| Di Ðà Huyền Chỉ |
|
|
|
| Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông | ||||||
| Viết bởi Thích Kim Ðài | ||||||
Trang 1 của 4 Cổ Ðức nói: “Lúc tịnh công phu được mười phần thì lúc động chỉ còn một phần. Lúc động công phu được mười phần thì lúc ngủ quên nằm chiêm bao chỉ còn một phần. Lúc chiêm bao có được mười phần thì lúc lâm chung tứ đại phân rã các khổ bức thiết, chỉ còn một phần.” Do dó việc dụng tâm hiện nay phải thật là cấp bách khẩn thiết để lúc lâm chung còn được đôi phần. Dù là tu thiền hay tu tịnh, nếu trước giờ lâm chung không có được mười niệm hồng danh, thì không bảo đảm cho sự vãng sanh vậy. Tuy nhiên người tu Tịnh độ được lợi thế hơn nhiều, bời vì hằng ngày thường niệm Phật, thường phát nguyện sanh về cõi Phật A Di Ðà, nên lúc hấp hối nếu được bạn lành nhắc nhở lại mà niệm lên Phật hiệu thì người đang hấp hối kia cũng tự niệm theo mà ra đi. Vì thế, việc hộ niệm cho người đang hấp hối rất là cần thiết. Di Ðà Huyền ChỉThích Kim ÐàiNhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội. PL. 2545 – DL. 2001Mục LụcTựa Hoa Sen 1: Giới Thiệu Thiền Di Ðà Hoa Sen 2: Mật Chỉ Thiền Di Ðà Hoa Sen 3: Niệm Phật Thập Lực Hoa Sen 4: So Sánh Cõi Ta Bà Với Cõi Cực Lạc Hoa Sen 5: Tiện Lợi Hoa Sen 6: Ngoại Tâm Vô Pháp Hoa Sen 7: Vĩnh Minh Tứ Liệu Giản Hoa Sen 8: Di Ðà Sám Pháp Hoa Sen 9: Xưng Tán Di Ðà Hồi Hướng Công Ðức TựaA Di Ðà tất cả pháp Tất cả pháp A Di Ðà Chẳng quản trời cao đất thấp Búng tay, cõi nước bày ra! Kim Ðài Hoa sen 1: GIỚI THIỆU THIỀN DI ÐÀThiền Di Ðà là pháp môn tối thắng, là con đường tắt an ổn thứ nhứt đưa chúng sanh ra khỏi biển sanh tử, dưới không trái ý tổ sư, trên hợp bản hoài chư Phật, hiện đời tỏ ngộ tánh Di Ðà, thọ chung vãng sanh Cực lạc thế giới, cứu cánh thành tựu Vô thượng Bồ đề. Tăng hỏi Hòa thượng Triệu Châu: - Thập phương chư Phật có Thầy hay không? Triệu Châu đáp: - Có. Lại hỏi: - Thế nào là Thầy của chư Phật? Triệu Châu đáp: - A Di Ðà Phật! A Di Ðà Phật! Thập phương chư Phật có Thầy hay không xin gác lại, thử hỏi thế nào là Thầy của chư Phật, Triệu Châu đáp “A Di Ðà Phật! A Di Ðà Phật!”, yếu chỉ thế nào? Hãy đem bốn chữ A Di Ðà Phật này làm mạng sống của mình, trong tất cả các thời đừng để cho nó vuột mất, như người vượt biển bám chiếc phao nổi. Sẽ đến lúc như rắn nuốt cóc, muốn bỏ cũng chẳng được mà nuốt thì chẳng lọt. Trong giờ phút khẩn trương gây cấn cùng cực như thế, một tiếng sét xé màn trời, mười phương thế giới chấn động vang dội, rắn cũng bất khả đắc, cóc cũng bất khả đắc, bất khả đắc cũng bất khả đắc, rờ chạm lỗ mũi cha mẹ sanh, đập bể hư không rống tiếng rống sư tử: A Di Ðà Phật A Di Ðà Phật A Di Ðà Phật A Di Ðà Phật. Hoa sen 2: MẬT CHỈ THIỀN DI ÐÀ1. Ðường lối Thiền Di Ðà lấy vô sanh làm thể Vãng sanh làm tướng, độ sanh làm dụng Vì vô sanh mới đến tận bờ kia. Vì vãng sanh mới được Phật thọ ký. Vì độ sanh mới hợp với bản hoài. Kinh Hoa Nghiêm nói: “quên mất tâm Bồ Ðề mà tu các pháp lành, ấy là ma nghiệp”, do đó thiền Di Ðà lấy tịch quang làm tâm Bồ đề, tâm ấy chính là Amita (A Di Ðà). Kinh Pháp Hoa lấy thật tưởng làm tịch và tri kiến Phật làm chiếu. Kinh Hoa Nghiêm lấy Nhất chân pháp giới làm tịch và phổ quang minh trí làm chiếu. Thiền Di Ðà lấy Tịnh độ làm tịch, và thọ quang làm chiếu, không rời đạo tràng mà làm các Phật sự nên Thiền Di Ðà còn gọi là Thiền Tịch Quang. 2. Lược kệ. Ngay dụng liền Ly Ngay Ly liền dụng LY ấy tự quên Liền Tịch Quang dụng. 3. Khai thị Như một lữ khách xa quê, một hôm trở về lại ngôi nhà cũ Amita của chính mình thuở trước, gõ cửa gọi: - Amita? Bên trong không tiếng đáp. Lại gõ cửa gọi tiếp: - Amita? Vẫn không tiếng đáp. Người ấy bắt đầu gọi mãi và nóng lòng muốn khám phá những gì từ nhà mình. Nhưng gọi thì cứ gọi mà đáp vẫn không đáp. Chỗ không tiếng đáp này gọi là Ly. LY lớn ngộ lớn LY nhỏ ngộ nhỏ Không LY không ngộ. 4. Hiển lý Ngay khi khởi gọi Amita, hoàn toàn không thấy có mình gọi, cũng không có đối tượng để gọi, vô năng vô sở. Như tiếng trống trời khua lên giữa hư không thoát ly tứ cú, vô trú vô trước, nên nói: “ngay dụng liền LY” Dụng tâm như thế mà không có chỗ dụng. Dụng mà không dụng tức là LY, thì cứ ngay chỗ LY này mà dụng, LY chính là chiếc bè pháp để vào dòng qua biển sanh tử, mười phương chư Phật đều đã đi qua, nên nói: “ngay LY liền dụng”. Khi qua bờ bên kia rồi, thấy không cần thiết nữa, chiếc bè tự lui, nên nói: “LY ấy tự quên”. Nói thì dong dài nhưng đối với hàng lợi căn, chẳng cần cất bước liền vào tịch quang, nên nói. “Liền Tịch Quang dụng” Ðến đây rồi, mười phương hư không đều thâu về một lỗ chơn lông, đến đi vô ngại, nên liền tùy niệm sanh về cõi Cực lạc, cũng chỉ là sanh về nơi tự tâm, nên sanh ấy mà vô sanh, về ấy mà chưa từng về. Nếu có chỗ bề ngoài tâm có pháp, vì không chỗ về liền vào bất nhị, đích thân được Phật A Di Ðà thọ ký, thành tựu Vô thượng Bồ đề. 5. Hành sự Ðể khám phá Amita của chính mình cũng là hòa nhập với tâm thể của Phật A Di Ðà, hằng ngày trong tất cả các thời, khi ăn uống lúc ngồi nằm đều khởi gọi Amita rõ ràng trong sáng từ câu này đến câu khác. Như tiếng sấm giữa trời, phi chủ phi khách: - Amita? Như tiếng vang trong hang động, chẳng có chẳng không: - Amita? Hồn nhiên như chim hoàng anh hót trên bờ liễu: - Amita? Lặng lẽ như giọt mưa rớt bên thềm: - Amita? Niệm như thế gọi là vô tướng niệm Phật, niệm mà vô niệm, ngay niệm liền không, ngay không liền niệm, đương thiền là tịnh, đương tịnh là thiền. Chỉ có pháp thiền Di Ðà mới được như thế, huyền nhiệm như thế, thù diệu như thế, tức thể là dụng, tức dụng là thể, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, cứ như thế mà khởi gọi liên tục không gián đoạn, thì mỗi một niệm tiêu được tám mươi ức kiếp tội lớn nơi đường sanh tử, pháp môn này lìa thấy nghe tỏ biết, trả thấy về vô tướng, trả nghe về vô thanh, phản văn văn tự tánh. Ban đầu, sức trả nghe này rất là rời rạc. Ra sức gia công, nhẫn nại thực hành. Một ngày như thế, ngàn ngày như thế, đến chỗ thuần thục, vọng niệm không còn chỗ ló đầu, quét hết thấy nghe, lấp đường tỏ biết, như ngây như điếc, quên cảnh quên tâm. Như bị người dữ rượt, chỉ lo chạy thoát thân, đến chỗ cùng đường buông tay vực thẳm. Chết đi sống lại, ngồi đoạn mười phương, mười vạn ức trên đầu sợi lông. Vì thế quán kinh nói: “Cõi nước của Phật A Di Ðà cách đây không xa”. 6. Bày diệu quyết Mỗi lần khởi gọi Amita đều lưu ý dằn mạnh ở cuối câu. Sơ đồ dằn mạnh có thể biểu diễn như sau: - Khi chưa dằn mạnh: - Amita? - Khi đã dằn mạnh cuối câu: - AmiTa? Vừa khởi gọi vừa lắng nghe theo chữ “TA” nghe ngóng trong đó có tiếng đáp không? Thực hành miên mật, liên tục không ngừng như nước băng ghềnh, vừa gọi vừa nghe, vừa nghe vừa gọi – Nghe để dọ đường, gọi để bước tới. Nếu gọi mà không nghe, vọng tưởng thường quấy nhiễu, đường đi trở ngại. Nếu nghe mà không gọi, hồng danh đành thiếu sót, Cực lạc khó về. Ðương khi gọi có nghe, đương khi nghe có gọi, tất cả thinh sắc đồng thời tan rã, tất cả ngăn ngại liền được suốt thông, thật là vi diệu, thật là viên dung. Cứ chỗ không tiếng đáp này mà nghe tới mới đích thực là phản văn. 7. Mở kho báu Biết chọn nhĩ căn làm viên thông làm bước đầu tiên dùng kho báu trong nhà, bởi nhĩ căn không ngăn ngại như nhãn căn, không vọng động như ý căn, nên ở hội Lăng Nghiêm, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi chọn làm viên thông đệ nhất. Khởi gọi Amita là lấy động làm định, toàn định là động, toàn động là định. Ðược cái định ở trong động này rồi thì không còn cái động nào quấy nhiễu được nữa. Hành giả vẫn chuyên nhất khởi gọi Amita cho đến lúc không gọi mà tự gọi không đi mà tự đi, muốn dừng nghĩ cũng chẳng được, lúc này là quyền của công phu, không còn là quyền của hành giả nữa. Ðây là đến lúc tiêu dùng kho báu trong nhà, chẳng phải vay mượn bên ngoài, gọi là từ hông ngực lưu xuất. 8. Nêu tín nguyện Thiền Di Ðà lấy vãng sanh làm gốc vãng sanh lấy tín nguyện làm nhân. Nếu không có cái nhân tín nguyện, ắt không có cái quả vãng sanh. “Di Ðà Sám Pháp” ở hoa sen 8, hướng dẫn đầy đủ các thức nêu tín nguyện để thành tựu sự nghiệp vãng sanh. Rất mong các pháp hữu lưu ý cho. 9. Trùm căn cơ Thiền Di Ðà trùm khắp các căn cơ thượng trung hạ, lại dung nhiếp cả ba tông Mật, Tịnh, Thiền. - Mật: Thần chú Amita – tiêu tội chướng: A Di Ðà, chữ phạn là Amita, ở đây được giữ nguyên gốc để mỗi lần khởi gọi, tạo ra âm hưởng của một đại thần chú, uy lực mạnh mẽ vô cùng. Kinh nói, mỗi một lần khởi gọi Amita là tiêu được tám mươi ức kiếp tội lớn nơi đường sanh tử. Theo Mật giáo, Amita là chủng tử của năm vị Phật, gọi là Ngũ Trí Như Lai đó là: Tỳ Lô Giá Na Như Lai A Súc Bệ Như Lai. Bảo Sanh Như Lai. A Di Ðà Như Lai. Bất không thành tựu Như Lai. Người trì thần chú Amita, khi vãng sanh gặp Phật A Di Ðà rồi, liền được vô lượng nghìn muôn Đà ra ni lưu xuất, vượt hẳn các thần chú khác. - Tịnh: Phật hiệu Amita - được vãng sanh. Nguyện thứ 18 của Tỳ kheo Pháp Tạng, tiền thân của Phật A Di Ðà rằng: “Nếu chúng sanh nào Hết lòng khát khao Danh ta tín nhiệm Xưng đến mười niệm Cầu về nước ta Nếu không sanh qua Thệ không thành Phật”. Mỗi một lần khởi gọi Amita là một niệm. Do nguyện lực rộng lớn của Phật A Di Ðà cơ cảm, thì hoa sen sẽ ghi tên người đó và lớn dần nơi ao liên trì. Khi người ấy lâm chung, hoa sen sẽ bay về tận nơi tiếp rước. Nếu khởi gọi lơ là hoặc bỏ quên luôn thì hoa sen héo lần. Do đó, phải khởi gọi cho niệm niệm nối luôn thì đài sen của mình mới tươi tốt. Niệm trước Amita. Niệm sau Amita. Quét thông minh thấy biết Là trì danh Di Ðà. - Thiền: Thoại đầu Amita – Thành thượng phẩm Thiền Di Ðà quyết thành tựu thượng phẩm, do đó chuyên ròng khởi gọi Amita đến chỗ một niệm không sanh, vào thẳng cõi Phật. |


