Home Tông Phái Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú
11 | 10 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú PDF. In Email
Tông Phái Phật Giáo - Thiền Tông Việt Nam
Viết bởi Thích Nhật Quang   
Chỉ mục bài viết
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú Ph.I
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú Ph.II
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú Ph.III
Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú Ph.IV
Tất cả các trang
Người xưa, trong tất cả cảnh, với tất cả thời, các Ngài đều áp dụng công phu tu hành đắc lực. Tùy thời các Ngài đều thụ dụng an ổn. Như: Giả gạo, ngắm hoa, hái rau, nấu cơm, nấu nước… Các Ngài rất bình thường. Thế ấy tại sao chúng ta lại không bình thường? Không tu được trong những việc bình thường như người xưa. Lý do chúng ta không tu được ở chỗ nào? Chúng ta phải tìm cho ra manh mối, xem tại làm sao chúng ta không tu được trong công việc bình thường. Phải chăng tại chúng ta chưa chịu buông, thật sự buông. Chúng ta chưa quyết liệt, đem toàn thân mạng của mình hạ thủ công phu tu hành.

Một khi chúng ta chịu buông và buông hết rồi thì, cuốc đất cũng tu, làm bất cứ công tác xã hội nào cũng tu. Đã vậy còn than van nỗi gì? Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú. Có thể là một quyển sách luôn luôn có trong tay nãi của kẻ sơ cơ đi hành cước.

Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú

Nguyên tác: Thiền Sư Tông Bổn

Thích Nhật Quang Chú Dịch

Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. PL. 2545 – DL. 2001

Vào Sách.

Hồi đầu Hạ năm này, có một hành giả đến than với tôi “con bị bận rộn công kia việc nọ quá nhiều, không tu hành gì được hết.” Nghe qua câu nói của người khách, tôi ôn tồn đóng góp như sau:

Thật ra trong đời sống này nói đến công việc thì không lúc nào dứt, cho nên chúng ta không thể nói nhiều hay ít được. Tùy mình liệu lấy, nhiều ít do mình. Vả lại tu cũng là một công việc. Công việc thường không mắc mớ gì đến công việc tu của chúng ta. Tu, việc cả hai hỗ trợ cho nhau, thì việc gì lại không tu được? Công việc nào làm bận rộn chúng ta? Và lúc nào chẳng phải là lúc chúng ta tu?

Hơn nữa cứ như người xưa, trong tất cả cảnh, với tất cả thời, các Ngài đều áp dụng công phu tu hành đắc lực. Tùy thời các Ngài đều thụ dụng an ổn. Như: Giả gạo, ngắm hoa, hái rau, nấu cơm, nấu nước… Các Ngài rất bình thường. Thế ấy tại sao chúng ta lại không bình thường? Không tu được trong những việc bình thường như người xưa. Lý do chúng ta không tu được ở chỗ nào? Chúng ta phải tìm cho ra manh mối, xem tại làm sao chúng ta không tu được trong công việc bình thường. Phải chăng tại chúng ta chưa chịu buông, thật sự buông. Chúng ta chưa quyết liệt, đem toàn thân mạng của mình hạ thủ công phu tu hành.

Một khi chúng ta chịu buông và buông hết rồi thì, cuốc đất cũng tu, làm bất cứ công tác xã hội nào cũng tu. Đã vậy còn than van nỗi gì?

Tuy nhiên, cũng không phải là giản dị. Người xưa tu được trong mọi hoàn cảnh là vì các Ngài nhìn thẳng và uy dũng tiến bước. Một khi nắm được đầu dây thì, phăng miết đến cùng, bao giờ đụng vỡ màng tang mới chịu thôi. Còn chúng ta thì trái lại, chẳng những không quyết liệt liều mạng mà còn liếc ngó hai bên. Tình trạng một nắng mười mưa còn tác động đầy trong sinh hoạt bình thường. Cho nên nói cho cùng là, đối với chúng ta hình ảnh cam phận tầm thường thất bại, bỏ cuộc hiện rõ trước mắt, cũng là một sự kiện dĩ nhiên. Để bổ sung cho những khuyết điểm vừa nêu, chúng ta phải làm sao đây?

Theo thiển ý của tôi hành giả muốn cho công phu tu hành của mình được đắc lực trong mọi hoàn cảnh thì không gì hơn “Ngang đây hãy coi như mình đã chết và, người chết rồi không bao giờ ngốc dậy lý sự gì nữa.” Kẻ ghi câu này với ý hướng khuyến gắng các bạn còn ngỡ ngàng trong Tông môn, cũng để tự răn mình, phải phấn đấu kỳ cùng, dù phải tan thân mất mạng.

Mùa an cư năm Quý Hợi này, nhân đọc qua cơ duyên vào Đạo và cuộc đời của tác giả Sơn Cư Bách Vịnh, tôi cảm thấy có chút gì phấn khởi trên bước đường “tìm về quê cũ.” Sau đó tôi có tham khảo một vài bản dịch trước, đem bổ khuyết những chỗ chưa được chu đáo và thêm lời chú dưới mỗi bài thi. Đồng thời phổ vào các cuộc tọa đàm với các điệu trong viện. Kết quả sau những cuộc tọa đàm đó, các điệu yêu cầu tôi tập thành lấy tên là: Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú. Có thể là một quyển sách luôn luôn có trong tay nãi của kẻ sơ cơ đi hành cước.

Bút giả rất trông mong sự đóng góp của các bậc cụ nhãn và hành giả các nơi, để tập “Sơn Cư Bách Vịnh Thiểm Chú” này được hoàn bị hơn.

Kính ghi,

Thiền Viện Thường Chiếu,

Mùa An Cư năm Quý Hợi 1983.

Thiên Nhai Cuồng Nhân.

BÀI 1:

Âm:

Sơn cư cổ cảnh cửu mai trần,

Kim nhật trùng ma khí tượng tân,

Ngân cấu tịnh trừ quang thủy hiện,

Phân minh diện kiến bổn lai nhân.

Nghĩa:

Ở núi gương xưa bấy lâu vùi,

Nay mới chùi lau dáng vẻ tươi,

Bợn nhớp sạch rồi gương lấp lánh,

Rõ ràng tạn mặt bấy nay người.

CHÚ:

Gương xưa tức là bản thể của tự mình, con người thật xưa nay, tức là tự tánh thanh tịnh tâm. Từ bản thể dấy niệm và lao theo, tức nhiên vô vàn đau khổ, sinh tử luân hồi bày hiện. Chính ngay bản thể một bề trong lặng, niệm dấy liền buông. Nơi đây mọi oan kết tức thời chìm lặng và, con người thật xưa nay trước mắt.

Chỉ khéo sống và sống an nhiên thôi!

BÀI 2

Âm:

Sơn cư lực học ngộ Thiền tông,

Nhật dụng tiên tu đạt khổ không,

Bất thức bổn lai chân diện mục,

Niêm hoa vi tiếu táng gia phong.

Nghĩa:

Ở núi dùi mài tỏ Thiền tông,

Vào cửa công phu rõ khổ không,

Chẳng biết xưa nay mày mặt thật,

Niêm hoa vi tiếu mất gia phong.

CHÚ:

Vào cửa trình nhau phải đầy đủ mặt mắt thật xưa nay của mình. Bước đầu công phu cố gắng gổ để thấu rõ giả chân, kế lại quyết liệt dọn mình, một nhảy vào thẳng thế giới uyên nguyên. Nói thế e rằng trái phạm chăng? Thôi hãy buông, một chữ buông thôi! Chớ chạy quàng xiên tìm kiếm vụn vặt bên ngoài. Định thần nhìn lại, gì là mặt mắt thật xưa nay của chính mình?

Khéo, khéo. Một nụ cười vô biên nở rộp…

Thử nói xem là gì?

BÀI 3

Âm:

Sơn cư u ẩn bạch vân thâm,

Học đạo tiên đương yếu thức tâm,

Đại tắc phóng chi chu pháp giới,

Quyển chi tắc thối bất dung châm.

Nghĩa:

Ở núi mây trắng phủ hang sâu,

Học đạo rõ tâm ấy bước đầu,

Lớn ắt buông ra trùm pháp giới,

Thu vào chẳng lọt mũi kim đâu.

CHÚ:

Rừng núi hang sâu với mây phủ muôn đời vẫn là quê hương, là hang ổ của đạo nhân vô tâm. Nhưng đấy cũng chỉ là một cách nói thôi. Còn có một yêu cầu khác có vẻ cấp thiết hơn nữa của người học đạo là phải “biết tâm.” Tâm ấy: “Diệu dụng như hằng sa, buông ra trùm khắp pháp giới, thu vào mũi kim không qua.” Thế thì tâm là gì?

- Phải biết rằng thiên đường, địa ngục cũng không ngoài nó mà ra.

- Lớn thay! Tinh mật thay!

BÀI 4

Âm:

Sơn cư học Đạo chỉ cầu tâm,

Hà tất khu khu hướng ngoại tầm,

Cử bộ tiện ưng đăng bảo sở,

Mạc tương hoàng diệp đáng chân kim.

Nghĩa:

Ở núi học Đạo chỉ tìm tâm,

Lựa phải khư khư mãi chạy rông,

Cất bước chính là lên bảo sở,

Chớ đem lá úa thế vàng ròng.

CHÚ:

Người học Đạo quan thiết chỉ cốt tìm tâm. Phải sống thật với tâm. Tâm là Bảo Sở, ngoài tâm không có gì khác có thể thay thế tâm. Do đó dù trải qua bao nhiêu gian lao nguy khốn, mục đích của hàng đạo nhân là sống thật với tâm mình, buông bỏ tất cả vọng tưởng lăng xăng bên ngoài. Việc làm đấy gọi là công phu, gọi là trở về. Ngoài việc làm đấy cũng chưa khỏi có chút dính dáng. Thử nhìn lại xem!

Là cái gì?

BÀI 5

Âm:

Sơn cư phản chiếu khán tâm điền,

Thối bộ nguyên lai thị thượng tiền,

Mật mật công phu vô gián đoạn,

Tất đương tham thấu Tổ sư Thiền.

Nghĩa:

Ở núi xoay lại xét tâm điền,

Thối bước ngờ đâu tiến bước liền,

Bám sát công phu không dứt đoạn,

Tất nhiên soi thấu Tổ sư Thiền.

CHÚ:

Người tu hằng xét tâm mình, bỏ quên tất cả. Tình huống này bên ngoài trông như thối hóa, nhưng với kẻ chân tu, ngay nơi thối hóa này tỉnh táo, chấn chỉnh công phu, không chút sơ hở, gọn gàng và sáng suốt tiến bước. Hãy bước từng bước một thật vững chắc. Đừng sợ mình ngu. Chỉ sợ mình không ngu được thôi.

Người xưa nói:

- Thầm thầm dụng công

Khéo khéo buông vọng tưởng.là vậy.

Nhìn gót chân mình mà đi!

BÀI 6

Âm:

Sơn cư tịch tịch dưỡng lương tri,

Duy tại đương nhơn tự bảo trì,

Tình niệm dịch lai vi đạo niệm,

Quả nhiên thành Phật dĩ đa thì.

Nghĩa:

Ở núi lẳng lặng dưỡng lương tri,

Cốt ở người tu tự bảo trì,

Tình niệm đổi ra thành đạo niệm,

Quả nhiên thành Phật khó khăn gì?

CHÚ:

Bước đầu dụng công, nên chọn chỗ tương đối yên tĩnh để dễ dàng điều dưỡng thân tâm, giữ gìn tánh giác của mình. Trong sinh hoạt hằng ngày, chỉ tỉnh táo siêu độ tất cả tình phàm lượng Thánh. Mảy may dấy khởi liền buông, dù ma hay Phật một lúc cũng đều siêu độ. Có như thế đất Phật thênh thang, tháng ngày tự tại, rong chơi thích thú. Khi này thử hỏi ta là gì? Thế ấy chưa bảo đảm được kế lâu dài.

Một tiếng quát! Cũng chưa phải.

BÀI 7

Âm:

Sơn cư xích sái tịnh vô ai,

Chung nhật như ngu dưỡng thánh thai,

Bổn phận sinh nhai thùy thức đắc,

Thế nhân hàm tiếu ngã si ngai.

Nghĩa:

Ở núi gột sạch lớp bụi dày,

Ngày lụng như ngu dưỡng thánh thai,

Bổn phận mình làm ai biết được,

Mặc cho cười mỉa tớ si ngây.

CHÚ:

Bổn phận của người tu là buông hết tình phàm thánh, siêu vượt mọi phan duyên, phấn chấn tinh thần, luôn luôn khắc tiến. Gương tráng sĩ chặt tay thuở nào trên Tung đỉnh đó là một đao kiên quyết đứt đoạn sợi dây sống chết, bước lên trời đất thênh thang mà đi. Người xưa bảo: “Muốn giăng bắt phượng hoàng lưới diệu, chớ noi theo chim chóc chí hèn. Đà buông câu kình ngạc lưỡi thần. Đừng sợ lụy ễnh ương phận nhỏ…”

BÀI 8

Âm:

Sơn cư mao ngỏa trúc vi duyên,

Thủ đạo an bần lạc tự nhiên,

Tận nhật bế quan vô biệt sự,

Trường thân lưỡng cước chẩm vân miên.

Nghĩa:

Ở núi tre lau kết nên am,

Giữ đạo an nhiên vui tháng ngày,

Cửa đóng thanh nhàn không việc khác,

Duỗi chân nằm ngủ gối thang mây.

CHÚ:

Người nhàn cảnh nhàn siêu thoát, người như cảnh như diệu huyền. Khi này sãi núi an nhiên, không còn vật dục sở hữu nào chung quanh quấy rối. Một thân nghèo vui với Đạo, cửa đóng không việc gì duỗi chân nằm ngủ yên. Ô hay! Phàm thánh đồng triền, nói chi diệu huyền với siêu thoát? Nhưng hang ổ này cũng chưa ổn, phải một phen nhào lộn, trời nghiêng đất lỡ mới có chỗ yên thân. Tuy vậy lầm! Lầm! Phải thức dậy, trông phương Nam tìm sao Bắc Đẩu.

Nhớ lấy hôm nay!

BÀI 9

Âm:

Sơn cư phong cảnh dị nhân gian,

Vân điểu phi hành tự vãng hoàn,

Vật ngã nhất như vong bỉ thử,

Sài môn tuy thiết vị thường quan.

Nghĩa:

Ở núi phong cảnh khác nhân gian,

Mây điểu bay đi biết vãng hoàn,

Ta vật như nhau quên khác loại,

Cửa ngoài tuy có chẳng từng quan.

CHÚ:

Ở núi phong cảnh thiên nhiên mây chim sinh hoạt. Vật ngã đều quên, bỉ thử vắng bóng. Cửa ngoài tuy có, chẳng đóng bao giờ. Đúng là nơi bặt dấu chim chồn, toàn thuần long tượng. Nơi đây người lặng, cảnh lặng cửa nẻo toàn không. Nói gì đóng với không đóng? Đi ngã nào? Lên thẳng! Trên đó có gì? Trời xanh! Nếu là tay hảo hán nên rống một tiếng “hư”, rồi mặc tình thong dong.

“Tháng ngày qua vô sự Tăng…”

BÀI 10

Âm:

Sơn cư tự cổ viễn hiêu trần,

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,

Phong nguyệt mãn hoài cùng khoái hoạt,

Cao ca nhất khúc họa dương xuân.

Nghĩa:

Ở núi từ lâu lánh xa trần,

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,

Trăng gió đầy lòng vui tột bực,

Nghêu ngao một khúc họa dương xuân.

CHÚ:

Đạo nhân vô tâm, ngày ngày vui sống, không bận mảy may. Rừng núi đậm đà hương giải thoát. Mây trắng sực nức vị thanh lương. Thôi thì chân thấp chân cao, mặc tình phóng khoáng.

Ấy đấy, một khúc nửa khúc nghêu ngao thỏa lòng…

Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang,

Chống gậy chơi rong chừ phương ngoại phương,

Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi,

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Chà! Chà!

BÀI 11

Âm:

Sơn cư lão nạp bá vô năng,

Cúng Phật thường nhiên nhất trản đăng,

Bất giả thiêm du quang xán lạn,

Thập phương thế giới tất viên minh.

Nghĩa:

Ở núi già cả vụng trăm đường,

Đèn tâm dâng cúng đấng pháp vương,

Đâu rảnh thêm dầu đèn vẫn sáng,

Làu làu tỏ rạng khắp mười phương.

CHÚ:

Sãi già ở núi trăm điều vụng quê. Ngày ngày chỉ biết khêu sáng ngọn đèn tâm của mình dâng lên cúng dường mười phương hiền thánh, lịch đại Tổ sư. Chính ngọn đèn tâm này là mạng mạch của Phật pháp, là chỗ chân truyền xưa nay. Do đó bậc thức giả trong Tông môn phải nên gánh vác việc này. Một việc này nếu chưa hoàn tất, mà chỉ Đông chỉ Tây chạy lăng xăng bên ngoài, đó chỉ là ta tự dối ta mà thôi, hoặc ta là kẻ đếm của báu cho người, cam phận nghèo thiếu suốt kiếp. Đáng thương thay!

BÀI 12

Âm:

Sơn cư nhật nhật thị lương triêu,

Lệ phạn sung trường thủy nhất biều,

Thùy thức lão Tăng cùng đáo để,

Đình tiền bá tử đáng hương thiêu.

Nghĩa:

Ở núi bửa bửa sống an thường,

Cơm hẩm no lòng nước thanh lương,

Ai biết Thầy già nghèo đáo để,

Trước sân cây bá thế lò hương.

CHÚ:

Với Thầy già ở núi, ngày nào cũng tốt, cũng sống an thường; cơm hẩm no lòng, nước suối tắm mát, sống đời giản dị. Mọi vật dụng là kho thiên nhiên trước mắt.

Tóm lại, quan niệm của người tu, sống thì tạm gởi với thiên nhiên, thác lấy trăng sao làm quan quách. Không bận lòng vì sự sống, không chạy theo cái giả bên ngoài. Chỉ một bề:

“Sáng tâm và an tâm”

Có chỉ cho nhau cũng không ngoài việc này.

Vừa nói gì?

BÀI 13

Âm:

Sơn cư khô đạm quả nhiên cùng,

Hân đảo Thiền sàng lại hạ công,

Thánh giải phàm tình câu bất lập,

Nhứt luân minh nguyệt chiếu hư không.

Nghĩa:

Ở núi khô lạt rõ ràng nghèo,

Xiêu ngã giường Thiền biếng sửa theo,

Ý thánh tình phàm đều ném hết,

Một vầng trăng sáng giữa trời treo.

CHÚ:

Trí tuệ như vầng trăng chiếu ngự giữa trời. Buông tất cả sống đời đạm bạc tiêu dao, không còn việc gì để quan tâm, chỉ chăm hẩm một việc như mèo rình chuột, khi đớp được chuột mới thôi. Lại lấy “Trí tuệ là sự nghiệp” là câu châm ngôn của người tu. Bao lâu Trí tuệ hiện tiền, chừng đó mới an nhiên giải thoát.

- Giải thoát cái gì?

- Rạng đông mặt trời lên, mọi tăm tối đều dứt bặt.

Thế thôi!

BÀI 14

Âm:

Sơn cư môn yểm trúc lâm u,

Vân tự phi hề thủy tự lưu,

Thủ kỷ an bần tùy phận ngộ,

Hữu nhân vấn ngã chỉ đê đầu.

Nghĩa:

Ở núi thay cửa ngàn trúc sâu,

Mây tự bay chừ nước tự xuôi,

Giữ nết yên nghèo tùy phận gặp,

Chợt ai hỏi đến chỉ nghiêng đầu.

CHÚ:

Ngàn trúc thay cửa, mây bay nước chảy tự muôn đời. Giữ nết yên nghèo, tùy phần an ổn. Vả như gặp người hỏi đến chỉ nghiêng đầu tạ lễ mà thôi.

Ấy thế, yên phận là một đức hạnh đáng quý và đấy cũng là một pháp tu, là cái then chốt của hạnh tri túc. Bao lâu còn chưa yên phận thì hạnh tri túc còn chưa thực hiện được, chỉ khi nào yên phận, chăm lo việc mình an ổn giữ đạo, mới thực hiện hoàn toàn pháp tri túc của Phật dạy.

BÀI 15

Âm:

Sơn cư xuất nhập phóng đầu đê,

Bất lý nhân gian thị dữ phi,

Thâu thập thân tâm quy cố lý,

Miễn giáo đới thủy hựu thi nê.

Nghĩa:

Ở núi lui tới khỏi chìu lòn,

Phải trái thói đời chẳng chen bon,

Lượm lặt thân tâm về chốn cũ,

Khỏi vương nước đục với bùn non.

CHÚ:

Phải với trái ta miễn bàn, bổn phận của ta là lúc nào cũng chăm lo thúc liễm thân tâm, gắng gổ hành trì đúng với lời Phật dạy. Dọn dẹp chông gai. Một bề thẳng lối về quê cũ. Gói ngém tư lương, dứt khoát tiến hành vào Phật địa. Được thế chúng ta mới hòng tránh khỏi cảnh bùn vương nước đọng. Vầng hồng vươn lên, vũ trụ thênh thang, dũng sĩ hiên ngang tiến bước.

Quày gót về Tổ vực đạo tràng

Vui khỏi bị Diêm đình tra tấn.

BÀI 16

Âm:

Sơn cư bốc trúc ẩn nham a,

Miễn đắc tùy lưu trục thế ba,

Tri túc an bần thường khoái lạc,

Mộc nhân tề xướng thái bình ca.

Nghĩa:

Ở núi hang đá gởi tuổi già,

Danh lợi thói đời thân tránh xa,

Biết đủ yên nghèo thường khoái lạc,

Người cây múa hát thái bình ca.

CHÚ:

Thân gởi hang đá, chẳng quản lợi danh, nghèo mà biết đủ, thường được yên vui. Khi này người gỗ ca khúc thái bình.

Trúc ốm tùng dài nhỏ giọt hương,

Gió trôi trăng mỏng đổ diêm lương,

Nguyên Tây chùa ấy chừ ai ở,

Hôm sớm chày kình đuổi tịch dương.

Một tiếng quát!

BÀI 17

Âm:

Sơn cư cảnh trí lạc thiên thành,

Kham thán diêm phù thế bất bình,

Nghịch thuận thị phi đa lợi hại,

Mạc như giam khẩu quá bình sinh.

Nghĩa:

Ở núi an nhiên cảnh đẹp xinh,

Ngao ngán diêm phù cõi bất bình,

Phải trái ôi thôi đầy lợi hại,

Tốt hơn ngậm miệng hết bình sinh.

CHÚ:

Núi non cảnh trí đẹp thiên nhiên, nơi đây dù giả tạm, nhưng không phải trái lụy phiền. Giữa cuộc đời đầy ngất thị phi oán hại, ta phấn đấu khắc phục mọi oan khiên. Từng bước chân thoảng nhẹ, ta sấn bước khôi phục lấy chủ quyền. Vững dạ kiên gan, tùy duyên giữ Đạo, ngậm miệng thối, giả làm ngơ, mới có chút phần tương ưng. Bước đầu là thế. Gắng lên!

Ô kìa!

Xót trông phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến bến mê.

Cái gì?

BÀI 18

Âm:

Sơn cư dưỡng chuyết độ dư niên,

Vinh nhục phân minh tại mục tiền,

Thật nãi thế tình triêu mộ cải,

Tất nhiên thương hải biến tang điền.

Nghĩa:

Ở núi giấu vụng sống năm tàn,

Vinh nhục kìa ta thấy rõ ràng,

Vốn thật tình đời chiều sáng đổi,

Tất nhiên sự thế biến thương tang.

CHÚ:

Thương hải tang điền, đổi thay trước mắt, lạ gì? Chừ ta dấu dẹp mọi khôn hay, bày ra những vụng dỡ quê mùa để sống cho hết năm tàn mà tiến tu đạo nghiệp.

Vinh với nhục mà chi. Vinh đỗ nhục đó, trò đời dâu bể có ra gì! Đã thế dấn thân vào chốn bụi hồng, đâu không là dại dột.

Tuy nhiên,

Trong lòng ví không xiêu không lệch,

Mặc tình nghe kẻ mắng người khi,

Châm lửa đốt trời thêm nhọc sức,

Đáy mắt đà buông rủ bóng Từ bi.

BÀI 19

Âm:

Sơn cư súc thủ đắc tiện nghi,

Tịch diệt thân tâm na cá tri,

Bất thị thâu an duy tỵ họa,

Danh cương lợi tỏa tận phao ly.

Nghĩa:

Ở núi rút cổ có tiện nghi,

Lòng mình lặng dứt ai biết gì,

Chẳng phải trộm yên mà lánh họa,

Dàm danh khoá lợi ấy mà chi.

CHÚ:

Ở núi có tiện nghi cho người dụng công tu hành là, thân tâm an tỉnh, tự tại, lắng dịu mọi triền phược trong lòng. Dù vậy, đó chưa phải là chỗ tiện nghi đắc lực cho người chân thiết dụng công. Có thể nói rằng bước đầu dụng công ta tạm mượn cảnh ấy để tránh bớt lụy phiền, bảo trì chí đạo. Nhưng rồi phải xông thẳng trong sào huyệt mà bắt giặc cướp mới được. Cũng chớ lầm nuôi giặc cướp công đức trong nhà!

Dè dặt lấy!