo rắc đau thương và cướp đi một phần thân thể của biết bao con người. Chúng ta hãy chắp tay cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cho người người thương yêu nhau, cho tình thương xóa sạch hận thù. Ðể những mùa Xuân mới sẽ không còn thêm những người lê tấm thân tàn phế vì chiến tranh trên khắp nẻo đường quê hương đất nước.