| Bồ tát Giới |
|
|
|
| Tạng Luật - Chú Giải Luật Pali và Hán | |||||
| Viết bởi Thích Trí Quang | |||||
Trang 1 của 3
Bồ tát giới
Phạm võng phải được gọi là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng
sinh, là Phật tánh đầy phẩm chất Phật. Đại thừa giới xác nhận thân là thân
chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, nhưng thân ấy tâm ấy đều nhập cả vào giới
pháp Phật tánh: đều đem ra mà thọ và trì Đại thừa giới. Đại thừa giới căn cứ
quan điểm hiếu thuận: hiếu thuận với tất cả chính là giữ giới. Đại thừa giới
lại xác định là cái Phật đi, cái Phật làm, nên thọ giới ấy là nhập vào cương vị
của Phật.
Căn bản của Đại
thừa giới là gì? Một là tự tín mình sẽ là Phật, như Phật là Phật đã thành. Hai
là tôn thờ vị thầy gọi là pháp sư đại thừa (để được dạy cho Đại thừa giới,
truyền cho giới ấy, hướng dẫn, khuyến tiến và giám hộ sự giữ giới ấy).
Đại thừa giới
đã tạo ra bao nhiêu tập tục tốt đẹp: hiếu thuận, phóng sinh, nuôi bịnh, chữa
bịnh... Đại thừa giới đặc biệt nghiêm khắc răn dạy sự trung thành với Phật pháp tăng: cấm xu phụ quyền thế, cấm phỉ báng đồng đạo, cấm thuyết pháp hại đạo, cấm không cứu chuộc đồng đạo, cấm nạp tăng tịch cho chính quyền, cấm mặc cho đồng đạo bị chính quyền sai sử... Đại thừa giới lại cấm trở ngại sự xuất gia hành đạo, sự kiến thiết tự viện, sư tạo lập đạo tràng... Đặc biệt hơn nữa, Đại thừa giới cấm hại nước hại dân: làm gián điệp, nhất là gián điệp ngoại giao... Chỉ có thế mà thôi, Đại thừa giới cũng đã là 1 vị Hộ pháp. Bồ tát Giới
Thích Trí Quang dịch giải
Mục Lục
I. Phần I: Dịch
Giải
1. Tiết 1: Tài
Liệu Sử Dụng
2. Tiết 2: Các
Bản Bồ tát Giới
3. Tiết 3: Giải
Thích Đầu Đề
4. Tiết 4: Phẩm
10 Với Phẩm Pháp Môn Tâm Địa
5. Tiết 5: Thế
Giới Phạm võng
6. Tiết 6: Sự
Liên Hệ Của Phạm võng
7. Tiết 7: Giới
Hạn Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
8. Tiết 8: Đặc
Chất Của Bồ tát Giới Phạm võng
9. Tiết 9: Bồ
tát Giới Phạm võng Đối Với Người Tại Gia
B. Chương 2:
Dịch Giải Nghi Thức Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
1. Tiết 1: Qui
Kính Khuyến Khích
2. Tiết 2: Sách
Tiến Tu Tập
3. Tiết 3: Làm
Phương Tiện Trước
4. Tiết 4: Lời
Tựa Mở Đầu
5. Tiết 5: Chất
Vấn Thanh Tịnh
C. Chương 3:
Dịch Giải Chính Văn Bồ tát Giới Phạm võng
1. Tiết 1: Mở
Đầu Về Bồ tát Giới Phạm võng
2. Tiết 2: Nói
Về Giới Điều Bồ tát Giới Phạm võng
3. Tiết 3: Kết
Thúc Và Khuyến Cáo Thọ Trì Bồ tát Giới Phạm võng
II. Phần 2: Trì
Tụng
A. Chương 1:
Phụ Lục Nghi Thức Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
B. Chương 2:
Chính Văn Bồ tát Giới Phạm võng
1. Xuất Xứ Gián
Tiếp Của Bồ tát Giới Phạm võng
2. Xuất Xứ Trực
Tiếp Của Bồ tát Giới Phạm võng
3. Xuất Xứ Của
Bồ tát Giới Phạm võng Bằng Văn Chỉnh Cú
4. Qui Định Mấy
Điều Cốt Yếu Về Bồ tát Giới Phạm võng
5. 10 Giới Nặng
Của Bồ tát Giới Phạm võng
6. 48 Giới Nhẹ
Của Bồ tát Giới Phạm võng
7. Kết Thúc Về
Phần Bồ tát Giới Phần Giới Pháp Vô Tận
8. Kết Thúc
Toàn Bộ Phẩm Bồ tát Tâm Địa Giới Phẩm Pháp Môn Tâm Địa
9. Phụ Lục Kết
Thúc Bồ tát Giới Bằng Văn Chỉnh Cú
III. Phần 3:
Phụ Lục
A. Phụ Lục 1:
Danh Sách Bồ tát Giới Phạm võng
B. Phụ Lục 2:
Phân Loại Bồ tát Giới Phạm võng Đối Với Xuất Gia Tại Gia Ghi Sau Khi Duyệt Bồ tát Giới Phạm võng
Thành thực mà
nói, tôi chưa có được niềm tin rằng mỗi khi có thể bị tai nạn gì thì nên tụng
Bồ tát giới Phạm võng, nhưng có một điều rõ rệt là mỗi khi làm gì cho giới ấy
thì đang bịnh cũng thư thái thấy rõ. Từ trước đến nay đã có 5 lần như vậy.
Tôi tự ghi tiểu
truyện để sau Bồ tát giới Phạm võng là cố ý. Khi được bổn sư là ngài Phổ Minh
truyền cho giới ấy, thì từ đó đến nay thật sự tôi chưa có một nỗi xúc động nào
tương tự. Thế rồi gần 50 năm nay, tôi có gì đáng gọi là làm, là biểu diện của
cái nỗi xúc động ấy. Và lời ghi này chính là lòng biết ơn của tôi.
Bồ tát giới
Phạm võng phải được gọi là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng
sinh, là Phật tánh đầy phẩm chất Phật. Đại thừa giới xác nhận thân là thân
chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, nhưng thân ấy tâm ấy đều nhập cả vào giới
pháp Phật tánh: đều đem ra mà thọ và trì Đại thừa giới. Đại thừa giới căn cứ
quan điểm hiếu thuận: hiếu thuận với tất cả chính là giữ giới. Đại thừa giới
lại xác định là cái Phật đi, cái Phật làm, nên thọ giới ấy là nhập vào cương vị
của Phật.
Căn bản của Đại
thừa giới là gì? Một là tự tín mình sẽ là Phật, như Phật là Phật đã thành. Hai
là tôn thờ vị thầy gọi là pháp sư đại thừa (để được dạy cho Đại thừa giới,
truyền cho giới ấy, hướng dẫn, khuyến tiến và giám hộ sự giữ giới ấy).
Đại thừa giới
đã tạo ra bao nhiêu tập tục tốt đẹp: hiếu thuận, phóng sinh, nuôi bịnh, chữa
bịnh...
Đại thừa giới
đặc biệt nghiêm khắc răn dạy sự trung thành với Phật pháp tăng: cấm xu phụ
quyền thế, cấm phỉ báng đồng đạo, cấm thuyết pháp hại đạo, cấm không cứu chuộc
đồng đạo, cấm nạp tăng tịch cho chính quyền, cấm mặc cho đồng đạo bị chính
quyền sai sử... Đại thừa giới lại cấm trở ngại sự xuất gia hành đạo, sự kiến
thiết tự viện, sư tạo lập đạo tràng... Đặc biệt hơn nữa, Đại thừa giới cấm hại
nước hại dân: làm gián điệp, nhất là gián điệp ngoại giao... Chỉ có thế mà
thôi, Đại thừa giới cũng đã là 1 vị Hộ pháp.
Mười sáu tháng
tư, 2537
Trí Quang Lời Nói Đầu
Bồ tát giới
Phạm võng tôi đã dịch giải năm 2.505 (1961), do Giáo hội Tăng già Thừa thiên ấn
hành. Nay sửa chữa lại, cẩn trọng hơn nhiều lắm. Làm xong việc ấy rồi, tôi xin
ghi ở đây, ghi đầu tiên để thấy quan trọng, về 2 điều trong sự kính giữ Bồ tát
giới Phạm võng.
Một là khi gặp
nghịch cảnh thì nên nghĩ đến Phật, tưởng nhớ đến ngài. Điều này Pháp Hoa (phẩm
13) và Ưu bà tắc (Chính 24/1051) đều nói đến.
Hai là riêng
người tại gia còn phải học việc đời (nghề nghiệp) cho tinh thông rồi kiếm của
một cách hợp với Phật pháp. Ưu bà tắc dạy rõ như vậy (Chính 24/1048).
Rằm tháng 3,
2531 (1987)
Trí Quang Chương I: Dẫn Nhập
Tiết 1: Tài Liệu Sử Dụng
Năm 2505
(1961), tôi dịch giải Bồ tát giới Phạm võng chỉ có 6 tài liệu để sử dụng, và sử
dụng nhiều nhất là bản chú thích của ngài Hoằng Tán (Vạn 60/387 462). Nay thì
tài liệu khá nhiều, và tất cả đều nằm trong Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu
(ký hiệu là Chính) và Tục tạng kinh bản chữ Vạn (ký hiệu là Vạn). Về chính văn,
vẫn lấy Chính 24/1003 1010 làm căn bản; phụ vào là bản khắc in riêng của Phật
giáo Bắc, mang tên Bồ tát giới kinh, bản này nay được tụng theo nếu tụng nguyên
Hoa văn. Nhưng xin nói rõ rằng chính văn Bồ tát giới Phạm võng không phải chép
như nhau. Đối chiếu thấy các bản tương đối xưa và bảo đảm hơn thì chép như
nhau, trong đó có Chính 24/1003 1010, khác với các bản tương đối nay, trong đó
có bản Bồ tát giới kinh vừa nói. Sự lựa chọn tất nhiên nghiêng về các bản xưa
và bảo đảm hơn, nhưng không phải hoàn toàn theo các bản ấy, mà là chọn cách
chép nào xét có lý hơn. Rất may sự khác nhau không nhiều lắm, cũng không quan
trọng bao nhiêu, và tôi sẽ ghi rõ những chỗ cần thiết trong khi dịch giải. Còn
tài liệu tham khảo thì quan trọng nhất là toàn văn Phạm võng (Chính 24/997
1010) và kinh Anh lạc (Chính 24/1010 1023), kế đó là 19 bản chú thích về Phạm
võng: 17 bản nằm trong Vạn 59/192 đến Vạn 61/182; 1 bản nằm trong Vạn 95/1; 1
bản nằm trong Vạn 107/196, bản này là nghi thức sám hối về Bồ tát giới Phạm
võng; 1 bản nằm trong Chính 62/4 262, tác phẩm của Nhật, tổng hợp rất đáng khen
về các chú giải Bồ tát giới Phạm võng. Tài liệu tham khảo tuy nhiều như vậy,
nhưng khi sử dụng thì cố đơn giản càng nhiều càng tốt.
Tiết 2: Các Bản Bồ tát Giới
Bồ tát giới có
4 bản. Bản 1 là của kinh Phạm võng, do ngài La Thập dịch. Bản 2 và 3 đều của
luận Du Dà, nhưng do ngài Đàm Vô Sấm và ngài Huyền Trang dịch khác nhau. Bản 4
là của Ưu bà tắc giới kinh, cũng do ngài Đàm Vô Sấm dịch. Bản 1 phổ cập nhất.
Các bản 2 và 3 ít phổ cập nhưng khá đặc biệt và vẫn có người thọ trì. Bản 4
không phổ cập.
Tiết 3: Giải Thích Đầu Đề
Dịch chủ La
Thập chỉ dịch phẩm thứ 10 của kinh Phạm võng. Nay gọi là kinh Phạm võng chỉ là
phẩm ấy. Phẩm ấy có cái tên mà chép đầy đủ thì như sau: Phật thuyết Phạm võng
kinh, Lô Xá Na Phật thuyết Bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập: phẩm Tâm địa giới
Bồ tát của đức Lô Xá Na nói, phẩm thứ 10 của kinh Phạm võng do đức Thích Ca
tuyên thuyết.
Phạm võng là
tràng lưới của Đại phạn thiên vương. Tràng lưới ấy các mắt kết ngọc, khác nhau
mà ảnh hiện lẫn nhau, trùng trùng điệp điệp. Nhìn tràng lưới như vậy, Phật nói
mọi thế giới cũng vậy, các pháp môn cũng vậy, vô cùng vô tận. Thích Ca là đức
Phật bổn sư của chúng ta. Lô Xá Na nghĩa là chiếu soi khắp cả, danh hiệu của
bản thân đức Thích Ca. Tâm địa giới Bồ tát là 30 tâm, 10 địa và 58 giới của Bồ
tát tu tập thọ trì, và toàn là những pháp môn y như mắt lưới của tràng lưới Đại
phạn thiên vương. Nội dung phẩm Tâm địa giới Bồ tát ấy có 2 phần thành 2 cuốn:
cuốn trên là Bồ tát tâm địa (còn có tên là phẩm Pháp môn tâm địa) do đức Thích
Ca nói bằng cách đưa thính chúng đến đức Lô Xá Na, hỏi để đức Lô Xá Na nói;
cuốn dưới là Bồ tát giới (còn có tên là phần Giới pháp vô tận) do đức Thích Ca
tụng lại giới pháp mà đức Lô Xá Na đã tụng khi nói về Bồ tát tâm địa. Như vậy
là gián tiếp do đức Thích Ca tuyên thuyết cả.
Tiết 4: Phẩm 10 Với Phẩm Pháp Môn Tâm Địa
Trong chính
văn, tên gọi phẩm 10 là Pháp môn tâm địa. Pháp môn tâm địa là 40 pháp môn, tức
30 tâm và 10 địa (cuốn trên, Chính 24/998). Nhưng sau 30 tâm và 10 địa, phẩm
Pháp môn tâm địa còn có 10 giới nặng và 48 giới nhẹ, nghĩa là còn có phần Giới
pháp vô tận (cuốn dưới, Chính 24/1009), vì đó "là giới pháp duy nhất mà
đức bản thân Lô Xá Na của ta đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới
pháp mà từ khi mới phát tâm ngài vẫn thường tụng" (Chính 24/1003), là giới
pháp mà "nay ta cứ nửa tháng nửa tháng tụng lại... Các người, những vị Bồ
tát mới phát tâm cho đến những vị Bồ tát 10 phát thú 10 trưởng dưỡng 10 kim
cang và 10 địa, cũng phải tụng y như vậy" (Chính 24/1004).
Liên quan điều
này, rất nên nhìn sang kinh Anh lạc. Kinh ấy, sau khi nói về Bồ tát vị (Bồ tát
tâm địa) cũng nói về Bồ tát giới. Trong Bồ tát giới, mỗi giới pháp vô tận (giới
nặng) đều nói nếu phạm thì không còn là Bồ tát, mất hết 42 pháp hiền thánh (Bồ
tát vị) (Chính 24/1020). Như vậy có nghĩa minh bạch nói Bồ tát giới là căn bản
từ đầu đến cuối của Bồ tát vị. Điều này phụ cho Phạm võng khá nhiều: không
những chứng minh sau Bồ tát vị nói Bồ tát giới mà còn giải thích vì sao.
Tiết 5: Thế Giới Phạm võng
Thắng ứng thân
của Phật tên Lô Xá Na, hóa chủ Hoa tạng thế giới, tượng trưng bằng 1 hoa sen.
Hoa tạng thế giới ấy có 1000 đại thiên thế giới, như hoa sen có 1000 cánh; hóa
chủ 1000 đại thiên thế giới này là 1000 đức Thích Ca liệt thắng ứng thân, do
thắng ứng thân của Phật hóa ra. Mỗi đại thiên thế giới có trăm ức tiểu thế
giới, thành 1000 lần trăm ức tiểu thế giới; và hóa chủ là 1000 lần trăm ức đức
Thích Ca liệt ứng thân, do 1000 liệt thắng ứng thân của Phật hóa ra. Đức Thích
Ca bổn sư của chúng ta là 1 trong số 1000 lần trăm ức này. Và ức đây là ngàn
vạn, trăm ức là 1 tỷ: là số lượng của đại thiên thế giới. Kinh Phạm võng, trong
đó quan trọng và tổng kết là phẩm 10, phẩm Pháp môn tâm địa, được Phật nói với
Phật và Phật nói cho chúng sinh, khắp trong thế giới Phạm võng như vậy.
Điều nên nói
liền ở đây, là nói về thân Phật và cõi Phật như vậy, chỉ là nói thân và cõi của
đức Thích Ca, chưa phải đã nói tất cả thân và cõi của chư Phật. Ngay thân và
cõi của đức Thích Ca mà nói như vậy cũng chưa đủ: trên chưa thấu tự thọ dụng
thân độ, dưới chưa gồm Phật hiện thân từ Bồ tát đến địa ngục, lại càng chưa gồm
Phật hiện thân làm cảnh vật. Lại nữa, đây chỉ là nói thân và cõi Phật theo số
lượng. Mà Phật thì siêu việt số lượng. Ngay đức Thích Ca bổn sư và cõi Phật của
ngài mà thôi, ta thấy là liệt ứng thân, là tiểu thế giới nhỏ và bẩn, nhưng đối
với Bồ tát đại căn thì là thắng ứng thân độ (tha thọ dụng thân độ): thân là vi
trần tướng hải thân, độ là hoa tạng thế giới hải. Thế giới Phạm võng là như
vậy.
Tiết 6: Sự Liên Hệ Của Phạm võng
Liên hệ sát và
quan trọng nhất là với kinh Anh lạc, tài liệu mà tôi đã kê và đã nói đến phần
nào trong tiết 1. Kế đó, Phạm võng là đồng bộ với Hoa nghiêm (Vạn 60/300B). Sau
hết, bóng dáng kinh Phạn động (hay Phạm võng) của Trường a hàm cũng có đối với
kinh Phạm võng ở đây. Chỉ khác là ở kia nói giới không bằng tuệ, khen Phật qua
giới pháp không bằng hiểu Phật qua tuệ giác siêu việt 62 kiến chấp; ở đây trái
lại, nói thật tướng bát nhã là căn bản của giới pháp và do giới pháp thể hiện.
Nhưng sự liên hệ này chỉ do tôi đề cập. Một sự liên hệ khác cũng do tôi nghĩ,
ấy là giới pháp Phạm võng rất gần với giới pháp Tỳ kheo; riêng sự ái hộ Tam bảo
và Tăng bảo ái hộ lẫn nhau thì giới pháp Phạm võng nói rõ ràng, thực tế và
thiết tha hơn. Do vậy mà giới pháp Phạm võng đặc biệt răn sự phản bội Phật
pháp, chạy theo bạo quyền mà hại đạo và đồng đạo.
Tiết 7: Giới Hạn Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
Bồ tát giới
Phạm võng xưa chỉ bắt đầu từ văn chỉnh cú. Còn kết thúc thì có bản chỉ đến cây
hỷ dược thọ trì (hoan hỷ và phấn chấn mà thọ trì), có bản hết trọn cuốn dưới.
Có người phân khoa giải thích Phạm võng, mở đầu phần Bồ tát giới từ câu Nhĩ
thời Thích Ca Mâu Ni Phật tùng sơ hiện Liên hoa đài tạng thế giới (Bấy giờ đức
Thích Ca Mâu Ni từ Hoa tạng thế giới mà khởi đầu ngài đã hiện ra ở đó). Lấy
trọn từ đầu đến cuối cuốn dưới thì chỉ có một ít nhà chú thích Phạm võng và Bồ
tát giới kinh được tụng hiện nay. Nay bản dịch này cũng làm như vậy. Dẫu rằng
xét ra lấy từ văn chỉnh cú và kết thúc ở câu hỷ dược thọ trì thì gọn và xác
hơn.
Đó là nói về
chính văn. Còn nghi thức mở đầu tụng Bồ tát giới thì cũng chỉ Bồ tát giới kinh
sau này mới có. Ngài Hoằng tán có chú thích nghi thức ấy (Vạn 60/457 461),
nhưng cũng nói không biết do ai soạn, chỉ "xét tìm thì thấy phần nhiều
trích ra từ Bồ tát giới bản kinh (của luận Du dà, do ngài Đàm Vô Sấm dịch) và
giới bản của Hữu bộ". Nói tổng quát, nghi thức mở đầu ấy biến thể nghi
thức tụng giới Tỳ kheo, nên biến thể thế nào cũng có bất ổn. Nhưng mở đầu Bồ
tát giới Phạm võng thì không có lời lẽ mở đầu nào quan trọng và đặc biệt cho
bằng trong chính văn đã tự có. Do đó, thiết nghĩ nghi thức mở đầu dùng cũng
được, không cũng không thiếu sót gì, lại tránh được những sự miễn cưỡng và bất
ổn. Trường hợp không dùng nghi thức mở đầu thì tụng bài kệ khai kinh rồi đi
ngay vào chính văn là được.
Tiết 8: Đặc Chất Của Bồ tát Giới Phạm võng
Ở đây tôi bỏ
hết mọi sự đặc biệt của Bồ tát giới Phạm võng mà tôi đã nói đến trong bản in
năm 2505, chỉ nói lại 1 chi tiết mà thôi. Ấy là tính chất ái hộ Tam bảo, trong
đó có sự ái hộ lẫn nhau của Tăng bảo. Ái hộ trước bạo lực và quyền lực đã đành,
lại còn ái hộ trong đời sống và trong quyền lợi, nhất là ái hộ trong sự đối xử,
ái hộ bằng cách không phản bội Phật pháp, chạy theo bạo quyền mà hại đạo và
đồng đạo, thì Bồ tát giới Phạm võng đã biến mọi lời khuyên thành những điều
luật, nhưng là điều luật đầy đạo tình và chính hướng giải thoát. Chỉ có đặc
chất này mới giữ được đạo tình trong Tăng bảo, nhất là trong những lúc đạo tình
ấy bạo lực và quyền lực không muốn có. Cảm khái nhất khi tụng Bồ tát giới Phạm
võng là điều này đây.
Tiết 9: Bồ tát Giới Phạm võng Đối Với Người Tại Gia
Trong tiết 6 đã
nói Bồ tát giới Phạm võng rất gần Tỳ kheo giới, vậy tại sao cho người tại gia
thọ trì, mà lại cho khá rộng rãi như đã nói trong chính văn qui định điều kiện
lãnh thọ? Vấn đề chưa thấy ở đâu nêu lên và giải thích. Nay xét thẳng chính văn
thì thấy Bồ tát giới Phạm võng tuy phần nhiều nói cho xuất gia, nhưng có những
giới nói chung cho cả tại gia xuất gia, có những giới nói chung mà tại gia
nhiều hơn, có những giới chỉ nói cho tại gia (như giới 1 và giới 47 trong 48
giới nhẹ). Chính ở 2 giới nói cho tại gia này, cùng tất cả giới khác riêng cho
xuất gia hay chung cho cả xuất gia tại gia, đều biểu thị rõ rệt sự duy trì Phật
pháp. Giả sử chỉ có người xuất gia thọ trì Bồ tát giới Phạm võng để thực hiện
sự duy trì ấy, còn người tại gia không thọ trì Bồ tát giới Phạm võng, nghĩa là
không duy trì Phật pháp, thì sự xuất gia đã bị họ chướng ngại rồi, còn đâu để
thực hiện được sự duy trì ấy! Nên, chính trong sự duy trì Phật pháp mà không
những thấy người tại gia phải thọ trì Bồ tát giới Phạm võng, lại còn ngạc nhiên
thấy sao Phật biết trước đến như vậy. Chương 2: Dịch Giải Nghi Thức Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
Trước khi tụng,
vị tụng giới lạy và quì mà thưa: Con là Tỳ kheo XX, kính bạch Đại đức tăng, Đại
đức tăng bảo con tụng giới, nhưng con e có sự lầm lẫn trong khi tụng, vậy kính
xin Đại đức tăng từ bi chỉ bảo cho con.
Đây là lời tác
bạch trước khi đi vào nghi thức, và là lời của vị Tăng sai tụng giới. Nếu tụng
giới là vị thượng tọa trong buổi bố tát thì không cần tác bạch lời này. Điều
kiện của sự tụng giới là tụng rõ ràng, và tụng ở đây là đọc một cách trang
trọng, chứ không phải tụng như tụng kinh. Tụng rõ ràng là âm thanh rõ ràng, âm
điệu đúng với mạch lạc giới văn.
Nghi thức tụng
Bồ tát giới có 5 tiết.
Tiết 1: Qui Kính Khuyến Khích
Chúng Bồ tát
giới lắng nghe!
Qui y kính lạy
đức Lô Xá Na,
và Kim cang
Phật
khắp cả mười
phương;
lại lạy phân
thân
đức Lô Xá Na
là ngàn trăm ức
các đức Thích
Ca.
Nay tôi kính
tụng
về Bồ tát giới
mà đại cương là
ba loại tịnh
giới;
chúng Bồ tát
giới
hãy cùng lắng
nghe!
Giới như ngọn đèn
đã sáng lại
lớn,
có thể xua tan
bóng tối đêm
dài;
giới như đài
gương
trong sáng quí
báu,
hiện rõ các
pháp
đủ cả không
sót;
giới lại y như
ngọc báu ma ni,
tuôn ra của cải
giúp kẻ khốn
cùng.
Siêu thoát thế
gian,
chóng thành
Phật đà,
làm được như
vậy
giới này hơn
cả!
Vì lý do ấy
chúng Bồ tát
giới
cần phải nỗ lực
kính cẩn mà
giữ!
Đoạn chỉnh cú
này lấy của Bồ tát giới Du dà, do ngài Đàm Vô Sấm dịch, nội dung kính Phật kính
Giới và khuyến khích kiên trì. Kim cang Phật là các vị sau kim cang đạo thì phá
dị thục thức, chứng bất hoại tánh, tức các vị viên mãn báo thân như đức Lô Xá
Na. Các câu 5 - 8 là đổi cho đúng trường hợp Bồ tát giới Phạm võng. Trong đó
câu là ngàn trăm ức có nghĩa một ngàn và một ngàn lần trăm ức. Nếu không đổi mà
theo chính văn, thì phải dịch "lại xin kính lạy luận chủ Du dà, là Phật
đương lai Từ thị Thế Tôn". Ba loại tịnh giới là "kết mọi giới pháp
lại làm 3 môn: nhiếp thiện pháp giới là tám vạn bốn ngàn pháp môn; nhiếp chúng
sinh giới là từ bi hỷ xả phổ cập chúng sinh, làm cho tất cả đều được an lạc;
nhiếp luật nghi giới là mười giới pháp nặng làm chính yếu" (Anh lạc, Chính
24/1020).
Tiết 2: Sách Tiến Tu Tập
Ngày nay đã qua,
mạng sống cũng
bớt,
như cá thiếu
nước,
đâu có vui gì!
Đoạn này trừ 4
câu chỉnh cú cuối cùng, toàn lấy của giới bản Hữu bộ, nội dung nói sự vô thường
để thúc dục cấp bách tu tập. Mùa xuân mới hết nửa tháng, còn đến 3 tháng rưỡi,
nhưng không nói mới hết, còn đến, mà nói đã qua mất, chỉ còn lại, là dụng ngữ
có ý. Sau đây là những chỗ cần ghi chú.
Ấn độ có 3 mùa,
mùa xuân từ 16/12 đến 15/4, mùa hè từ 16/4 đến 15/8, mùa đông từ 16/8 đến
15/12. Tháng của Ấn độ lấy trăng bắt đầu tàn làm đầu tháng (tức đêm 16 mỗi
tháng âm lịch) và lấy trăng thật tròn sáng làm cuối tháng (tức đêm rằm mỗi
tháng âm lịch), không như âm lịch trăng bắt đầu có là đầu tháng, trăng đã tối
hẳn là cuối tháng. Nhưng nửa tháng trăng sáng và nửa tháng trăng tối thì như
nhau: nói theo ngày âm lịch thì 1 15 là trăng sáng, 16 30 hay 29 là trăng tối.
Bố tát tụng giới thì nửa tháng 1 kỳ, cử hành vào ngày cuối cùng nửa tháng (tức
rằm và ba mươi hay hâm chín) và thường cử hành ban ngày, như vậy còn 1 đêm mới
hết nửa tháng; 1 đêm ấy đối với nửa tháng trước là thiếu mà đối với nửa tháng
sau là thừa. Lời trong tiết 2 này là nói trong kỳ bố tát tụng giới đầu năm lịch
Ấn, tức cuối năm âm lịch. Những kỳ sau đó có 4 chỗ phải đổi mà ai cũng phải
biết. Chỗ 1, bốn tháng phải thêm "và 1 tháng nhuận" nếu có tháng ấy;
nhưng tháng nhuận ấy vẫn gọi theo tháng chính chứ không gọi riêng. Chỗ 2, mùa
xuân tùy đó mà đổi: 16/4 15/8 đổi nói mùa hạ, 16/8 15/12 đổi nói mùa đông. Chỗ
3, nửa tháng tùy đó mà đổi theo bảng kê dưới đây, kê theo ngày tháng âm lịch
cho dễ đổi, và chỉ lấy mùa xuân làm mẫu, 2 mùa hạ và đông so theo mà đổi.
hết tháng chạp:
nửa tháng
rằm tháng
giêng: một tháng
hết tháng
giêng: một tháng rưỡi
rằm tháng hai:
hai tháng
hết tháng hai:
hai tháng rưỡi
rằm tháng ba:
ba tháng
hết tháng ba:
ba tháng rưỡi
rằm tháng tư:
bốn tháng
Chỗ 4, ba tháng
rưỡi thì tùy đó mà đổi theo bản kê dưới đây, cũng kê theo ngày tháng âm lịch và
chỉ lấy mùa xuân làm mẫu.
hết tháng chạp:
ba tháng rưỡi
rằm tháng
giêng: ba tháng
hết tháng
giêng: hai tháng rưỡi
rằm tháng hai:
hai tháng
hết tháng hai:
một tháng rưỡi
rằm tháng ba:
một tháng
hết tháng ba:
nửa tháng rằm
tháng tư: thừa
một đêm
Tiết 3: Làm Phương Tiện Trước
Tăng tụ tập
không?
Tăng hòa hợp
không?
Tăng tụ tập hòa
hợp để làm gì?
Những người
chưa thọ Bồ tát giới, hay thọ mà không thanh tịnh, đã ra khỏi đây chưa?
Có bao nhiêu
người thọ Bồ tát giới không đến tụ tập mà có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh?
Đây là kiểm
điểm Tăng chúng, chuẩn bị và quyết định cho sự bố tát tụng giới cử hành được
hay không. Sự kiểm điểm này, như vậy, rất quan trọng, và chỉ quan trọng cho Tỳ
kheo tăng hay Tỳ kheo Bồ tát tăng.
Kiểm điểm bằng
5 câu hỏi, nhưng cần nhất là 2 câu đầu. Tăng chúng ở một chỗ, khi kiết ma bố
tát tụng giới, phải đầy đủ 2 yếu tố thì việc ấy mới thành, ấy là tụ tập đông
đủ, không ai vắng mặt mà không nói muốn và thanh tịnh; là hòa hợp với nhau,
không ai tụ tập để chống phá. Nói cách khác, muốn kiết ma bố tát tụng giới thì
Tăng chúng ở một chỗ phải thân và tâm cùng họp lại và ưng muốn; thân không họp
lại mà tâm ưng muốn thì được, thân họp lại mà tâm không ưng muốn thì hỏng.
Nói muốn và
thanh tịnh là dặn nhờ một hay hơn một vị khác, bạch với Tăng chúng, rằng mình
ưng muốn việc kiết ma bố tát tụng giới và mình cũng thanh tịnh. Như vậy chỉ
được phép nói muốn và thanh tịnh với lý do vì bận việc Tam bảo, vì bịnh hay vì
coi bịnh, và với điều kiện là trong nửa tháng vừa qua không có phạm giới (mình
tự biết không phạm giới, Tăng chúng cũng không ai thấy, nghe hay nghi mình phạm
giới). Lời dặn nhờ có thể nói thông thường như sau, "Bạch đại đức, tôi là
Tỳ kheo XX, vì lý do XX nên không thể tụ tập kiết ma bố tát tụng giới, nhưng
đối với việc ấy tôi ưng muốn, và tôi cũng thanh tịnh. Xin nhờ đại đức bạch lại
với Đại đức tăng như vậy". Dặn nhờ như vậy, nếu không nói được thì có thể
ra dấu. Lời bạch lại cũng có thể nói thông thường như sau, "Bạch đại đức
tăng, con là Tỳ kheo XX, có nhận lời dặn nhờ của Tỳ kheo XX, vắng mặt vì lý do
XX, nhưng nửa tháng vừa qua vị ấy không có phạm giới. Vị ấy dặn nhờ con bạch
lại với Đại đức tăng rằng, đối với việc kiết ma bố tát tụng giới hôm nay của
Đại đức tăng, vị ấy nói muốn và thanh tịnh".
Cả 5 câu hỏi là
của vị tụng giới, người trả lời là vị tri sự hay vị nào biết rõ tình trạng của
Tăng chúng cùng ở một chỗ. Câu 1, không có ai vắng mặt, ai vắng mặt có nói muốn
và thanh tịnh, thì trả lời "Tăng tụ tập". Câu 2, không có ai tụ tập
với dụng ý để phá, cãi, thì trả lời "Tăng hòa hợp". Câu 3, trả lời
"Để kiết ma bố tát tụng Bồ tát giới Phạm võng". Câu 4, có thì bảo ra
và trả lời "Người chưa thọ Bồ tát giới, hay người thọ rồi mà không thanh
tịnh, đã ra cả rồi"; nếu không có thì trả lời "Trong Tăng chúng đây
không có người chưa thọ Bồ tát giới hay thọ rồi mà không thanh tịnh". Câu
5, có ai dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh thì người được dặn nhờ bước ra mà bạch
lại, không thì trả lời "Trong Tăng chúng đây không có người thọ Bồ tát
giới không đến tụ tập mà có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh".
Tiết 4: Lời Tựa Mở Đầu
Chư Phật tử,
hãy chắp tay lắng nghe. Nay tôi sắp nói đến lời mở đầu giới pháp rộng lớn của
chư Phật, các vị tụ tập, yên lặng mà lắng nghe. Và tự xét có tội lỗi thì phải
sám hối; sám hối thì yên vui, không sám hối thì tội lỗi càng sâu nặng. Không có
tội lỗi thì yên lặng; do sự yên lặng ấy mà tôi biết các vị thanh tịnh.
Lòng sợ tội lỗi
khó mà sinh được, tâm có đức lành khó mà phát ra. Nên trong khế kinh đã dạy:
Đừng khinh tội
lỗi nhỏ,
cho là không
tai họa;
giọt nước tuy
là ít,
chảy mãi đầy hồ
lớn.
Tội lỗi gây
chốc lát,
họa ở vô gián
ngục;
một khi mất
thân người,
muôn kiếp khó
được lại.
Sự khỏe đẹp
không bền,
qua mau như
ngựa chạy;
mạng người vốn
vô thường,
quá hơn nước
núi đổ:
hôm nay dẫu còn
đó,
ngày mai khó
bảo tồn.
Các vị phải
nhất tâm mà nỗ lực tinh tiến, cẩn thận đừng giải đải, đừng biếng nhác, đừng ham
ngủ, đừng phóng ý. Thâu đêm cũng phải tập trung tâm ý lại mà tưởng niệm Phật
pháp tăng. Đừng để đời mình trôi qua một cách trống rỗng, mệt nhọc một cách vô
ích, để rồi sau đó phải hối hận sâu xa.
Các vị hãy nhất
tâm, kính cẩn mà phụng hành cho thật chính xác đối với giới pháp này. Phải học
như vậy.
Lời tựa này có
trong Chính 24/1003. Có lẽ trước khi có nghi thức, sự mở đầu tụng Bồ tát giới
Phạm võng chỉ có lời tựa này mà thôi. Lời tựa này kết hợp cả kinh Di giáo và
Pháp cú, nhưng không có gì gượng ép vì chắp vá và biến thể như các tiết trước
và sau tiết này. Lời tựa này được soạn khá sớm, vì câu thời kỳ Phật pháp cuối
cùng, chính văn vốn là thời kỳ Phật pháp tương tự. Phật pháp tồn tại có 3 thời
kỳ: nguyên chất (chánh pháp) tương tự (tượng pháp) và cuối cùng (mạt pháp). Mỗi
thời kỳ có 1000 năm. Nay kỷ nguyên Phật giáo đã 2527 năm, là đã hơn một nửa
thời kỳ cuối cùng.
Vô gián ngục là
địa ngục kết quả của 5 tội nghịch (cũng gọi là 5 tội vô gián, 5 nghiệp vô
gián). Năm tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết La hán, làm chảy máu thân
Phật, phá Tăng hòa hợp. Thêm giết Hoà thượng và giết Xà lê vào nữa thì gọi là 7
tội nghịch, được nói đến trong giới nhẹ 40. Nhưng xét 5 tội nghịch còn như kinh
Địa tạng nói, cho người xuất gia nhiều hơn nằm trong phẩm 3 của kinh ấy. Ở đó,
sự phỉ báng Tam bảo và khinh thường kinh pháp cũng là làm chảy máu thân Phật.
Trong 5 tội nghịch, tội phá Tăng hòa hợp nặng nhất, xét ra vì lẽ tội này làm rã
Tăng hòa hợp mà thực chất là biệt lập giáo phái để làm giáo lãnh. Năm tội
nghịch còn 1 pháp số nữa, của kinh Ni kiền tử: Một là phá hủy chùa tháp, đốt
phá kinh tượng, chiếm đoạt của Tam bảo. Hai là phỉ báng tiểu thừa và đại thừa,
phá hoại và trở ngại, làm cho các pháp ấy khuất lấp. Ba là bắt bớ, tù đày, tra
tấn, hành hung, khinh khi, làm nhục, buộc hoàn tục hay hại tính mạng đối với
người xuất gia. Bốn là làm 1 trong 5 tội nghịch thông thường (mà đã nói ở
trên). Năm là bài bác nhân quả thiện ác, thường làm 10 ác nghiệp, không sợ đời
sau, tự làm và xúc sử người làm mà ngoan cố không bỏ.
Kết quả của 5
tội nghịch là đọa vô gián ngục. Vô gián là không cách hở. Tuệ viễn đại sư,
trong Đại thừa nghĩa chương, cuốn 7, nói 5 tội nghịch làm cho đọa vô gián ngục
thì có 4 sự không cách hở. Một, nhân quả không cách hở: thân này chết rồi thì
thân kế tiếp đọa vô gián ngục mà chịu liền quả báo của 5 tội nghịch, không có
đời nào hay nghiệp gì làm cho cách hở nữa. Hai, chịu khổ không cách hở: đọa vô
gián ngục thì trong một thời kỳ dài, khổ khổ liên tục, không có sự vui nào xen
vào làm cho cách hở. Ba, sinh mạng không cách hở: đọa vô gián ngục thì trong
một thời kỳ dài, chết đi sống lại liền liền mà sinh mạng không chết hẳn. Bốn,
thân hình không cách hở: đọa vô gián ngục thì ai cũng thấy thân mình tràn đầy
cả ngục, không chướng ngại cách hở lẫn nhau. Bốn sự này bao gồm đủ cả 5 sự đã
nói trong phẩm 3 của kinh Địa tạng. Trong 4 sự, sự đầu rất quan trọng, Thành
thật luận và Câu xá luận đều nói, chứng tỏ 5 tội nghịch rất khó cầu cho siêu
độ.
Một khi mất
thân người muôn kiếp khó được lại là nói thân người rất quí. Nói theo trường
hợp Bồ tát giới Phạm võng thì có thân mới thọ và trì được giới pháp ấy. Do vậy,
đem thân người làm những việc mệt nhọc một cách vô ích, có hại, đã đành đáng
trách, nhưng lối thuyết pháp thóa mạ, khinh thị thân thể, cũng không phải là
thái độ hợp ý với Phật.
Tiết 5: Chất Vấn Thanh Tịnh
Đây là biến thể
lời tác bạch kiết ma bố tát tụng giới mà thành sự chất vấn thanh tịnh. Nay xin
hỏi, chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả không, là hỏi trong nửa tháng
vừa qua, có ai phạm giới không. Không ai phạm giới mới có thể tụng giới.
Việc này tôi
xin ghi nhận như vậy, chính văn là thị sự như thị trì. Chữ trì nghĩa đen là nắm
giữ, ở đây là nắm giữ trong trí, tức là nói về sự ghi nhớ, về ký ức, và ở đây
là xác nhận. Nên chữ ấy đi đôi với chữ thọ thì thọ trì nghĩa là tiếp nhận và
ghi nhớ. Nghĩa chữ trì như vậy nên đã được cắt nghĩa là liễu đạt bất vong (thấu
hiểu không quên). Thị sự như thị trì, dịch sát là việc ấy tôi nắm chắc như vậy
(nghĩa là hiểu và nhớ như vậy). Nhưng chữ nắm chắc rất nên chuyển ra chữ ghi
nhận cho sát việc và dễ hiểu hơn. Chủ từ tôi phải thêm, vì đây là lời của vị
tụng giới. Nói giản dị, vị tụng giới nói, "các ngài thanh tịnh, vì các
ngài yên lặng: việc này tôi xin ghi nhận như vậy".
Tiết này có vài
chỗ cần chú ý. Một, hết tháng thì nói trăng tối, rằm thì nói trăng sáng; trăng
tối thì ngày 15 có khi phải đổi ra 14 nếu tháng ấy thiếu. Hai, câu nay tôi xin
hỏi, chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả không, phải nói 3 lần, sau mỗi
lần phải đợi vài ba giây.
Tụng giới xong,
vị tụng giới đứng dậy mà thưa, Bạch Đại đức tăng, con là Tỳ kheo XX, xin kính
tạ lỗi Đại đức tăng; Đại đức tăng bảo con tụng Bồ tát giới, nhưng thân miệng ý
của con không tinh cần, tụng giới văn không thông suốt, làm cho chư vị ngồi lâu
hơn lên, không khỏi phát phiền. Con xin chư vị từ bi hoan hỷ cho con.
Cũng như lời
tác bạch đầu tiên, lời tác bạch này, nếu vị tụng giới là thượng tọa trong buổi
bố tát thì không cần nói. Chương 3: Dịch Giải Chính Văn Bồ tát Giới Phạm võng
Bồ tát giới
Phạm võng
là giới pháp vô
thượng,
trăm ngàn vạn
ức kiếp
vẫn khó mà gặp
được;
nay con đã thấy
nghe
lại còn được
thọ trì,
nguyện cầu sớm
thành tựu
pháp tánh thân
thường trú.
Kính lạy đức Lô
Xá Na Như Lai. Kính lạy đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Kính lạy kho tàng Bồ tát
giới Phạm võng.
Đây là bài kệ
khai kinh và kính lạy giáo chủ Bồ tát giới Phạm võng. Bài kệ khai kinh này là
bài thông thường mà tôi đổi và dịch cho đúng với trường hợp tụng Bồ tát giới
Phạm võng. Pháp tánh thân thường trú là như chính văn sau đây nói, "Hết
thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng sinh, thân ấy
tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và đương nhiên có cái nhân như
vậy thì đương nhiên thực hiện pháp thân thường trú". Chú thích: nhập vào
trong giới pháp Phật tánh là thọ và trì giới pháp ấy.
Bài kệ khai
kinh này, Bồ tát giới kinh để nguyên và đặt trước nghi thức mở đầu. Để và đặt
như vậy không thích hợp ý nghĩa mà cũng không thích hợp nghi thức.
Kinh Phạm võng, phẩm thứ 10
"Tâm địa
giới Bồ tát của
đức Lô Xá Na
tuyên thuyết", phần dưới
Đầu đề này đã
giải thích trong chương dẫn nhập. Nay chỉ giải thích chính văn. Tiết 1: Mở Đầu Về Bồ
tát Giới Phạm võng
Số 1: Đức Lô Xá Na Tổng Kết Về Phẩm Pháp Môn Tâm Địa
Khi ấy đức Lô
Xá Na đã vì đại chúng mà khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi lông, về
pháp môn tâm địa, một trong các pháp môn nhiều đến số lượng không thể nói hết,
như cát của trăm ngàn sông Hằng. Và kết thúc rằng, pháp môn tâm địa ấy hết thảy
chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật vị lai sẽ nói, chư Phật hiện tại đang nói,
tất cả Bồ tát trong quá khứ vị lai và hiện tại đã học sẽ học và đang học. Như
Lai đã trải qua cả trăm vô số kiếp tu hành tâm địa ấy, kết quả thành Phật, danh
hiệu Lô Xá Na. Chư vị Phật đà, các ngài hãy chuyển pháp môn của Như Lai đã nói
cho hết thảy chúng sinh, khai thị tâm địa cho họ. Bấy giờ trên Sư tử tòa sáng
chói rực rỡ ở Liên hoa đài, tức Hoa tạng thế giới, đức Lô Xá Na phóng ra ánh
sáng, khuyến cáo một ngàn đức Thích Ca trên một ngàn cánh hoa, rằng các ngài
hãy đem phẩm Pháp môn tâm địa của Như Lai mà đi, nói lại một cách tuần tự phẩm
ấy cho một ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, và hết thảy chúng sinh, với lời
khuyến cáo rằng các người hãy thọ trì, đọc tụng, nhất tâm mà phụng hành.
Đây là đức Lô
Xá Na tổng kết về phẩm Pháp môn tâm địa mà trong đó có phần Giới pháp vô tận
(Bồ tát giới) khuyến cáo chư Phật hóa thân chuyển dạy pháp môn ấy cho chúng
sinh.
Sư tử tòa là
Phật như sư tử, Phật ngồi ở đâu chỗ ấy cũng gọi là sư tử tòa. Sư tử tòa ở đây
của đức Lô Xá Na, và chư Phật hóa thân của ngài, là ở Hoa tạng thế giới. Hoa
tạng thế giới tượng trưng như Liên hoa đài (đài sen), nên gọi đủ là Liên hoa
đài tạng thế giới. Tách ra, chuyển dịch "Liên hoa đài, tức Hoa tạng thế
giới" là để ăn liền với ngàn cánh hoa ở câu dưới. Liên hoa đài cũng là từ
ngữ dùng trong văn chỉnh cú ở dưới.
Đưa đại chúng
đến hỏi để đức Lô Xá Na nói về pháp môn tâm địa là ngàn lần trăm ức đức Thích
Ca, nhưng đức Lô Xá Na gọi ngàn đức Thích Ca mà nói, ấy là Phật nói với Phật về
tâm địa; còn ngàn đức Thích Ca nói với ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, ấy là
Phật nói với Phật về cách nói tâm địa cho chúng sinh. Nói một cách tuần tự cho
ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, và hết thảy chúng sinh, câu này nói tắt, nói rõ
thì phải là nói cho ngàn lần trăm ức đức Thích Ca để chư Phật ấy dạy lại cho
hết thảy chúng sinh, khuyến cáo chúng sinh thọ trì tâm địa. Nói một cách tuần
tự là nói bằng 10 chỗ thuyết pháp.
Số 2:
Khi ấy một ngàn
đức Thích Ca trên một ngàn cánh hoa, và một ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, đều
đứng dậy từ Sư tử tòa rực rỡ ở Hoa tạng thế giới. Ngài nào cũng cáo thoái bằng
cách khắp mình phóng ra ánh sáng bất khả tư nghị, cùng hóa hiện vộ lượng đức
Phật nữa, và cùng trong một lúc dùng vô số sắc hoa xanh vàng đỏ trắng hiến cúng
đức Lô Xá Na, tiếp nhận và ghi nhớ trọn vẹn phẩm Pháp môn tâm địa mà ngài đã
tuyên thuyết. Rồi các ngài từ Hoa tạng thế giới ẩn đi. Aẫn rồi nhập định tên
Bông hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh in như hư không, trở về dưới cây Bồ
đề ở châu Diêm phù của thế giới mình, xuất định nói trên, ngồi trên Kim cang
tòa đầy bông hoa ánh sáng, và tại Diệu quang đường nói về mười biển cả thế
giới, lại rời chỗ ấy đến Đế thích cung nói về mười trú, đến Diệm thiên nói về
mười hành, đến Đâu suất thiên nói về mười hướng, đến Hóa lạc thiên nói về mười
định, đến Tha hóa thiên nói về mười địa, đến Sơ thiền nói về mười kim cang, đến
Nhị thiền nói về mười nhẫn, đến Tam thiền nói về mười nguyện, đến cung Đại tự
tại thiên vương thuộc Tứ thiền nói lại phẩm Pháp môn tâm địa mà bản thân là đức
Lô Xá Na ở Hoa tạng thế giới đã nói. Toàn thể một ngàn lần trăm ức đức Thích Ca
đều làm như vậy, không khác gì nhau, như phẩm Hiền kiếp đã nói.
Đây là chư Phật
hóa thân chuyển dạy phẩm Pháp môn tâm địa cho chúng sinh bằng cách thị hiện 8
tướng thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp.
Định tên Bông
hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh in như hư không, nói vắn tắt và nói cách
khác, là diệu dụng của bản tánh thanh tịnh; diệu dụng ấy là thị hiện 8 tướng
thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp. Nhập định rồi xuất định ấy là từ bản tánh
thanh tịnh mà hiện khởi diệu dụng như vậy. Trở về dưới cây Bồ đề ở châu Diêm
phù của thế giới mình, xuất định nói trên, ngồi trên Kim cang tòa là nói tắt về
sự thị hiện 8 tướng thành đạo.
Trong 10 chỗ
thuyết pháp, Kim cang tòa đầy bông hoa ánh sáng, cũng có thể dịch Kim cang tòa
rực rỡ hoa myծ Kim cang tòa này ở dưới Bồ đề thọ của Tịch diệt tràng. Cách 3
dặm về phía đông nam của Tịch diệt tràng là Diệu quang đường (Phổ quang minh
điện). Tại chỗ thứ 1 này chư Phật nói về 10 biển cả thế giới, là nói về vi trần
thế giới nói về vô tận Hoa tạng thế giới, thế giới Phạm võng. Còn 8 chỗ kế tiếp
nói về Bồ tát hạnh vị. Hạnh vị ấy tuy có 8 số 10, nhưng chính yếu là 30 tâm (10
trú 10 hạnh 10 hướng) và 10 địa, còn những hạnh vị khác chỉ chuẩn bị (10 tín,
chính văn này lược đi) hay bổ túc. Đến chỗ thứ 10 nói lại phẩm Pháp môn tâm địa
mà, như đã nói, trong đó có Bồ tát giới. Ngang đây lẽ đáng còn phải có câu như
chính văn số 2 của đoạn 2 sau đây nói, "Rồi từ cung thiên vương ấy trở
xuống ngồi dưới cây Bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu mê
ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na đã nói
trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài".
Và như vậy, Bồ
tát giới được từ đức Phật bản thân đến chư Phật hóa thân đều nói, tại Liên hoa
đài, tại Đại tự tại thiên cung, tại Bồ đề thọ.
Về pháp đã
thuyết qua 10 chỗ, cuối Bồ tát giới Phạm võng tổng kết như sau, "Nói tóm,
ngàn lần trăm ức thế giới, Hoa tạng thế giới, và các Hoa tạng thế giới khác
nhiều như vi trần, cũng diễn về tất cả kho tàng chánh pháp của chư Phật là kho
tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng hạnh nguyện và kho
tàng nhân quả Phật tánh thường trú".
Số 3: Đức Thích Ca Bổn Sư Tự Thuật Ngài Cũng Chuyển Dạy Phẩm
Pháp Môn Tâm Địa Như Chư Phật
Bấy giờ đức
Thích Ca Mâu Ni từ Hoa tạng thế giới mà khởi đầu ngài đã hiện ra ở đó, hướng về
phía đông, đi vào cung thiên vương, nói xong kinh Ma vương chịu giáo hóa, rồi
hạ sinh ở nước Ca di la thuộc châu Diêm phù, mẹ là hoàng hậu Ma da, cha là
hoàng đến Bạch tịnh, "Như Lai tên Tất đạt, bảy năm xuất gia, thành đạo lúc
ba mươi tuổi, danh hiệu Thích Ca Mâu Ni, đầu tiên ngồi Kim cang tòa đầy bông
hoa ánh sáng tại Tịch diệt tràng, cuối cùng đến cung Đại tự tại thiên vương,
tuần tự thuyết pháp cả mười chỗ". Trong khi thuyết pháp tại cung Đại tự
tại thiên vương, đức Thích Ca Mâu Ni nhìn tràng lưới của các Đại phạn thiên
vương, nhân đó nói với họ, rằng vô lượng thế giới in như mắt lưới, mỗi mỗi khác
nhau, vô cùng vô tận; pháp môn đức Lô Xá Na dạy cũng y như vậy. Như Lai nay đến
thế giới này đã tám ngàn lần, vì cả thế giới Sa bà mà ngồi Kim cang tòa đầy
bông hoa ánh sáng, nói về mười biển cả thế giới, cho đến đến cung Đại tự tại
thiên vương này, tóm tắt khai thị hoàn tất phẩm Pháp môn tâm địa cho đại chúng
ở đây.
Đây là đức
Thích Ca bổn sư tự thuật ngài cũng chuyển dạy phẩm Pháp môn tâm địa cho chúng
sinh bằng 8 tướng thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp; nói cách khác, ngài cũng thể
hiện diệu dụng của định Bông hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh.
Thích Ca Mâu
Ni, hay Thích Ca, ở đây là đức Thích Ca bổn sư. Ngài cũng thị hiện 8 tướng
thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp. Tám tướng thành đạo là giáng thần, nhập thai,
trú thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập niết bàn. Sự
tích như sau. Giáng thần là từ nội viện Đâu suất, Phật giáng thần bằng hình
tướng cỡi voi trắng mà xuống vương cung Bạch tịnh. Nhập thai là Phật nhập vào
hông trái của hoàng hậu Ma da. Trú thai là Phật ở trong thai mà không hôn mê,
vẫn thuyết pháp cho chư thiên. Xuất thai là ngày trăng tròn tháng tư, từ hông
phải của hoàng hậu Ma da, Phật sinh ra ở hoa viên Lâm tỳ ni. Xuất gia là 25
(23?) tuổi, Phật thoát vương cung, vào núi học đạo. Thành đạo là sau 6 năm khổ
hạnh, và sau khi ngồi trên tòa Kim cang, hàng phục ma vương, Phật thành chánh
giác dưới gốc Bồ đề. Chuyển pháp luân là Phật thuyết pháp, quảng độ chúng sinh
trong 50 năm. Nhập niết bàn là 80 tuổi, Phật nhập diệt dưới cây Sa la song thọ.
Cả 8 tướng như vậy đều là sự thị hiện, và nói thị hiện, hay nói đức Lô Xá Na
hóa ra đức Thích Ca, là như thế đó, chứ không phải như là ảo thuật. Cả 8 tướng
như vậy toàn là tác dụng độ sinh, chứ không phải chỉ có thuyết pháp mới độ
sinh. Và cả 8 tướng như vậy hợp thành một đức Phật liệt ứng thân, nói cách
khác, toàn là "bông hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh". Chính văn
trên đây, 8 tướng này nói đã lược, lại lược luôn cả chữ thị hiện.
Hướng về phía
đông là vì Sa bà thế giới ở về phía đông Hoa tạng thế giới. Vào cung thiên
vương là cung Đại tự tại thiên vương (Vạn 60/334B) Tịch diệt tràng là Bồ đề
tràng; ở đó hóa thân của Phật thị hiện chứng hữu dư niết bàn nên gọi là Tịch
diệt tràng, thị hiện chứng vô thượng Bồ đề nên gọi là Bồ đề tràng.
Nói thế giới và
pháp môn mà ví dụ như Phạm võng, là nói đạo lý trùng trùng duyên khởi. Thị hiện
8 tướng thành đạo ở Diêm phù, 1 trong 1 tỷ thành phần của đại thiên thế giới Sa
bà, mà nói "vì cả thế giới Sa bà mà thuyết pháp 10 chỗ", thì biết đức
Thích Ca bổn sư không phải chỉ là một chiều thuộc về số lượng ngàn lần trăm ức
đức Thích Ca hóa thân, thế giới ngài giáo hóa cũng không phải là một chiều
thuộc về số lượng ngàn lần trăm ức tiểu thế giới. Tóm tắt khai thị hoàn tất
phẩm Pháp môn tâm địa tức là cũng đã tóm tắt tụng lại Bồ tát giới (phần Giới
pháp vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa) cho các vị đại căn đương cơ ở Đại tự
tại thiên cung, chứ không phải chỉ nói Bồ tát tâm địa còn Bồ tát giới về Diêm
phù mới nói.
Số 4: Đức Thích Ca Bổn Sư Nói Sẽ Nói Lại Bồ tát Giới Phạm võng
Rồi từ cung
thiên vương ấy, Như Lai trở xuống, ngồi dưới cây Bồ đề của châu Diêm phù, vì
hết thảy chúng sinh phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà
đức bản thân Lô Xá Na của Như Lai đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài,
giới pháp mà từ khi mới phát tâm ngài đã thường tụng. Giới pháp ấy như ngọc kim
cang sáng chói, và là bản nguyên của chư Phật, của Bồ tát, là hạt giống Phật
tánh. Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng
sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và đương nhiên có
cái thân như vậy thì đương nhiên thực hiện pháp thân thường trú. Về mười Ba la
đề mộc xoa mà Như Lai sẽ nói lại sau đây, khi xuất hiện ở thế giới này, thì đó
chính là giới pháp của Phật pháp, là giới pháp mà hết thảy chúng sinh trong quá
khứ vị lai và hiện tại nên kính phụng thọ trì. Như Lai sắp sửa vì cả đại chúng
ở đây mà trùng tuyên phần Giới pháp vô tận giới pháp của hết thảy chúng sinh,
bản nguyên là tự tánh thanh tịnh.
Đây là đức
Thích Ca bổn sư nói sẽ nói lại Bồ tát giới Phạm võng (Giới pháp vô tận) cho
chúng sinh Diêm phù, Bồ tát giới mà bản thân Lô Xá Na của ngài đã nói trong
phẩm Pháp môn tâm địa và đã tụng từ khi mới phát tâm, cho đến thành Phật rồi
cũng vẫn thường tụng.
Như Lai trở
xuống, ngồi dưới cây Bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu
mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của Như
Lai đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới phát
tâm ngài vẫn thường tụng là nói Bồ tát giới là giới pháp mà thánh phàm cùng
được truyền thọ và thọ trì. "Nói lại giới pháp duy nhất..." chính văn
là thuyết ngã bản Lô Xá Na Phật tâm địa trung sơ phát tâm trung thường sở tụng
nhất giới. Tâm địa ở đây không phải là nhân địa để dịch tu nhân, mà là gọi tắt
tên phẩm Pháp môn tâm địa như đã gọi như vậy ở đoạn đầu và còn gọi như vậy ở
đoạn cuối Bồ tát giới Phạm võng. Phật tụng giới, không phải chỉ tụng trong khi
tu nhân, lại càng không phải chỉ tụng lúc mới phát tâm. Cả chính văn chỉnh cú
và trường hàng trong đoạn 1 mục 2 và đoạn 2 mục 3 sau đây sẽ chứng tỏ từ khi
mới phát tâm cho đến lúc thành Phật rồi, Phật vẫn thường tụng. Chưa thành Phật
thì tụng để được thành, thành Phật rồi thì tụng để truyền thọ như Phật bản thân
tụng lại và Phật hóa thân tụng lại nữa, tụng thành Bồ tát giới Phạm võng này
đây.
Phật tánh ở đây
vừa có nghĩa bản thể vừa có nghĩa khả năng: bản thể là Phật, và khả năng làm
Phật, gọi là Phật tánh. Bản thể và khả năng ấy, chính là thân tâm chúng ta đây.
Như vậy, vì chúng sinh có Phật tánh, nên thân là thân chúng sinh, tâm là tâm
chúng sinh, mà thân tâm ấy vẫn có thể thọ và trì được giới pháp Phật tánh, nên
chính văn nói "Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm
của chúng sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh".
Câu trên đây,
chính văn là nhất thế chúng sinh giai hữu Phật tánh, nhất thế ý thức sắc tâm,
thị tình thị tâm giai nhập Phật tánh giới trung. Trước hết, phải hiểu các chữ
ý, thức, sắc, tâm, tình, tâm. Ý, thức, tâm, 3 chữ ấy chỉ là "một nghĩa mà
khác tên", vậy có thể và cần phải gồm lại mà chỉ nói là tâm, cho rõ và đủ
hơn. Còn sắc ở đây là 5 sắc căn, tức nhãn căn cho đến thân căn; 5 căn này ngài
La Thập cũng hay dịch là ngũ tình. Việc này không những thấy trong Pháp hoa
(như phẩm 24), mà Trí độ luận (như cuốn 40) nói càng rõ, "5 tình là mắt
vân vân, gọi là nội thân; 5 trần là sắc vân vân, gọi là ngoại thân". Như
vậy thì chữ sắc ở đây cũng chính là chữ tình ở đây. Và sắc hay tình là 5 căn,
là chính cái thân tổng hợp 5 giác quan, vậy có thể và cần phải gồm lại mà chỉ
nói là thân, cho rõ và sát hơn. Sát hơn, vì lẽ Bồ tát giới cũng như bao nhiêu
giới pháp khác, không có thân như chư thiên Vô sắc giới thì không thọ được, nên
chính văn đoạn 3 mục 3 sau đây kể ai cũng được thọ Bồ tát giới mà không kể chư thiên
Vô sắc giới. Vậy thì biết thân là yếu tố cần nhất trong việc thọ và trì giới
pháp Phật tánh, thân là Phật tánh.
Nên nói thêm
chút nữa. Nói Phật tánh mà chỉ nói tâm thì không ai lạ gì, nhưng nói thân vào
(nói sắc vào) thì có nhiều người lúng túng. Lúng túng đến nỗi phải lướt bỏ chữ
sắc đi, lại hiểu chữ tình là tình thức. Lúng túng như vậy là quên đi rằng, nói
Phật tánh thì đúng là nói tâm, nhưng tâm ấy là tâm tánh, gồm cả thân tâm và
ngoại cảnh: toàn bộ thân tâm và ngoại cảnh của tâm tánh đều bản thể là Phật,
đều thành khả năng làm Phật, nên gọi là Phật tánh cả. Phải hiểu như vậy về chữ
Phật tánh, nhất là chữ ấy ở đây. Và hiểu như vậy thì thấy chữ sắc trong 6 chữ
ý, thức, sắc, tâm, tình, tâm, chữ sắc ấy đúng là sắc căn (nội sắc), nhưng nếu
hiểu thêm rằng chữ sắc ấy cũng chỉ cho cả trần cảnh (ngoại sắc), thì dẫu quá xa
cũng vẫn đúng. Đúng, vì không cần luận đến bản thể mà chỉ nói sự dụng, thì
ngoại cảnh cũng là phương tiện và khả năng giúp cho sự thọ trì Bồ tát giới,
thực hiện Phật tánh.
Sau hết, chính
văn chỗ này có một định thức: có Phật tánh thì có thể thọ trì Phật giới, thọ
trì Phật giới thì thành tựu Phật quả là pháp thân thường trú.
Mười ba la đề
mộc xoa là 10 giới nặng. Nói về Bồ tát giới, phần nhiều hay nói 10 giới nặng
ấy, vì 10 giới nặng ấy là căn bản, còn 48 giới nhẹ toàn là đẳng lưu. Nói 10
giới nặng xuất hiện thế gian là nói Bồ tát giới xuất hiện, và 10 giới nặng ấy
cũng gọi là 10 giới pháp vô tận hay phần Giới pháp vô tận. Về 10 giới pháp vô tận, kinh Anh lạc cũng gọi như vậy, và cũng có ý như Phạm võng, chỉ thứ tự có xê xích chút ít. Gọi là giới pháp vô tận, vì giới pháp ấy thọ rồi, đời này đời khác, vẫn thường không mất, đi theo hành giả cho đến thành Phật, lại nữa, giới pháp ấy lấy tâm làm thể, tâm vô tận nên giới vô tận (Anh lạc, Chí |


