Mật Tông
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Viên Giác
|
|
Xưa, đức Như Lai là bậc tôn quý xuất thế trong đời, đem đạo pháp giáo hóa mọi người, xiển dương pháp Ðại thừa, dắt dẫn quần mê, mở bày ra muôn pháp. Phương pháp tuy nhiều, tùy lúc mà nói, nhưng mục đích vẫn chỉ làm thế nào để vào được biển viên mãn, cho nên chỗ trở về chỉ là Nhứt thừa (Phật thừa). Song, Hiển giáo Mật tông đều gồm thâu cả tánh tướng.
Ngài Hiển Mật Viên Thông pháp sư xem khắp giáo lý Ðại, Tiểu thừa, không ra ngoài hai đường: Hiển Mật, cũng cùng một mục đích là chứng Thánh vị, nhập vào được Diệu Đạo Chơn Như.
Xét nơi văn thể thời có khác, nhưng đó cũng chỉ là sự vuông tròn hơn kém của mâm bát, còn chỗ trở về nơi chánh lý thời đồng nhau. Như cái đồ để trong nhà đều gồm thâu cả không, hữu. Thế mà người học lại vọng sanh dị nghị, mờ mịt không biết chỗ thông dung. Nhơn đó thâu góp biên thành tập sách tâm yếu này, văn thành một quyển, lý tận vạn đường. Là hành giả mật tông nếu chưa đọc qua sách này thì thật là điều mất mát lớn cho hành giả ấy vậy. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Tuệ Sỹ
|
|
Trong các lễ cúng thí cô hồn, trai đàn chẩn tế được tổ chức
quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả
tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật giáo Đại thừa Mật tông được gói trọn vào
đây.
Về hình thức, trai đàn này dựa trên nền tảng của triết học
Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn-đà-la (maṇḍala).
Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn
này là căn bản vũ trụ luận của Mật giáo. Thông thường, có hai bộ mạn-đà-la. Kim
cang giới mạn-đà-la (vajradhātu-maṇḍala)
biểu tượng cho trí tuệ sở chứng của Phật. Thai tạng giới mạn-đà-la
(garbhadhātu-maṇḍala) biểu tượng cho
phương tiện độ sinh của Ngài.
Mỗi mạn-đà-la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Viên Đức
|
|
"Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà
tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội
ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh
ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời
thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn
thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại
gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ.
Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.
Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong
chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng
mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như
vậy.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Thiền Tâm
|
|
Bồ Tát thuyết chú Đại Bi xong, cõi đất 6 phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, 10 phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dững lông tóc, tất cả chúng hội đều được quả chứng. Hoặc có vị chứng quả tu đà hoàn, hoặc có vị chứng quả Tư đà hàm, hoặc có vị chứng quả A Nam hàm, có vị chứng quả A La Hán, hoặc có vị chứng quả sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa, ngũ địa cho đến thập địa, vô lượng chúng sanh phát lòng Bồ Đề. |
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Viên Giác
|
|
...Mật giáo được
truyền vào Tây Tạng thế kỷ VIII do Ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava), người Ấn
Độ, sống cùng thời với vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755 - 797). Ngài đến
Tây Tạng, đem Mật giáo truyền bá và sáng lập tông phái Ninh Mã (Nyingmapa), một
trong bốn phái lớn của Mật giáo Tây Tạng. Ngài được coi là Đức Phật Thích Ca
tái thế, có tài chinh phục ma quỷ, thiên tai và các giáo phái. Ngài xây dựng tu
viện Tang Duyên (Samye) năm 775 và trước tác nhiều tác phẩm quan trọng như bộ
Tử thư,... Ngài là Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng.
...Mật tông dựa
trên cơ sở ấy cho rằng vũ trụ thân là pháp thân và pháp thân biểu hiện trong
mọi hiện hữu, sở dĩ chúng ta không nhận thấy được vì tâm thức mê mờ, chúng ta
chỉ thấy thế giới là bất an và khổ đau vì thiếu trí tuệ Kim cương; trí tuệ Kim
cương có công năng là phá tan mọi chướng ngại pháp. Con đường trở về hợp nhất
với vũ trụ thân, nói cách khác, muốn đi vào quỹ đạo của pháp thân phải có những
tác pháp thiêng liêng, thể hiện sự gia trì giúp ta thể nhập một cách sâu xa và
phổ quát của pháp giới tính. Lý thuyết này có phần tương tự với lý thuyết Bất
tư nghì giải thoát trong Kinh Duy Ma Cật.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Phạm Công Thiện
|
|
...Chúng ta có thể
thực hành sự quan sát nội tại này bất cứ ở nơi nào, ở bất cứ mọi hoàn cảnh nào,
với bất cứ những gì ta đáng làm, bằng cách trực thức, tỉnh thức với từng tư
tưởng và từng cảm giác tiếp nối sau đó. Ta có thể cảm nhạy với cách thức hành
động của mình tác động thế nào đến tư tưởng mình, thân thể và giác quan mình.
Khi mình làm như thế thì mình lại mở lại được con đường thông thương giữa thân
xác và tâm thức mình, và đạt được một sự trực thức linh động hẳn lên về thực
tính bản chất mình, mình trở nên quen thuộc thân thiết lại với phẩm chất cao
quý của tính thể nội tại của mình. Thân xác và tâm thức mình bắt đầu hỗ trợ
nâng đỡ lẫn nhau và đem lại một tính chất tràn trề sinh khí cho mọi cố gắng nỗ
lực của mình. Chúng ta được bước vào một tiến trình học hỏi về bản thân một
cách sống động thân tình, và sự tự hiểu biết này tăng trưởng tinh khí thần vào
tất cả mọi hành động, hành vi của mình.
Khi mà chúng ta
quan sát bản chất nội tại của mình một cách ý tứ đàng hoàng thì ta sẽ thấy rõ
mình đã đè nén chận áp, đến độ nào, đã đóng khép bưng bít cảm giác và thực tính
bản chất mình đến độ nào. Từ đó mình mới có thể bắt đầu cởi mở ra nhưng cảm
giác này và giải phóng tinh khí thần mà chúng ta đã nén giữ lại trong ta. Với
tâm thức trầm lặng thanh bình và tư thái trung thực trực tính không lường gạt
dối trá, với việc chấp nhận bản chất thực sự của mình, mình trưởng thành lớn
mạnh trong niềm tin tưởng vào cuộc đời sẽ học được những phương cách mới mẻ và
tích cực hơn để nhìn thẳng vào bản tính mình.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Lục Thạch
|
|
...Do thực hành
Kim cương thừa, hành giả lợi căn có thể chứng ngộ trong hiện kiếp ngay cả ở
thời mạt pháp này, mà không cần phải tu tập trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp.
Hành giả thuộc loại bậc trung có thể chứng ngộ trong cõi trung giới sau khi sống
hết kiếp này. Còn hành giả căn cơ thấp có thể chứng ngộ sau mười sáu kiếp. Vì
những lý do đó, mà Kim cương thừa được coi là siêu diệu.
Ðể đạt giác ngộ
chỉ bằng Ba La Mật thừa, hành giả phải tích lũy công đức và trí huệ trong ba
đại a tăng kỳ kiếp. Nhưng cho dù tích lũy lâu dài đến như thế cũng không đủ để
chứng ngộ. Hành giả có thể đạt tới hàng thập địa Bồ tát bằng Ba La Mật thừa,
nhưng phải tu tập thêm Nghi quỹ Du già tối thượng để vượt qua những giai đoạn
cuối cùng đi tới giác ngộ viên mãn.
...Tất cả các Nghi
quỹ Du già tối thượng đều là những Nghi quỹ bất nhị, là đề tài chính của chúng
là sự hợp nhất phương tiện và trí huệ, tức đại lạc xuất hiện đồng thời với trí
huệ chứng ngộ tánh không. Nhưng “phương tiện” của Nghi quỹ bất nhị khác với
"phương tiện" của Nghi quỹ phương tiện, là thân giả ảo hay ảo thân.
Tương tự như vậy, "trí huệ" của Nghi quỹ bất nhị khác với "trí
huệ" của Nghi quỹ trí huệ. "Trí huệ" của Nghi quỹ bất nhị là trí
huệ chứng ngộ tánh không, còn trí huệ của Nghi quỹ trí huệ là trí huệ về Tịnh
quang.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Lục Thạch
|
|
Ở đây pháp đối trị nghiệp xấu là pháp thiền quán Vajrasattva và trì chú. Hành giả tác pháp này với Bồ đề tâm và có ý thức về sự vô ngã của chủ thể, đối tượng và hành động để đạt kết quả tốt nhất. Trong việc giải trừ nghiệp xấu, Bồ đề tâm vô cùng quan trọng và cũng là lực thứ nhất trong bốn lực đối trị. Bồ đề tâm có thể giải trừ đại ác nghiệp và đại chướng ngại trong tu tập. Bồ đề tâm giống như lửa cuối thời mạt pháp, như Ngài Tịch Thiên (Shantideva) nói trong Nhập Bồ Tát Hạnh Luận:
Giống như lửa cuối đại kiếp, Bồ đề tâm diệt mọi điều xấu, Lợi ích vô lượng của Bồ đề tâm, Ðã được Bồ Tát Di Lặc dạy cho Tu Đà Na.
...Không có lực thệ nguyện thì việc thanh lọc không trọn vẹn, vì vậy hành giả nên cố gắng tạo thói quen giữ tròn lời thệ nguyện hơn là phát nguyện quá nhiều nhưng không thể giữ vẹn. Cách tốt nhất nguyện bỏ điều xấu trong một ngày và thực hành tịnh hóa nghiệp xấu mỗi ngày. |
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Thiện Hoa
|
|
...Kinh chép:
"Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương", nghĩa là:
nếu ai ba nghiệp chướng thanh tịnh thì được về Tây phương đồng ở với Phật.
Trì chú có rất
nhiều lợi ích, như trì chú vãng sanh sẽ nhổ sạch hết gốc rễ của nghiệp chướng
và được sanh về Tịnh độ (bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản, đắc sanh Tịnh độ
Ðà la ni); trì chú Lăng nghiêm sẽ được tiêu trừ các oan gia nghiêp chướng và
tình ái dục nặng nề từ nhiều kiếp trước, như ông A Nan và bà Ma Ðăng Già (xin
quý vị xem quyển Ðại cương Lăng nghiêm về đoạn nói lợi ích trì chú Lăng
nghiêm); trì chú Phổ am sẽ tiêu trừ được phục thi cốt khí các yêu tinh quỷ quái
trong gia trạch; trì Ngũ bộ chú hay Ðại bi thập chú sẽ được phước huệ tăng
long, tùy tâm hành giả cầu như thế nào, sẽ được mãn nguyện như thế ấy.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Hằng Đạt
|
|
...Phái Ninh Mã
cũng được gọi là Cựu Phái hoặc Đại Cứu Cánh Phái. Đây là Tiền Truyền Mật thừa
vào thời đại sĩ Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), cộng thêm Hậu Truyền Mật thừa,
hợp nhất thành một danh xưng. Đây cũng là phái hỗn hợp cách tu trì của Mật Giáo
và Bổng giáo, nên Tăng sĩ xem nhẹ Giới luật và thường có vợ con. Phái này cho
rằng chỉ chuyên trì mật chú, dùng Vô Thượng Du Già làm pháp cứu cánh, thì tự
nhiên sẽ hiển hiện trí huệ thanh tịnh, khế hợp lý Không mà đạt giải thoát...
Người sáng lập ra
phái Ca Nhĩ Cư (hay Cát Cử, Bkah-brgyud-pa) là Mã Nhĩ Ba (1), đã từng sang Ấn
Độ ba lần, và cầu pháp dưới tòa của tôn giả A Để Sa, và cũng là đệ tử thọ Mật
thừa cuối cùng của ngài Na Lộ Ba (2), đắc được Mật thừa chân truyền từ ngài Kim
Cang Tát Đỏa, Sa La Ha, Long Thọ. Ngài Mã Nhĩ Ba cũng thọ pháp Đại Thủ Ấn từ
ngài Di Lặc Đế (Maitri)...
Tại Tây Tạng,
trừ phái Ca Đương chỉ chuyên sự giáo hóa, còn những phái khác thường cấu kết
với hào tộc, giao thiệp với chính trị, phát sanh sự lạm dụng thế lực. Phái Tát
Ca đã từng nắm chính quyền của Tây Tạng. Sự quan hệ giữa chính trị và phái Tát
Ca rất thâm sâu. Phái này lấy vợ con làm người kế thừa pháp tự. Con của người
khai sáng phái này là Cống Ca Ninh Bảo (Kunga Nyingpo, 1092-1158) học vấn rất
uyên thâm, và là vị đại thành tựu, được ban truyền tất cả Hiển giáo và Mật giáo
của ngài Long Mãnh (tức Long Thọ). Phái Tát Ca được phát triển và xiển dương
rộng rãi phần lớn nhờ công lao của vị này, nên tín đồ của phái này tôn xưng ông
ta là Tát Khâm (Sa chen), cũng là vị tổ thứ nhất của phái Tát Ca (Đa Sắc).
|
|
Đọc thêm...
|
|
Tông Phái Phật Giáo -
Mật Tông
|
|
Viết bởi Thích Nguyên Tạng
|
|
...Kalachakra là
một cách luyện Thiền định của Phật giáo và được liệt vào hàng cao nhất trong
cách luyện về Mật giáo Yoga. Theo lịch sử của Mật giáo, một năm sau khi Đức
thích Ca Mâu Ni thành đạo, Ngài được vua Da Wa Zang Po của vương quốc Shambhala
(một lãnh thổ được mô tả nằm cạnh sông Tarim thuộc trung tâm Á châu) thỉnh cầu
Ngài chỉ dạy bộ môn Mật tông Kalachakra...
Theo truyền
thống của Mật Tông Kalachakra đầu tiên được truyền liên tục qua bảy vị hoàng đế
của vương quốc Shambhala, rồi kế đến hai mươi lăm vị danh sư. Những vị danh sư
này được giao phó truyền bá rộng rãi cách luyện tập Mật Tông càng phổ biến càng
tốt. Đúng vào thời điểm mà vị danh sư thứ mười hai làm truyền nhân, thì Mật
Tông Kalachakra được truyền từ Shambhala sang Ấn Độ. Sự kiện này xảy ra nhờ sự
viếng thăm của hai thương gia người Ấn, sau khi họ đã học hỏi được, vội truyền
bá nó vào nước của họ. Về sau chính nhờ sự nỗ lực thành công của hai mươi lăm
vị thông dịch viên mà Pháp Môn Thiền Định Vô Thượng này đã được truyền bá từ Ấn
Độ sang Tây Tạng. Vào khoảng thế kỷ thứ VIII, thời đại của B’u-Ton, sự tu tập
đã trở nên thịnh hành một cách phổ biến tại nơi đây.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
|
|
|
|