Home Tông Phái Phật Giáo Tịnh Độ Tông Niệm Phật Sinh Tịnh Độ
29 | 08 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Niệm Phật Sinh Tịnh Độ PDF. In Email
Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông
Viết bởi Thích Chân Tính   
Chỉ mục bài viết
Niệm Phật Sinh Tịnh Độ
Tất cả các trang

Phương pháp tu hành trong ba kinh Tịnh độ đã giới thiệu cũng có khác biệt. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật chủ trương dùng 16 pháp môn quán tưởng, tu trì theo quán tưởng Tam muội và niệm Phật Tam muội để đạt thành mục đích vãng sinh ba bậc chín phẩm. Kinh Vô Lượng Thọ chủ trương tín ngưỡng 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, y nguyện tu hành, cho dù phàm phu còn hoặc nghiệp cũng nhất định được vãng sinh Phật quốc. Kinh A Di Đà chủ trương lấy tín nguyện hành, chấp trì danh hiệu Di Đà, cầu nguyện vãng sinh cõi Phật. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng yêu cầu phải trì giới, tu phước, phát tâm Bồ đề. Kinh A Di Đà thì yêu cầu phải trì danh đến chỗ nhất tâm bất loạn. Kinh Vô Lượng Thọ chủ trương nếu chỉ có thể tin vui không sinh tâm nghi, từ mười niệm cho đến một niệm, người cầu nguyện vãng sinh cũng được như nguyện.

Niệm Phật Sinh Tịnh Độ

Tác giả: Thích Thánh Nghiêm

Dịch giả: Thích Chân Tính

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội. PL. 2546 – DL.2002

Mục Lục

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm

Lời Người Dịch

Lời Tựa

I. Báo Ân Cha Mẹ Thân Quyến Nên Niệm Phật

II. Bốn Thứ Tâm Của Pháp Môn Niệm Phật

III. Bốn Loại Tịnh Độ Tùy Bạn Thích

IV. Siêu Độ Kẻ Còn Người Mất

V. Sám Hối Nghiệp Chướng Làm Hằng Khóa

VI. Đới Nghiệp, Tiêu Nghiệp Sinh Tịnh Độ

VII. Tịnh Độ Phương Tây Và Tịnh Độ Nhân Gian

Khai Thị 1: Phật Thất Thanh minh Báo Ân

Khai Thị 2: Phật Thất Thanh minh Báo Ân

VIII. Nguồn Gốc Của Phật Thất

IX. Phương Pháp Niệm Phật

Tiểu Sử Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm

Pháp sư Thánh Nghiêm sinh năm 1930 tại Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc. Năm 1943 Ngài xuất gia tu học tại chùa Quảng Giáo, núi Long Sơn, Nam Thông. Năm 1975, Ngài tốt nghiệp Tiến sĩ văn học tại Đại học Lập Chánh, Đông Kinh, Nhật Bản; và từ năm 1977 đến năm 1978 được bầu làm Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Hoa Kỳ kiêm trụ trì Đại Giác tự. Từ năm 1978 làm Trưởng Sở Nghiên cứu Học thuật viện Phật học Trung Hoa. Từ năm 1978 trở về sau, Ngài giảng dạy tại Đại học Văn hóa Trung Quốc, Đại học Hoa Cang và Đại học Đông Ngô. Năm 1980, Ngài khai sơn và sáng lập Trung tâm Thiền New York. Năm 1985, sáng lập Sở Nghiên Phật học Trung Hoa. Đương thời, Ngài cũng là người sáng lập Hội Phật giáo Pháp Cổ Sơn (Dharma Drum Mountain Buddhist Association) và trường Đại học Pháp Cổ Sơn tại Đài Loan. Ngài cũng là người có nhiệm vụ duy trì và phát huy dòng Thiền Tào Động và Lâm Tế.

Những tác phẩm tiêu biểu: Tỷ Giảo Tôn Giáo Học, Thiền Môn Tu Chứng Chỉ Yếu, Sinh Hoạt Thiền, Thế Giới Phật Giáo Thông Sử, Phật Giáo Chánh Tín, Phật Học Quần Nghi, Niêm Hoa Vi Tiếu, Thiền Và Ngộ… tổng cộng trên 42 loại và nhiều trước tác có giá trị khác.

Pháp sư Thánh Nghiêm hiện là bậc cao Tăng nổi tiếng của Phật giáo Đài Loan, tài đức kiêm toàn và rất được mọi giới quần chúng ngưỡng mộ tôn kính.

Lời Người Dịch

Phật pháp là phương thuốc hay chữa tâm bệnh cho chúng sinh, là pháp bất định. Chúng sinh có nhiều loại bệnh, Phật pháp phải có nhiều môn. Phương thuốc chủ yếu vẫn là giới, định, tuệ, tùy theo đó mà gia giảm cho phù hợp với căn bệnh, miễn sao cho người bệnh lành bệnh là được.

Phật pháp thì vô lượng, hiện nay giới Phật tử chúng ta chủ yếu tu tập theo ba pháp môn chính là Thiền, Tịnh và Mật. Các pháp môn này đã được Tăng Ni Phật tử thực nghiệm với quá trình khá lâu dài, đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp.

Một vị Thiền sư, Tịnh sư hay Mật sư nếu chỉ biết đề cao pháp môn mình tu và chê bai pháp môn khác thì đó là người thiếu trí, thiển cận. Bởi lẽ đã là người Phật tử chân chính thì không nên khen mình chê người, không nên chấp trước nhân ngã bỉ thử. Hậu quả của tâm đố kỵ ấy chỉ làm cho Phật pháp suy yếu mà thôi. Đúng như câu “Chỉ có vi trùng của sư tử ăn thịt sư tử”.

Pháp sư Thánh Nghiêm là bậc cao Tăng cận đại của Phật giáo Đài Loan. Ngài có sở học và sở tu rất thâm hậu, đã viết rất nhiều tác phẩm Phật giáo chủ yếu là thiền. Ngài đã từng mở nhiều khóa tu thiền tại Mỹ và Đài Loan. Thế nhưng Ngài cũng tổ chức các khóa tu Phật thất, khuyến khích Phật tử tu Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh. Đây quả là một bậc trí, biết khéo dùng phương tiện để độ chúng sinh. Cách hoằng pháp này xứng đáng là tấm gương để Phật tử chúng ta học tập.

Nhận thấy những lời khai thị niệm Phật của Ngài rất phù hợp với khóa tu Phật thất tại chùa Hoằng Pháp, nên chúng tôi dịch ra Việt văn để giúp cho Phật tử có thêm tài liệu tham khảo, hầu tăng trưởng niềm tin kiên cố, tinh tấn hành trì niệm Phật.

Trong bản dịch này có một đoạn văn Hán cổ do Đại đức Thích Nguyên Hiền phiên dịch. Xin chân thành tri ân Đại đức.

Ngày 10. 08. 2001

Lời Tựa

Tôi thường niệm Phật, cũng thường dạy người niệm Phật, khuyên người niệm Phật.

Hơn 30 năm trước, tôi từng được mời chủ trì Phật thất Di Đà tại chùa Đông Sơn, Thành phố Bình Đông, Nam bộ Đài Loan. Từ năm 1980 về sau, tôi ở Nông Thiền tự Bắc Đầu, Đài Bắc, mỗi năm chủ trì một lần Phật thất Thanh minh báo ân, và cũng tại Nông Thiền tự này thành lập hội niệm Phật Phước Huệ mỗi tuần cộng tu một lần. Cho nên tôi đã từng khai thị pháp môn niệm Phật cho đại chúng, tôi cũng đã từng đảm nhận các khóa giảng về Tịnh độ học nhiều năm tại Trung Hoa Phật học Nghiên cứu Sở, nhưng tôi chỉ viết một thiên “Khảo sát tư tưởng Tịnh độ” cho “Hoa Cương Phật học học báo” mà thôi, chứ chưa xuất bản tác phẩm giới thiệu về pháp môn niệm Phật.

Lý do, vì tôi ở nước ngoài nên bất kỳ là diễn giảng hay viết bài đều được người ta yêu cầu, phần nhiều là lấy phạm vi thiền làm chủ đề, chưa gặp cơ hội người ta yêu cầu khai thị pháp môn niệm Phật.

Mãi đến năm nay (1993) từ ngày 27.03 đến 04.04, trong thời gian Phật thất Thanh minh báo ân tại Nông Thiền tự, mỗi ngày tôi đều khai thị pháp môn niệm Phật sinh Tịnh độ, nói rõ Phật pháp xem trọng việc tri ân báo ân, mọi người nên đem tấm lòng cảm ân tiếp nhận cuộc sống hiện thực, lại đem tấm lòng báo ân phụng hiến tất cả chúng sinh. Làm thế nào mới có thể biểu đạt sự cảm ân và báo ân chính xác? Phải nên tu học pháp môn niệm Phật, vì pháp môn này chân tục toàn thâu, sự lý viên dung, thế xuất thế pháp, cho đến phước lợi hiện đời hoặc cảnh giới tốt đẹp ở thân sau đều bao dung trong đó cả.

Tu học pháp môn niệm Phật như thế nào, mỗi ngày tôi đều giới thiệu một hạng mục bao gồm bảy hạng mục:

1. Báo ân cha mẹ người thân nên niệm Phật.

2. Niệm Phật nên đầy đủ bốn thứ tâm: Tín tâm, chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm.

3. Tịnh độ có bốn loại: Nhân gian, thiên quốc, Phật quốc, tự tâm.

4. Siêu độ có hai loại: Đối với vong linh, đối với người sống.

5. Phải nên tu hành sám hối nghiệp chướng làm thường khóa mỗi ngày.

6. Mang nghiệp (đới nghiệp), tiêu nghiệp đều sinh Tịnh độ.

7. Vãng sinh Tịnh độ phương Tây, nên kiến thiết Tịnh độ nhân gian làm cơ sở.

Sau khi băng ghi âm của tôi lưu truyền, nhiều người nghe được rất hoan hỷ. Có một vài đệ tử nhiệt tâm, từ trong băng ghi âm viết lại thành văn tự, đưa tôi duyệt lại, tôi nhận rồi đem về Mỹ quốc. Cho đến ngày 22 tháng 11 tôi mới rảnh rỗi đem ra duyệt và phát hiện nội dung rỗng tuếch, cách hành văn cũng không giống tôi chút nào. Vì thế tôi phải tốn mất mười ngày để viết lại và sửa chữa bổ sung. Cũng nhờ nhân duyên này khiến tôi đọc kỹ lại ba kinh Tịnh độ, ôn lại những tác phẩm của các Đại sư Tịnh độ hơn 30 loại, hơn 70 cuốn.

Sau khi viết xong thấy ý vẫn chưa tận, cho nên thêm vào hai tiết “Nguồn gốc Phật thất” và “Phương pháp niệm Phật”. Văn chương hơn bốn vạn lời, ngoài giá trị thực dụng cũng rất giàu về giá trị tham khảo.

Đông Sơ Thiền tự tại Nữu Ước

Ngày 02 tháng 12 năm 1993

Thích Thánh Nghiêm