| Hương Quê Cực Lạc |
|
|
|
| Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông | ||||||||||
| Viết bởi Thích Thiền Tâm | ||||||||||
Trang 1 của 5 Trong “Hương Quê Cực Lạc” đây tuy sự khuyến hóa không ngoài làm lành, niệm Phật, song đó lại chính là phương tiện khéo đưa mọi người đi sâu vào thật hạnh, âm thầm hoán cải từ người đến cảnh một cách mầu nhiệm. Vì đối với người thâm hiểu Phật pháp, thì toàn sự là lý, sự trì tức là lý trì. Trái lại, nếu chỉ chuộng lý thuyết không quan tâm đến thật hành, đó chỉ là lý thuyết suông, không đem lại kết quả. Trong kinh Hoa Nghiêm về phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, tất cả bậc pháp thân Đại sĩ ở 41 vị nơi Hoa Tạng thế giới hải, đều y theo lời khuyên của đức Phổ Hiền Bồ tát... Hương Quê Cực LạcHán soạn: Thích Như SầmViệt Dịch: Thích Thiền TâmCực Lạc Liên Hữu Xuất Bản, PL.2515Mục LụcLời Nói Đầu Tựa Hương Quê Cực Lạc Đề Vịnh Hương Quê Cực Lạc (Pháp sư Ấn Quang Giám Định) 1/ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 2/ Đạo sư A Di Đà Phật 3/ Quán Thế Âm Bồ tát 4/ Đại Thế Chí Bồ tát 5/ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát 6/ Phổ Hiền Bồ tát 7/ Mã Minh Bồ tát 8/ Long Thọ Bồ tát 9/ Thiên Thân Bồ tát 10/ Giác Minh Diệu Hạnh Bồ tát 11/ Huệ Viễn Đại sư 12/ Đàm Loan Đại sư 13/ Trí Giả Đại sư 14/ Đạo Xước Đại sư 15/ Thiện Đạo Đại sư 16/ Hoài Cảm Đại sư 17/ Vĩnh Minh Đại sư 18/ Tuân Thức Đại sư 19/ Từ Giác Đại sư 20/ Từ Chiếu Đại sư 21/ Hữu Nghiêm Đại sư 22/ Ưu Đàm Đại sư 23/ Thiên Như Đại sư 24/ Diệu Hiệp Đại sư 25/ Không Cốc Đại sư 26/ Tông Bổn Đại sư 27/ Tử Bá Đại sư 28/ Liên Trì Đại sư 29/ Hám Sơn Đại sư 30/ Ngẫu Ích Đại sư 31/ Triệu Lưu Đại sư 32/ Đạo Phái Đại sư 33/ Tĩnh Am Đại sư 34/ Triệt Ngộ Đại sư 35/ Ngộ Khai Đại sư 36/ Diệu Không Đại sư 37/ Ấn Quang Đại sư 38/ Hoằng Nhất Đại sư Vườn Thơ Tịnh Độ Lời Bạt Đài Gương Tịnh Hạnh Tự Tri Lục (Lời tự thuật của Vô Sanh nữ sĩ) Lời Nói ĐầuĐương thời giảm kiếp, trình độ đạo đức của nhân loại mỗi ngày một kém, trái lại tội ác mỗi ngày một thêm. Do sức nghiệp của đa số người chiêu cảm, nên khắp thế giới nổi lên những hiện tượng: động đất, bão, lụt, núi lửa, nắng hạn, thời tiết bất thường. So với mấy mươi năm về trước, những chuyện chém giết trộm cướp, dâm loàn, lường gạt giữa ngày nay, đã khiến cho người có lòng với thế đạo nhân tâm phải bàng hoàng lo sợ! Kinh Phật nói: "Tất cả sự khổ vui đều do tâm tạo". Vậy muốn cải thiện con người, tạo hoàn cảnh tốt, phải tìm sửa đổi từ chỗ phát nguyên. Ở đây, tôi muốn nói là mọi người phải dứt trừ tâm niệm xấu ác, ví như muốn được dòng nước trong, đừng để cho nguồn vẩn đục. Trong khi xem bộ Tư Quy Tập, tôi thấy nó có lợi ích cho sự hướng thiện, đường giải thoát của người đời, nên ngoài giờ niệm Phật, lần lượt phiên dịch thành ra quyển Hương Quê Cực Lạc này. Trong đây tuy sự khuyến hóa không ngoài làm lành, niệm Phật, song đó lại chính là phương tiện khéo đưa mọi người đi sâu vào thật hạnh, âm thầm hoán cải từ người đến cảnh một cách mầu nhiệm. Vì đối với người thâm hiểu Phật pháp, thì toàn sự là lý, sự trì tức là lý trì. Trái lại, nếu chỉ chuộng lý thuyết không quan tâm đến thật hành, đó chỉ là lý thuyết suông, không đem lại kết quả. Thuở xưa, có một vị sư đi thuyết pháp nơi nào cũng chỉ nói về quy y Tam bảo. Có người hỏi sao không giảng pháp chi khác. Sư đáp: "Thử nghĩ có pháp nào ngoài phạm vi Tam bảo không?" Ở nước ta, sự tu hành phổ thông của hàng Phật tử xuất gia và tại gia tóm lại cũng không ngoài: giữ quy giới, biết Nhân quả, làm lành, niệm Phật. Cho đến nhiều bậc học Phật uyên thâm, kết cuộc cũng đi về điểm ấy. Vậy một câu Niệm Phật, nếu chuyên, thiết tưởng không phải là thiếu. Xem quyển này, chư vị sẽ được lãnh thọ lời vàng của Phật Tổ, chỗ kinh nghiệm về tu trì của các bậc thiện tri thức, không khác nào có Thầy hay bạn tốt. Nếu thật hành y theo lời dạy trong đây, sẽ được ba điều lợi ích lớn: Nhờ sức Phật hộ trì, sức công đức của câu Niệm Phật, sức tâm niệm lành của mình, riêng hành nhơn sẽ được tiêu tội chướng, thêm phước huệ, giảm trừ những nguy hiểm tai nạn trong thời mạt kiếp. Cũng do ba năng lực trên, cảnh huống khổ đau chung của nhân loại có thể giảm bớt, nếu nhiều người biết ăn chay niệm Phật. Cho nên tuy tu Tây phương Tịnh độ, mà thật ra đồng thời đã tu nhơn gian Tịnh độ ở ngay cõi đời này. Chuyên niệm Phật, hành nhơn sẽ được sanh về Cực lạc, thoát hẳn ra nỗi khổ luân hồi, hưởng sự an vui vô cùng vô tận, lần lượt sẽ chứng đạo quả, độ chúng sanh. Vậy đây là phương pháp lợi mình lợi người một cách viên mãn chắc chắn. Quyển này, theo bản Hán văn, đã được tăng bổ, in ra nhiều lần. Cho nên phần tựa do Ngài Ấn Quang làm năm Dân Quốc thứ 28 (1938), mà đọan sau lại có thêm lời dạy, tiểu sử của Ngài (tịch năm 1940) và Hoằng Nhất Đại sư (tịch năm 1942). Vậy xin độc giả, thể hội, đừng lấy làm nghi. Dịch ra quyển này, tôi cảm vì cõi đời khổ nặng, chánh giáo suy vi, nghĩ mình tội chướng chi mà sanh nhằm mạt thế, duyên phước gì mà nghe được pháp âm, nên không nỡ thọ phần lợi ích riêng, tùy sức tùy phần tuyên dương đạo giải thoát ra để tỏ lòng báo đáp bốn ân, lợi vui đồng loại trong muôn một thế thôi. "Đã từng trôi nổi riêng thương khách Muốn nhủ đồng nhơn lại cố hương!" Xin mượn hai câu thơ trên để bày tỏ tâm sự tôi vậỵ Mùa an cư năm Canh Tý (1960) Dịch giả: Liên Du kính ghi TựaPháp môn Tịnh độ cao cả không cùng, rộng lớn như trời che đất chở. Đây là Pháp môn tổng trì của chư Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một đời giáo hóa của đức Thích Ca. Trên như bậc Đẳng giác Bồ tát, không thể vượt ra ngoài phạm vi của môn này: Dưới dù kẻ phạm tội nghịch ác cũng được dự phần tế độ. Tuy nhiên, bởi pháp môn cao siêu như thế mà phần nhiếp cơ lại quá phổ cập, dùng sức ít mà thu thập kết quả rất mau lẹ lớn lao, nên những vị thông hiểu đôi chút về tông, giáo, đều xem thường, cho là môn tu trì của kẻ ngu phu ngu phụ. Truy nguyên, cũng do các vị ấy chưa hiểu rõ các chỗ lớn, nhỏ, khó, dễ của Phật lực và Tự lực. Hai phương diện này, sự hơn kém thật không thể dùng lời nói, văn từ hình dung cho hết được. Vì sao? Bởi tất cả pháp môn khác đều nương theo sức giới, định, huệ, tu cho đến nghiệp sạch tình không, mới có thể thoát luân hồi sanh tử. Nhưng địa vị nghiệp sạch tình không đâu phải là dễ được? Trong hai phần hoặc nghiệp, dứt được Kiến hoặc khó cũng như ngăn chận dòng nước đổ bốn mươi dặm, huống nữa là Tư hoặc ư? Dù cho bậc tỏ ngộ cao siêu, nếu chưa dứt sạch phiền não, vẫn còn bị luân hồi. Và một khi đã thọ sanh thì kẻ thối thất trong một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ trong ức người khó được ba bốn. Thế thì tự lực không đủ ỷ lại, không chi vững vàng. Những kẻ khoe mình là trí, không chịu thuận theo lòng từ thệ nhiếp thọ của Như Lai, thử nghĩ có nên tụ phụ chăng? Riêng về môn Tịnh độ, nếu người có đủ tín nguyện chơn thiết, dùng lòng chí thành niệm Phật như con thơ nhớ mẹ và hằng ngày sự hành vi không trái với đạo đức, thì đến khi lâm chung, sẽ được nhờ Phật tiếp dẫn sanh về Tây phương. Dù người ấy nghiệp hoặc hãy còn, nhưng khi đã vãng sanh thì chỗ sở đắc cũng cao hơn bậc A la hán tình không nghiệp sạch, vì lẽ chủng tánh không đồng. Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc còn như thế, người đã hết nghiệp không đợi phải luận nhiều! Ấy bởi do Phật lực, Pháp lực và Tâm lực của chúng sanh, đều không thể nghĩ bàn: mà tâm lực lại nhờ năng lực của Phật và Pháp, được hiển hiện một cách vẹn toàn. Cho nên chỉ ỷ lại vào tự lực, sánh với nương nhờ Phật lực, thật kém xa nhau hằng hà sa số sự cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo lý của môn Tịnh độ này không thể đem luận chung với các pháp môn phổ thông khác, vì đây là pháp môn đặc biệt! Tôi thường có đôi liễn: “Pháp Môn Cao Cả, Lợi Khắp Ba Căn, Nhân Đây Chín Cõi Đồng Về, Mười Phương Khen Ngợi. Phật Nguyện Rộng Sâu, Không Từ Một Vật, Nên Được Ngàn Kinh Đều Chỉ, Muôn Luận Tuyên Bày.” Trong kinh Hoa Nghiêm về phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, tất cả bậc pháp thân Đại sĩ ở 41 vị (Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, thập địa, Đẳng giác) nơi Hoa Tạng thế giới hải, đều y theo lời khuyên của đức Phổ Hiền Bồ tát, dùng công đức mười đại nguyện vương cầu sanh Tây phương, để được viên mãn quả Phật. Các bậc Đại sĩ mà còn như thế, kẻ phàm phu đầy nghiệp lực, tự ỷ chút tài chí mọn, xem thường môn Tịnh độ, thử xét mình có hơn các bậc Bồ tát kia chăng? Hay là bởi mê loạn cầu cao, để rồi muốn siêu trở thành đọa lạc, muốn khéo hóa ra vụng về? Những kinh sách hoằng dương Tịnh độ xưa nay rất nhiều. Trong ấy, Đại sư Như Sầm tuyển ra những lời hay ý đẹp của Phật, Bồ tát, Tổ sư và ngôn luận của các bậc trí thức cận đại, chép thành quyển Hương Quê Cực lạc (nhan đề dịch thoát của hai chữ Tự Quy) này. Đại sư nhờ tôi làm lời tựa, tôi tự xét lúc trẻ tuổi không gắng sức, đến nay già kém, tài năng chỉ đem nghĩa lý mình đã tin hiểu trong 59 năm viết ra để lấp cho rồi trách nhiệm. Nhân tiện, dâng tỏ chút ngu thành, nguyện khắp đồng nhơn đều được sanh về Cực lạc. Chỗ thật tâm của thôi là thế, ngoài ra những bậc tài chí có bình luận chê cười, tôi chưa từng nghĩ đến. Theo đây, xin có mấy lời ca rằng: "Khắp khuyên đồng phát nguyện lành, nguyện cầu vãng sanh. Đất khách suối non hiểm nhiều, mặc ai luyến tình! Tự mình không muốn về thôi, quyết về tất được. Đường quê có ai tranh giành, gió mát trăng thanh!" Những khách nhớ quê, xin cùng chú ý! Đời Dân Quốc thứ 28, năm Kỷ Mão, tiết Đông Chí. Thích Ấn Quang cẩn soạn Hương Quê Cực Lạc Đề Vịnh1. Muôn luận ngàn kinh nghĩa rối phiền, HƯƠNG QUÊ một quyển để lưu truyền. Niềm vui thôn cũ đành rành nói, Dựng tấm bia vàng chỉ lộ nguyên. 2. Tuyển trong kinh luận những điều hay, Đề vịnh Tây phương động cảm hoài! Chớ nói có nhà về chẳng được, Lòng quê không tận tợ Tây Trai! 3. Trôi nổi lìa cha mấy hạ đông , Trời Tây gia nghiệp nguyện làm xong, Tay vàng mong tưởng ơn dìu dắt. Dám để Từ Tôn mỏi mắt trông. 4. Nghiệp sạch, tình không chuyện dễ gì? Pháp vương môn diệu chẳng tư nghì! Ngày nay biết được đường hương lý. Thẳng bước chừng trông thất bảo trì. 5. Khổ nhiều vui ít, cõi Ta bà, Muốn thoát trầm luân dễ được mà? Lãng tử về quê lòng rộn rã, Cha lành xem lại thật Di Đà. 6. Phật thương muôn loại thể thương con. Con bỏ cha trông những mỏi mòn! Chớ mãi xa đi mà lạc bước, Ao quỳnh công đức nước đương thơm. 7. Luân hồi muôn kiếp lại ngàn sanh, Sớm trữ tư lương Tín, Nguyện, Hành. Mười vạn ức đường nguyên chẳng cách, Chớ theo biên địa ở nghi thành! 8. Đường mê tuy lạc, chửa xa dài, Chóng trở về Tây một kiếp này, Ví được quê xưa cùng gặp mặt, Hương sen lẩn quất lối kim đài. 9. Bảy hàng cây báu ánh lòa lòa, Chín phẩm hương đài bốn sắc hoa. Nhiếp cả sáu căn thành tịnh niệm, Mới hay An dưỡng thật quê nhà. 10. Muôn trùng lầu các bóng linh lung! Mình với hoa quang lẫn một vùn Chim nước rừng cây đều thuyết pháp Không ngằn vui vẻ cảnh liên cung! Năm Dần quốc thứ 30, ngày rằm tháng giêng. Cư sĩ Hoàng Thơ Vân kính đề Hương Quê Cực Lạc (Pháp sư Ấn Quang Giám Định)Lời Phát Nguyện Kính lạy phương Tây, Phật, Pháp, Tăng Cúi xin xót thương thầm gia bị Khiến người tu tập theo trong đây Đều được vãng sanh chứng bất thối. Tư Quy Tử Thích Như Sầm kính tập 1/ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Thích Ca Mâu Ni là tiếng Phạn, dịch: Năng Nhân Tịch Mặc, Thích Ca là họ, Mâu Ni là tên; Phật có nghĩa là: đấng giác ngộ, Đức Bổn Sư khi xưa là Thái tử Tất Đạt Đa, ở xứ Trung Ấn Độ, nước Ca Tỳ La Vệ, cha là Vua Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da Hoàng hậu, Thái tử xuất gia lúc 19 tuổi, đến 30 tuổi thành đạo, thuyết pháp 50 năm trụ đời 80 tuổi. Đức Phật ra đời độ vô lượng chúng sanh, hiện nay đạo pháp của Ngài được khắp giới Á, Âu tôn trọng). Kinh Phật Thuyết A Di Đà nói: "Từ đây thẳng về phương Tây, trải qua mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực lạc. Cõi ấy có đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện nay đương thuyết pháp. Tại sao cõi kia gọi là Cực lạc? Vì chúng sanh ở cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên gọi là Cực lạc. Đức Phật ấy vì sao hiệu là A Di Đà? Bởi ánh sáng của đức Phật này không lường, soi khắp mười phương quốc độ, không chỗ nào chướng ngại, nên hiệu là A Di Đà. Lại nữa, đức Phật kia cùng với nhân dân của Ngài sống lâu đến không lường, không ngằn A tăng kỳ kiếp, nên gọi là A Di Đà. Chúng sanh, sanh về cõi Cực lạc, đều là bậc A bệ bạt trí, trong ấy hàng nhứt sanh bổ xứ rất nhiều, không thể dùng toán số tính biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên A tăng kỳ để nói mà thôi. Chúng sanh nào nghe kinh này, nên phát nguyện sanh về nước kia. Tại sao thế? Vì được cùng các bậc người thượng thiện ở chung một chỗ. Nếu có người thiện nam thiện nữ nào nghe nói đến Phật A Di Đà, giữ niệm danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày cho đến bảy ngày, một lòng không loạn, khi người ấy mạng chung, Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng hiện ở trước. Bấy giờ kẻ ấy lòng không điên đảo, liền được sanh về cõi Cực lạc. Chúng sanh các ngươi! Nên tin kinh "Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm" này. Kinh Đại Tập nói: Hành giả ngồi ngay thẳng, chuyên tâm tưởng đức Phật A Di Đà, tướng đẹp như thế, oai nghi như thế, đại chúng như thế, thuyết pháp như thế, tưởng niệm như vậy, tâm tâm nối nhau, thứ lớp không loạn, sẽ thấy được Đức Phật kia. Ví như trong đời có người nam hay nữ đi xa ở xứ khác, trong giấc mơ thấy nhà cửa của mình. Lúc bấy giờ thật ra người ấy chẳng biết là đêm hay ngày, là ngoài hay trong, tường vách núi đá không thể che ngăn, cho đến sự tối tăm mù mịt cũng không làm chướng ngại. Hành giả mỗi niệm cứ huân tu như thế, lâu ngày sự quán tưởng sẽ sáng suốt lanh lẹ, kết quả được thấy Phật A Di Đà. Kinh Thập Lục Quán nói: Muốn sanh về Cực lạc, phải tu ba thứ phước: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ Sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành. 2. Thọ trì tam quy, giữ trọn các giới, đừng phạm oai nghi. 3. Phát lòng Bồ đề, tin sâu lý Nhân quả, đọc tụng kinh Đại thừa, khuyến tấn người tu hành. Ba điều trên đây gọi là tịnh nghiệp. Kinh Bảo Tích nói: Bấy giờ Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng: "Bạch đức thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói những công đức lợi ích của Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc. Lại bảo: Nếu có chúng sanh nào phát mười thứ tâm, một lòng chuyên niệm hướng về Phật A Di Đà, khi người ấy mạng chung sẽ được sanh về thế giới của đức Phật kia. Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là phát mười thứ tâm, và do tâm này sanh về Cực lạc?" Phật bảo: "Này Di Lặc! Mười thứ tâm ấy không phải hạng người phàm phu, bất thiện có thể phát được. Những gì là mười tâm: 1. Đối với chúng sanh khởi lòng đại từ không làm tổn hại. 2. Đối với chúng sanh khởi lòng đại bi không làm bức não. 3. Với chánh pháp của Phật khởi lòng hộ trì không tiếc thân mạng. 4. Với tất cả pháp lành sanh lòng thắng nhẫn, không chấp trước. 5. Tâm an vui trong sạch, tôn trọng, không tham lợi dưỡng, sự cung kính. 6. Tâm cầu chủng trí của Phật, trong tất cả thời không xao lãng. 7. Đối với tất cả chúng sanh hằng tôn trọng cung kính, không khinh rẻ là hèn thấp. 8. Không say đắm theo thế luận, đối với phần Bồ đề sanh lòng quyết định. 9. Tâm thanh tịnh tu các căn lành, không hề tạp nhiễm. 10. Đối với các đức Như Lai, xả lìa các tướng, lòng tùy niệm. Di Lặc! Đó là mười thứ phát tâm của Bồ tát, do tâm nào sẽ được sanh về cõi Cực lạc của Phật A Di Đà. Di Lặc! Nếu có người nào trong mười tâm này, tùy ý thành tựu được một tâm, ưa thích muốn về Cực lạc, quyết không lẽ nào không được vãng sanh. 2/ Đạo sư A Di Đà Phật(A Di Đà là tiếng Phạn, dịch: Vô Lượng Thọ hoặc Vô Lượng Quang. Ngài là vị giáo chủ ở thế giới Cực lạc về phương Tây. Theo Kinh Cổ Âm Vương thì đời quá khứ có nước Diệu Hỷ, vị quốc vương là Kiều Thi Ca. Bấy giờ có Phật Thế Tự Tại Vương ra đời, Kiều Thi Ca xuất gia đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng. Lại Kinh Vô Lượng Thọ nói: "Pháp Tạng Tỳ kheo ở nơi Phật Thế Tự Tại Vương phát lòng Bồ đề, lại phát 48 lời nguyện, mỗi nguyện đều nói: "Nếu không được như thế, tôi thề không thành Phật". Những đại nguyện ấy đã thành tựu, và Ngài Pháp Tạng đã thành Phật tức là Đức A Di Đà ở thế giới Cực lạc hiện nay). Theo kinh Vô Lương Thọ, trong 48 đại nguyện của Đức A Di Đà, có mấy điều thiết yếu sau đây: Nguyện thứ 18: Khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương hết lòng tin ưa muốn sanh về nước tôi, xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, tôi thề không thành Chánh giác. Nguyện thứ 19: Khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương phát lòng Bồ đề, tu các công đức, chí tâm phát nguyện cầu sanh về nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi không cùng Thánh chúng hiện ở trước người ấy tiếp dẫn, tôi thề không thành Chánh giác. Nguyện thứ 21: Khi tôi thành Phật, hàng Nhân, Thiên trong nước tôi thảy đều đủ 32 tướng đại nhân, nếu chẳng được như thế, tôi thề không thành Chánh giác. Nguyện thứ 27: Khi tôi thành Phật, từ hàng Nhân, Thiên cho đến tất cả muôn vật trong nước tôi, hình sắc đều tốt đẹp, nghiêm sạch sáng rỡ, vi diệu cùng cực, không thể tính kể. Nếu những chúng sanh chứng được thiên nhãn mà có thể biện thuyết rõ ràng được sanh số, tôi thề không thành Chánh giác. Nguyện thứ 32: Khi tôi thành Phật, từ cõi đất lên đến hư không, những cung điện lầu quán, ao nước cây hoa, tất cả vạn vật đều do vô lượng tạp bảo, trăm ngàn thứ hương hoa hiệp tạo thành, nghiêm đẹp kỳ diệu, hơn các thiên cung. Mùi hương trong nước tôi lan tỏa khắp mười phương thế giới, các hàng Bồ tát tiếp xúc được hương ấy, đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không thành Chánh giác. Nguyện thứ 39: Khi tôi thành Phật, hàng Nhân, Thiên trong nước tôi đều hưởng sự an vui như bậc lậu tận Tỳ kheo. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không thành Chánh giác. 3/ Quán Thế Âm Bồ Tát(Theo Kinh Bi Hoa, về kiếp quá khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi đức A Di Đà còn làm Luân Vương, thì Bồ tát làm vị Thái tử thứ nhất của Ngài, hiệu là Bất Thuấn. Lúc Thái tử đối trước đức Bảo Tạng phát đại nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Quán Thế Âm. Hiện tại, Bồ tát ở cõi Cực lạc phụ giúp Phật A Di Đà mà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau, Bồ tát kế vị đức A Di Đà mà thành Phật, hiệu là Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai; thế giới Cực lạc đổi tên lại là Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu. Về phần nhân hạnh quả đức cùng sự ứng hóa của Bồ tát, trong kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, và Đại Bi có nói đến) Kinh Đại Bi Đà la ni nói: "Nếu chuyên xưng danh hiệu và cúng dường đức Bổn Sư ta là Phật A Di Đà, thì sẽ được vô lượng phước, tiêu trừ vô lượng tội, khi mạng chung lại được vãng sanh về cõi Cực lạc. Bấy giờ đức Như Lai đưa tay tiếp dẫn và xoa đầu kẻ ấy mà bảo rằng: "Người đừng sợ hãi, vì đã được sanh về nước ta". Kinh Quán Thế Âm Bồ tát Thọ Ký nói: "Kẻ nào phát lòng Vô thượng Bồ đề, nguyện sanh về Cực lạc, đều được thấy cõi ấy, lại thấy Phật A Di Đà cùng các hàng Bồ tát và Thanh văn. Người đó thấy như thế rồi, vui mừng khấp khởi, xướng lên rằng: "Nam Mô A Di Đà Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri!" Bấy giờ trong pháp hội có 84.000 chúng sanh đều phát lòng Bồ đề, nguyện trồng căn lành để được vãng sanh về Cực lạc. 4/ Đại Thế Chí Bồ Tát(Theo Kinh Bi Hoa, về kiếp quá khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi đức A Di Đà còn làm Luân Vương, thì Bồ tát làm vị Thái tử thứ hai của Ngài, hiệu là Ma Ni. Lúc Thái tử Ma Ni đối trước với đức Phật Bảo Tạng phát thệ nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Đắc Đại Thế, và thọ ký cho sau thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương. Hiện tại, Bồ tát ở cõi Cực lạc phụ giúp Phật A Di Đà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau Bồ tát thành Phật kế đức Quán Thế Âm, thế giới, thời kiếp và Phật sự cùng Phật Công Đức Sơn Vương đồng. Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ tát nói pháp Môn niệm Phật thật rất là tinh khiết, người tu tịnh nghiệp nên tuân theo). Kinh Lăng Nghiêm nói: "Tôi nhớ hằng hà sa kiếp về trước, có mười hai đức Như Lai nối nhau ra đời trong một kiếp, vị đầu tiên là Vô Lượng Quang, vị Phật rốt sau hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang. Đức Phật sau này dạy tôi pháp môn Niệm Phật Tam muội. Ví như có hai người, một kẻ chuyên nhớ, một kẻ chuyên quên, hai người ấy dù gặp nhau cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy. Nếu hai người đều nhớ nhau, sức nhớ tưởng càng sâu, thì từ đời này đến đời khác, hai kẻ ấy đồng như hình với bóng, không xa rời nhau được. Các đức Như Lai trong mười phương mẫn niệm chúng sanh cũng như mẹ nhớ con, nếu con cứ lẫn tránh, dù mẹ có nhớ cũng không biết làm sao! Trái lại, nếu con nhớ mẹ, cũng như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời chẳng cách xa nhau. Nếu tâm của chúng sanh hằng nhớ Phật, niệm Phật, thì đời này, đời sau, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng cần dùng phương tiện chi khác, tâm mình được khai ngộ. Như người nhuộm các thứ hương, thân kẻ ấy có mùi thơm đó gọi là hương quang trang nghiêm. Chỗ bản nhân của tôi là dùng tâm niệm Phật được chứng vào vô sanh nhẫn, nay ở cõi này nhiếp thọ người niệm Phật đem về Tịnh độ. Nay Phật hỏi về viên thông, tôi không lựa chọn, nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối luôn được Tam ma địa, đây là bậc nhất. 5/ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát(Văn Thù Sư Lợi có chỗ gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch là Diệu Đức hoặc Diệu Kiết Tường. Theo Kinh Bi Hoa, Bồ tát khi xưa là Thái tử Vương Chúng, con thứ ba của Luân Vương thời đức Phật Bảo Tạng. Khi Thái tử phát hoằng thệ ở trước Phật rồi, liền được đổi tên là Văn Thù Sư Lợi, và được thọ ký về sau thành Phật hiệu Phổ Hiện, ở thế giới Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chỉ về phương Nam. Lại kinh Văn Thù Bát Niết bàn nói: "Văn Thù Bồ tát thị hiện sanh ở nước Xá Vệ, làng Đa La, làm con của Phạm Đức Bà la môn, Bồ tát từ hông bên mặt của mẹ sanh ra, thân sắt tử kim, biết nói liền lúc ấy. Lớn lên theo Phật xuất gia.) Kinh Hoa Nghiêm nói: "Bấy giờ, ánh sáng chiếu qua ngàn thế giới, tất cả đức Văn Thù ở các cõi đều đồng thời đối trước Phật nói kệ rằng: "Trong tất cả oai nghi. Thường nhớ công đức Phật. Ngày đêm không xen hở. Nghiệp như thế nên tu". Kinh Quán Phật Tam Muội Hải nói: "Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ tát này bỏ túc nhân, tự nói đã chứng được Niệm Phật Tam muội, tất sanh về Tịnh độ, đức Thế Tôn thọ ký rằng: "Ông sẽ được sanh về cõi Cực lạc". Bồ tát liền đọc kệ phát nguyện: "Tôi nguyện lúc mạng chung. Trừ tất cả chướng ngại. Thấy Phật A Di Đà. Sanh về cõi Cực lạc. Khi đã về nơi ấy. Thành tựu các đại nguyện. A Di Đà Thế Tôn. Thọ ký cho thành Phật". Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục nói: "Đời Đường, Pháp Chiếu Đại sư nhờ đức Văn Thù dùng thần lực nhiếp vào Thánh cảnh ở non Ngũ Đài. Đại sư đảnh lễ Bồ tát và thưa thỉnh về yếu môn tu hành. Đức Văn Thù bảo: "Nay ngươi nên niệm Phật, chính là lúc hợp thời, bởi các môn tu hành không chi hơn niệm Phật. Siêng năng cúng dường Tam bảo, gồm tu phước huệ, hai điều này rất là cần yếu. Đời quá khứ ta nhân cúng dường, quán tưởng và niệm Phật mà được Nhứt thế chủng trí. Cho nên tất cả pháp, pháp Bát nhã Ba la mật, môn Thiền định rất sâu, cho đến chư Phật, đều từ nơi niệm Phật mà sanh. Thế nên biết niệm Phật là vua của các pháp". Ngài Pháp Chiếu hỏi: "Đệ tử phải niệm như thế nào?" Bồ tát bảo: Ở thế giới phương Tây có Phật A Di Đà. Nguyện lực của đức Phật ấy không thể nghĩ bàn, ngươi nên tưởng niệm chớ cho gián đoạn, khi mạng chung quyết định sẽ được vãng sanh không còn thối chuyển". Nói rồi, Bồ tát đưa cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: "Do ngươi niệm Phật, không bao lâu sẽ chứng quả Vô thượng Bồ đề". Đại sư được thọ ký rồi, vui mừng đảnh lễ lui ra. 6/ Phổ Hiền Bồ Tát(Theo kinh Bi Hoa, Bồ tát khi xưa là Thái tử Vẫn Đồ, con thứ tám của Vua Luân Vương, thời đức Phật Bảo Tạng. Sau Khi Thái tử đối trước Phật phát đại nguyện, liền được đổi tên là Phổ Hiền và được thọ ký về sau thành Phật hiệu là Trí Cang Hẩu Tự Tại Tướng Vương ở thế giới Tri Thủy Thiện Trụ Tịnh Công Đức nơi phương Bắc. Lại theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát đã là vị tả phụ của Phật Tỳ Lô Giá Na mà còn dùng mười đại nguyện vương khuyến dẫn hải chúng Bồ tát trong cõi Hoa Tạng đồng về Cực lạc. Chúng ta là kẻ hạ phàm há chẳng phát nguyện làm theo ư?) Kinh Hoa Nghiêm nói: "Khi Phổ Hiền Bồ tát khen ngợi công đức thù thắng của Như Lai rồi, liền bảo các Bồ tát và Ngài Thiện Tài rằng: "Nếu muốn thành tựu công đức ấy, phải tu mười điều hạnh nguyện rộng lớn. 1. Kính lễ chư Phật 2. Khen ngợi Như Lai 3. Rộng tu sự cúng dường 4. Sám hối nghiệp chướng 5. Tùy hỉ các công đức 6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân 7. Thỉnh Phật trụ ở đời 8. Thường theo Phật tu học 9. Hằng thuận các chúng sanh 10. Hồi hướng khắp tất cả. Nếu có người nào dùng lòng tin sâu, thọ trì đọc tụng đại nguyện này, cho đến biên chép bốn câu kệ, sẽ được mau tiêu trừ tội ngũ gián. Khi người ấy lâm chung, trong khoảng sát na rốt sau tất cả các căn thảy đề tan hoại, chỉ có đại nguyện này không rời bỏ nhau, liền được sanh về thế giới Cực lạc". Kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới nói: "Nếu có người vì cầu đạo Vô thượng Bồ đề, ở trong một việc chuyên tâm tu tập, tất sẽ được thành tựu. Ví như có người uống một bụm nước ở biển cả, tức là đã uống tất cả nước sông trong cõi Diêm Phù Đề. Nếu Bồ tát có thể tu tập môn Niệm Phật Bồ đề hải này, tức là đã tu tập tất cả Tam muội, các Nhẫn, các địa, các Đà la ni. 7/ Mã Minh Bồ Tát(Theo bộ Truyền đăng lục, khi Bồ tát sanh ra, cảm động đến bầy ngựa đều bi thương kêu la. Bồ tát lại khéo thuyết pháp, có thể khiến cho bầy ngựa nghe rồi rơi lệ kêu thương. Sau khi đức Thích Ca diệt độ 600 năm, 96 thứ ngoại đạo ở Tây Vực đều phục hưng, phá hủy Phật Pháp; Bồ tát bèn thị hiện sanh ở miền đông Ấn Độ, nước Tang Kỳ Đa, làm nhiều bộ luận hiển chánh phá tà. Trong bộ luận Khởi Tín, Bồ tát khuyên người niệm Phật, cầu sanh Tây phương. Khi lâm chung, Ngài vào phép Long Phấn Tấn Tam muội, đưa mình lên hư không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như mặt trời, kế đó lại trở về bản vị mà nhập Niết bàn. Luận Đại thừa Khởi Tín nói: "Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng về quả Bồ đề. Tu tập như thế không thôi nghỉ thì sẽ được khỏi các chướng, căn lành thêm lớn". Lại nói: "Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp hộ kẻ tín tâm. Ấy là dùng nhân duyên chuyên nhớ niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về Tịnh độ ở phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Như trong Tu Đa La nói: "Nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng về cõi kia, thì được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên không còn lo thối chuyển. 8/ Long Thọ Bồ Tát(Nhân vì Ngài sanh dưới cội cây có rồng ở, lại đắc đạo ở Long Cung, nên gọi là Long Thọ Bồ tát dòng Phạm Chí, người xứ Nam Thiên Trúc, rộng hiểu các môn học thế gian, mới xuất gia ba tháng đã thông suốt tam tạng. Bấy giờ Long Vương rước Ngài xuống Long Cung; trong chín tuần Ngài xem Long Tạng chưa đầy muôn một, liền ngộ vô sanh nhẫn. Khi trở về nhân gian, Bồ tát hoằng truyền Phật giáo, tạo ra bộ Bà Sa Luận, trong ấy có khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây phương. Sau Ngài vào Nguyệt Luân Định mà tịch. Trong kinh Lăng Già, đức Phật đã huyền ký: Sau xứ Nam Thiên Trúc. Có Long Thọ Tỳ kheo. Hay hiển nghĩa trung đạo. Chứng Sơ Hoan Hỷ địa. Sanh về cõi Cực lạc.) Luận Đại Trí Độ nói: "Niệm Phật Tam muội có thể trừ các thứ phiền não và tội đời trước. Lại nữa, niệm Phật Tam muội có phước đức lớn hay độ chúng sanh. Cho nên các Bồ tát muốn độ sanh, nếu tu các pháp Tam muội khác, tất không bằng môn Niệm Phật Tam muội, vì môn này có phước đức lớn, mau diệt các tội. Phật là pháp vương, Bồ tát là pháp tướng, chỗ Bồ tát tôn trọng duy có Phật, Thế Tôn. Bồ tát thường khéo tu nhân duyên niệm Phật, nên thường gặp chư Phật, như kinh Bát Chu có nói: "Bồ tát vào Tam muội này, liền hiện sanh về cõi Phật A Di Đà". Luận Bà Sa nói: "Đức A Di Đà có bản nguyện như thế này: "Nếu người xưng niệm danh hiệu và quy y nơi ta, kẻ ấy quyết được quả Vô thượng Bồ đề". Cho nên, phải thương nhớ niệm Phật. Lại dùng kệ khen ngợi Phật rằng: Trí huệ sáng vô lượng. Thân như tòa kim sơn. Con dùng thân, miệng ý, Chắp tay cúi đầu lạy. Chân Phật ngàn bức luân, Sắc hoa sen mềm dịu, Kẻ thấy đều vui mừng, Cúi đầu lễ chân Phật. Tướng bạch hào sáng đẹp, Trong sạch như trăng thu, Ánh tỏa khắp mặt vàng, Nên con cúi đầu lạy, Nếu người muốn thành Phật. Tâm niệm A Di Đà, Theo thời vì hiện thân, Cho nên con quy mạng. Người xưng niệm nơi Phật, Sức công đức không lường, Thì liền được vào định. Cho nên con thường niệm. Nếu người trồng căn lành, Nghi thì hoa không nở, Kẻ lòng tin trong sạch, Hoa nở liền thấy Phật Do nhân duyên phước này, Tất được đức thắng diệu, Nguyện các loài chúng sanh, Cũng đều được như vậy. 9/ Thiên Thân Bồ Tát (Bồ tát người xứ Thiên Trúc, khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu thừa, hủy báng kinh điển Đại thừa. Sau Ngài nhờ anh là Vô Trước nhiều phen chỉ dẫn, mới hối ngộ sự lỗi lầm, muốn tự cắt lưỡi. Vô Trước Bồ tát bảo: "Xưa em dùng lưỡi hủy báng Đại thừa, nay phải dùng lưỡi mà tán dương pháp ấy để chuộc tội. Việc sửa lỗi hãy còn chưa muộn, nếu cắt lưỡi đi, nào có ích gì?" Vâng lời anh, Ngài Thiên Thân từ đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 100 bộ luận Đại thừa. Trong ấy có luận Vãng Sanh, phát huy rõ ràng sự trang nghiêm lợi ích của cõi Tịnh độ. Người niệm Phật nên chú ý đến luận này.) Vô Lượng Thọ Kinh Luận nói: "Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết quả sẽ được vãng sanh về Cực lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là gì? - Lễ bái môn - Tán thán môn - Phát nguyện môn - Quán sát môn - Hồi hướng môn. Lễ bái là thế nào? Ấy là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ý cung kính, cầu Phật nhiếp thọ. Tán thán môn là thế nào? Đây là dùng miệng khen ngợi sắc thân, danh nghĩa, ánh sáng, trí huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được tương ưng. Phát Nguyện môn là thế nào? Ấy là một lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện sanh về Cực lạc. Quán sát là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang nghiêm của cõi Cực lạc, công đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và công đức trang nghiêm của chư Bồ tát, và Thánh chúng. Hồi hướng là thế nào? Ấy là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ não, nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng cầu cho tất cả loài hữu tình đều được sanh về Cực lạc.
|


