| Tỳ Kheo Giới |
|
|
|
| Tạng Luật - Chú Giải Luật Pali và Hán |
| Viết bởi Thích Trí Quang |
|
Ýnghĩa Tỳ Kheo Giới
ở chỗ phải nhớ luôn đến cái chủ ý của Tỳ
kheo giới. Chủ ý đó là muốn Tỳ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý,
cả 3 nghiệp ấy đừng có những tội lỗi và cử động bất xứng, nghĩa là cụ túc giới
pháp và oai nghi. Rồi từ chủ ý đó, phải có những sự hạn chế (giá) và linh động
(khai) mà sao cho như "liên hoa bất trước thủy", "sự lai tâm
hiện, sự khứ tâm không". 250 giới mà xét chung thì thấy có thể chia ra 3 loại. Loại một, là những giới điều phạm vào thì mất tư cách Tỳ kheo, không còn sám hối hay giải tội gì mà cứu vãn được nữa. Loại hai là những giới điều mà phạm vào thì tư cách Tỳ kheo chỉ còn một chút sống thừa, phải được cử tội, xử tội và giải tội bởi 20 vị Tỳ kheo là ít nhất mới mong cứu vãn. Loại ba đến loại tám là những giới điều chỉ cần được cử tội, xử tội và giải tội bởi 10 cho đến 1 vị Tỳ kheo là tư cách Tỳ kheo được cứu vãn. Tỳ Kheo Giới
Thích Trí Quang dịch giải
1/ Ghi Sau Khi Duyệt Tỳ kheo Giới
2/ Dẫn Nhập Tỳ
Kheo Giới Của Tứ Phần Luật
3/ Phần Đầu Tỳ kheo Giới
5/ Bốn Giới Khí
6/ Mười ba Giới Tăng Tàn
7/ Hai Giới Bất Định
9/ Chín mươi Giới Đọa
10/ Bốn Giới Hối Quá
11/ Trăm Giới Học
12/ Bảy Pháp Diệt Tránh
Ghi Chú
1/ Ghi Sau Khi Duyệt Tỳ kheo Giới
Tập tục giữa
Ấn, Tàu với ta khác nhau nhiều lắm. Xưa và nay càng khác hơn. Phật giáo cũng
vậy. Nên muốn hiểu luật thì phải biết những cái khác đó, kể cả cái khác giữa
Bắc tông với Nam tông.
Hãy nói vài ví
dụ nhỏ nhặt. Tập tục khác nhau như Ấn ăn bốc, không biết như vậy thì không hiểu
được giới 40 (trong 100 giới học) với ghi chú ăn không được một nửa vào miệng,
một nửa còn nơi tay. Xưa nay khác nhau như rửa tay sau khi đại tiện thì xưa
dùng đất, tro, bồ hòn, bồ kết, nay thì xà phòng. Ấy là chưa nói bao nhiêu cái
khác, lớn có nhỏ có, giữa xưa và nay, giữa 2 tông Bắc Nam. Có những cái bây giờ
khác hẳn rồi, thí dụ nói về ngọa cụ và tọa cụ.
Chỉ nói bấy
nhiêu thôi cũng đủ thấy ngày nay Tỳ kheo giới có một ít giới điều không còn nói
đến nữa. Thế nhưng ngày nay lại có bao nhiêu cái mà Tỳ kheo giới đã không qui
định trước được. Thí dụ sự học hành, sự giao tiếp... Chỉ sự giao tiếp mà thôi,
mà bao nhiêu điều thích ứng hoặc phản ứng đã phải đặt ra. Chưa nói ăn mặc ở, 3
sự ấy có bao nhiêu là xáo trộn mà tiện lợi có, khó xử có.
Mấy lời ghi
trên đây đi đến kết luận gì? Kết luận ở chỗ phải nhớ luôn đến cái chủ ý của Tỳ
kheo giới. Chủ ý đó là muốn Tỳ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý,
cả 3 nghiệp ấy đừng có những tội lỗi và cử động bất xứng, nghĩa là cụ túc giới
pháp và oai nghi. Rồi từ chủ ý đó, phải có những sự hạn chế (giá) và linh động
(khai) mà sao cho như "liên hoa bất trước thủy", "sự lai tâm
hiện, sự khứ tâm không".
Làm như vậy với
ý thức và hậu quả là Tỳ kheo giữ được bản sắc của mình, của Phật giáo mình
không để đời không có mình cũng được, hay mình cũng như đời mà thôi. Nói cách
khác, Tỳ kheo không tự cao nhưng không tục hóa. Giới luật còn thì Phật pháp còn
là như thế này đây.
Mồng 10 tháng
5, 2537
Trí Quang
2/
Dẫn Nhập Tỳ Kheo Giới Của Tứ Phần Luật
(1) Phật lịch
2518, tôi đã đọc tất cả 5 bộ luật của Phật giáo văn hệ Trung Hoa, gọi tắt và
ghi theo số hiệu của Đại tạng kinh bản Đại chính thì 1421 là Ngũ phần, 1425 là
Tăng kỳ, 1428 là Tứ phần, 1435 là Thập tụng, 1442 là Hữu bộ. Ngoài ra, 1462 là
Thiện kiến tuy không trọn vẹn mà rất đáng đọc.
Thế giới Phật
giáo thông sử (tập 1 trang 54) nói Tăng kỳ là của Đại chúng bộ, Ngũ phần là của
Hóa địa bộ, Tứ phần là của Pháp tạng bộ, Thập tụng là của Hữu bộ Ma du la, Hữu
bộ là của Hữu bộ Ca thấp di la.
Muốn biết giữa
5 bộ luật như thế nào thì sơ khởi hãy đem giới bản của 5 bộ ra mà so sánh chút
ít. Tỳ kheo giới có 8 loại: 1 là khí, 2 là tăng tàn, 3 là bất định, 4 là xả
đọa, 5 là đọa, 6 là hối quá, 7 là học pháp, 8 là diệt tránh. Trong 8 loại này,
chỉ có 2 loại 5 và 7 là 5 bộ khác nhau: loại 5 thì Tứ phần, Thập tụng và Hữu bộ
đều có 90, Ngũ phần có 91, Tăng kỳ có 92; còn loại 7 thì Ngũ phần và Tứ phần có
100, Tăng kỳ có 66, Thập tụng có 113, Hữu bộ có 42. Nhìn đại khái, giới điều quan
trọng thì 5 bộ như nhau, giới điều linh tinh mới khác nhau. Nhìn thêm chút nữa,
giới bản của Tăng kỳ, Ngũ phần và Thập tụng thì lời kệ mở đầu và kết thúc đều
như nhau, chỉ Tứ phần với Hữu bộ mới khác nhau. Xét văn tự thì Tứ phần có chậm
nhất, xét bộ phái thì Tăng kỳ có sớm nhất. Theo ngài Pháp hiển ghi thì
"luật Tăng kỳ này khi Phật tại thế được đại chúng đầu tiên tuân hành, được
lưu truyền tại tinh xá Kỳ hoàn".
Tôi suy đoán
rằng Thượng tọa bộ có 1 bộ luật là bộ được tụng ra trong Đại hội 1 của kiết tập
1. Rồi bộ này được khẩu truyền mà học thuộc lòng cho đến chép ra văn bản là các
bộ luật của các bộ phái khác. Riêng bộ Tăng kỳ của Đại chúng bộ có thể được
tụng ra trong Đại hội 2 của kiết tập 1, nhưng cũng có thể chỉ là thuộc lòng bộ
luật của Đại hội 1. Thế giới Phật giáo thông sử (tập 1 trang 55) nói bộ luật
này là của Thượng tọa bộ căn bản, nay không tìm được. Bộ luật của Paly là của
hệ Phân biệt thuyết thiên về Đại chúng bộ, có sau cả luật Tăng kỳ.
Trên đây là nói
2 bộ luật của 2 bộ gốc là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Còn lại 4 bộ Ngũ phần,
Thập tụng, Tứ phần và Hữu bộ thì toàn là hệ Thượng tọa bộ cả. Ít ra, chính
trong những bộ luật hiện còn mà thấy đại thể giới pháp có thể nói là khá nhất
vị.
(2) Tứ phần
luật gọi đủ là Đàm vô đức Tứ phần luật. Đàm vô đức dịch nghĩa là Pháp tạng hay
Pháp hộ, tên của bộ chủ Pháp tạng bộ. Theo Dị tông luận thì Pháp tạng bộ là thứ
9 trong hệ Thượng tọa bộ, xuất từ Hóa địa bộ và có trong bách kỷ 3 sau Phật
nhập diệt. Luận ấy còn ghi thêm: những học thuyết của Pháp tạng bộ đa số lại
đồng nhất với Đại chúng bộ. Ngài Khuy Cơ còn ghi Pháp tạng bộ nói có 5 pháp
tạng: kinh, luật, luận, minh chú, Bồ tát. Tương truyền ngài Pháp tạng là 1
trong 5 đệ tử của tôn giả Ưu Ba Cúc Đa.
Trung Hoa thì
đời Đường sắp đi, do ngài Đạo Tuyên khởi lập, Luật tông lấy Tứ phần luật làm
căn bản. Lý do vì sao lựa chọn như vậy thì tôi thật chưa rõ, vì chưa đọc đến
các bộ sách quan trọng của ngài Đạo Tuyên viết về Tứ phần luật, dựng lên Luật
tông có học thuyết đàng hoàng. Việc tôi có ý nguyện làm từ lâu là dịch Tỳ kheo
giới bản của Tứ phần luật và làm những gì liên hệ đến giới bản ấy. Trong ý
nguyện ấy, hôm nay tôi làm một phần của phần việc thứ nhất.
Tỳ kheo giới
bản cũng gọi là Giới kinh. Giới kinh ở đây có lúc chỉ cho Tứ phần luật, có lúc
chỉ cho Tỳ kheo giới bản của Tứ phần luật, quan trọng hơn nữa có lúc chỉ cho
các bài tụng của 7 đức Phật (7 đức Phật có 7 bài tụng là có 7 bản Giới kinh).
Riêng đức Bổn sư Thích Ca thì 12 năm đầu của thì gian giáo hóa, Giới kinh chính
là bài tụng được dịch ra 12 câu. Giới kinh này là cho chư tăng vô sự. Sau 12
năm mới có chư tăng hữu sự, tùy sự chế giới, thành ra Giới kinh có 250 giới nói
theo Tứ phần luật.
Tỳ kheo giới
bản của Tứ phần luật kể như có 4 bản. Bản 1 là Tứ phần luật Tỳ kheo hàm chú
giới bản, số hiệu 1806 của Đại tạng kinh bản Đại chính, sẽ được gọi tắt là bản
Đạo Tuyên. Ngài Đạo Tuyên, vị khai lập Luật tông Tứ phần luật, đã biên tập và
lược giải giới bản Tỳ kheo của Tứ phần luật, với phong cách một vị tổ sư. Tôi
quí và tin bản này nhất, không những lấy làm chính văn mà còn lấy làm tài liệu
chính để hiểu và ghi chú chính văn.
Bản 2 có tên
Tân san định Tứ phần tăng giới bản, cũng của ngài Đạo Tuyên. Bản này nằm trong
Vạn 61/267 279. Dầu có bản này, so sánh, tôi vẫn chọn bản 1 làm chính văn.
Bản 3 là Tứ
phần luật Tỳ kheo giới bản, do ngài Hoài Tố biên tập, số hiệu 1429 của Đại tạng
kinh bản Đại chính, sẽ được gọi tắt là bản Hoài Tố. Còn bản 4 là Tứ phần tăng
giới bản, mang số hiệu 1430 của Đại tạng kinh bản Đại chính.
Bản dịch của
tôi lấy bản Đạo Tuyên làm chính văn. Nhưng chính văn ấy đến loại 7 và loại 8,
tức 100 học pháp và 7 diệt tránh, thì lấy bản Hoài Tố. Lý do là vì tên của 2
loại này tuy mục lục bản Đạo Tuyên có ghi, nhưng chính văn bản ấy không ghi đầy
đủ như 6 loại trước. Tên ấy tôi cũng không thấy cần thiết nữa, nên quyết định
lấy chính văn bản Hoài Tố, ở đấy không ghi tên hay số gì cả, số là của bản Đạo
Tuyên.
Cũng xin ghi rõ
là trong khi dịch, các bản dịch của các Hòa thượng Trí thủ và Thiện Hòa cũng
được tham khảo rất nhiều.
Nên nói thêm về
tên giới điều. Trong 8 loại 250 giới, 6 loại đầu có 143 giới thì tên được dịch
cả, còn 2 loại 7 và 8 có 107 giới thì, như mới nói, bản Đạo Tuyên không ghi đầy
đủ nên tôi cũng không dịch. Nhưng điều đáng nói là có ý kiến cho rằng tên giới
điều không nên tư vào chính văn giới điều. Nay tôi xét thấy có lắm chỗ chính
tên giới điều làm cho giới điều rõ hơn lên, chưa kể cái tên làm cho giới điều
như được nói tắt, nói ý chính. Chính sự xét thấy này mà thấy 6 loại trước cần
tư tên, còn 2 loại sau sự ấy không cần thiết nữa.
Trong khi dịch
tôi vấp 1 chữ. Ấy là chữ thời. Có không dưới 10 chữ. Chữ quan trọng và khó hiểu
nhất là ở đoạn kết thúc 13 giới tăng tàn. Dò các bộ luật khác thấy Ngũ phần và
Thập tụng viết thị pháp ưng nhĩ (giới này phải thế), Tăng kỳ viết thị sự pháp
nhĩ (việc này là thế đấy), Hữu bộ viết thử thị xuất tội pháp (đó là cách giải
tội). Như vậy chữ thời có thể hiểu là trường hợp. Thị vị thời đã được dịch đó
là trường hợp này. Những chữ thời sau đó đại khái cũng được dịch là trường hợp
cả.
(3) Tỳ kheo
giới của Tứ phần luật có 250 giới điều, tự chia ra 8 loại, nhắc lại, 8 loại ấy
là một, khí, có 4; hai, tăng tàn, có 13; ba, bất định, có; bốn, xả đọa, có 30;
năm, đọa, có 90; sáu, hối quá, có 4; bảy, học pháp, có 100; tám, diệt tránh, có
7. Có ý kiến nói loại 8 không phải là giới. Nói như vậy xét ra không chính xác.
Loại 8 cũng là giới điều, ở chỗ mỗi giới điều được lập ra do mỗi trường hợp
khác nhau, thêm nữa, khi thi hành mỗi giới điều hay nhiều giới điều này rồi mà
ai ngoan cố thì bị nghiêm trị hơn nữa.
Nay đem 8 loại
250 giới mà xét chung thì thấy có thể chia ra 3 loại. Loại một, là những giới
điều phạm vào thì mất tư cách Tỳ kheo, không còn sám hối hay giải tội gì mà cứu
vãn được nữa. Loại hai là những giới điều mà phạm vào thì tư cách Tỳ kheo chỉ
còn một chút sống thừa, phải được cử tội, xử tội và giải tội bởi 20 vị Tỳ kheo
là ít nhất mới mong cứu vãn. Loại ba đến loại tám là những giới điều chỉ cần
được cử tội, xử tội và giải tội bởi 10 cho đến 1 vị Tỳ kheo là tư cách Tỳ kheo
được cứu vãn.
Dầu phân loại
như vậy mà 250 giới vẫn chưa mất cái cảm giác vụn vặt, mênh mang, nên nay tôi
gặp loại là qui nạp lại, thì 250 giới có thể qui nạp như sau. Trong sự qui nạp
này nên chú ý mấy chi tiết. Chi tiết 1 là đánh số giới điều, tức 1/1 là giới 1
của loại 1, cho đến 8/7 là giới 7 của loại 8. Chi tiết 2 là các mục qui nạp thì
gặp loại là qui nạp, chứ không có thứ tự hay chính yếu thứ yếu gì ở đây. Chi
tiết 3 là những mục ít giới điều thì gọi chung là linh tinh, nhưng có những mục
chỉ có 1 giới điều mà vẫn để riêng vì tính cách quan trọng giới điều ấy.
Dưới đây là qui
nạp 250 giới điều.
Liên hệ đến
dâm: 1/1, 2/1, 2/2, 2/3, 2/4, 2/5, 3/1, 3/2.
Liên hệ đến
đạo: 1/2, 4/30.
Liên hệ đến
sát: 1/3, 5/19, 5/61, 5/62.
Liên hệ đến
vọng: 1/4, 2/8, 2/9, 5/1, 5/2, 5/3, 5/7, 5/8, 5/12, 5/13, 5/68, 5/80.
Liên hệ đến y:
4/1, 4/2, 4/3, 4/4, 4/5, 4/6, 4/7, 4/8, 4/9, 4/10, 4/23, 4/24, 4/27, 4/28,
4/29, 5/60, 5/88, 5/89, 5/90, 7/1, 7/2.
Liên hệ đến cụ:
4/11, 4/12, 4/13, 4/14, 4/15, 4/16, 4/17, 5/87.
Liên hệ đến
việc học Luật: 5/71, 5/72, 5/73, 5/75, 5/76.
Liên hệ đến
Phật: 7/60, 7/61, 7/62, 7/63, 7/64, 7/65, 7/66, 7/67, 7/68, 7/69, 7/70, 7/71,
7/72, 7/73, 7/74, 7/75, 7/76, 7/77, 7/78, 7/79, 7/80, 7/81, 7/82, 7/83, 7/84,
7/85.
Liên hệ đến sự
ăn: 5/31, 5/32, 5/33, 5/34, 5/35, 5/37, 5/38, 5/39, 5/40, 5/41, 5/42, 6/1, 6/2,
6/3, 6/4, 7/26, 7/27, 7/28, 7/29, 7/30, 7/31, 7/32, 7/33, 7/34, 7/35, 7/36,
7/37, 7/38, 7/39, 7/40, 7/41, 7/42, 7/43, 7/44, 7/45, 7/46.
Liên hệ đến tín
đồ: 2/12, 7/3, 7/4, 7/5, 7/6, 7/7, 7/8, 7/9, 7/10, 7/11, 7/12, 7/13, 7/14,
7/15, 7/16, 7/17, 7/18, 7/19, 7/20, 7/21, 7/22, 7/23, 7/24, 7/25, 7/48.
Liên hệ đến sự
diệt tránh: 8/1, 8/2, 8/3, 8/4, 8/5, 8/6, 8/7.
Liên hệ đến sự
thuyết pháp: 7/52, 7/53, 7/54, 7/55, 7/56, 7/57, 7/58, 7/59, 7/86, 7/87, 7/88,
7/89, 7/90, 7/91, 7/92, 7/96, 7/97, 7/98, 7/99, 7/100.
Liên hệ đến Tỳ
kheo ni: 5/21, 5/22, 5/23, 5/24, 5/25, 5/26, 5/27, 5/28, 5/29.
Liên hệ đến nữ
nhân: 5/4, 5/9, 5/30, 5/43, 5/44, 5/45.
Liên hệ đến sự
cư xử trong chư tăng với nhau: 4/25, 5/14, 5/15, 5/16, 5/17, 5/36, 5/46, 5/53,
5/55, 5/58, 5/59, 5/63, 5/64, 5/66, 5/69, 5/70, 5/74, 5/77, 5/78, 5/79.
Liên hệ đến
rượu: 5/51.
Liên hệ đến
người chưa thọ đại giới: 5/5, 5/6, 5/65.
Liên hệ đến sự
phá tăng: 2/10, 2/11.
Liên hệ đến sự
ngoan cố: 2/13, 5/54.
Liên hệ đến
bát: 4/21, 4/22, 7/95.
Linh tinh: của
và của báu: 4/18, 4/19, 4/20, 5/82; làm phòng nhà: 2/6, 2/7, 5/20; thuốc: 4/26,
5/47; đào đất: 5/10; chặt cây: 5/11; giường nằm: 5/18; 5/84, 5/85; đùa giỡn:
5/52, 7/93, 7/94; đốt lửa: 5/57; quân đội: 5/48, 5/49, 5/50; giặc: 5/67; vua:
5/81; đi không phải lúc: 5/83; làm ống kim: 5/86; tắm: 5/56; vệ sinh: 7/47,
7/49, 7/50, 7/51.
Nếu qui nạp lại
lần nữa thì 250 giới chỉ thuộc vào 2 loại mà thôi, ấy là loại giới luật và loại
oai nghi. Loại giới luật là những giới điều cấm tội lỗi thật sự. Loại oai nghi
là những giới điều cấm cử động bất xứng. Trong 8 loại của 250 giới, loại 1 là
giới luật, loại 7 là oai nghi, còn lại là cả hai.
(4) Cuộc đời
như cuộc đời của Phật, nếu có ký sự thì ký sự ấy lượng và chất phải đạt đến tầm
cỡ bậc nhất nhì. Thế nhưng ký sự ấy chỉ nằm rải rác trong các kinh luật. Chỉ có
một cạnh khía ký sự rất rõ rệt. Đó là sự sinh hoạt giới luật của Phật và chư
tăng của Ngài. Sinh hoạt giới luật, từ ngữ này muốn nói sinh hoạt của Phật và
chư tăng của Ngài thì toàn bộ là nhắm vào cuộc sống viễn ly ác pháp. Cạnh khía
này luật tạng của bộ phái nào cũng là bộ ký sự khá về lượng cũng như chất.
Chư tăng của
Phật trong 12 năm đầu gọi là vô sự Tỳ kheo: Tỳ kheo không có gì rắc rối cả.
Giới luật cho chư tăng thì gian này chỉ là bài tụng mà có thể nói vắn tắt là
giữ sạch thân miệng ý. Sau 12 năm mới có kẻ hữu sự, mới có rắc rối. Rắc rối
nhất là cái nhóm 6 người gọi là lục quần Tỳ kheo. Rồi tùy trường hợp rắc rối
xảy ra mà có sự qui định ứng phó lại. Mỗi lần ứng phó là thành một giới điều.
Như vậy cái số lượng 250 giới điều không phải nhiều nhiệc gì đối với tập thể mà
thường xuyên đã có cả ngàn, lại trải qua thì gian ba bốn chục thập kỷ. Nhìn như
thế này thì không những thấy 250 không nhiều, mà còn nhìn thấy cái phàm trong
cái thánh của chư tăng thời Phật, cái phàm chẳng phàm gì nhiều và nặng.
Giới điều tuy
nhiều, mỗi giới điều lại có khai giá (linh động và hạn chế), nhưng căn bản của
giới luật chỉ là thiểu dục tri túc. Thiểu dục là ít ham muốn đối với những gì
chưa có. Tri túc là biết vừa đủ đối những gì đã có. Có thiểu dục tri túc thì
không phạm giới. Giữ giới có nghĩa là thiểu dục tri túc chứ không gì khác.
Nhưng Tỳ kheo
giới được truyền thọ như thế nào? Tỳ kheo giới được truyền thọ, và lãnh thọ,
giữa người sống với người sống, người sống mà phải hiện diện mới đúng phép. Số
người hiện diện truyền thọ thường gọi là thập sư. Nghĩa là phải có 10 vị Tỳ
kheo hiện diện thì việc truyền thọ Tỳ kheo giới mới thành tựu. Qui định này cho
thấy Tỳ kheo giới khi được lãnh thọ rồi thì sẽ được và phải được hộ trì, giám
sát, được cử tội, xử tội và giải tội bởi chính những vị Tỳ kheo khác mà trong
đó có các vị thầy đã truyền thọ.
Không những thọ
giới và trì giới dựa trên cái lực của các vị thầy hiện diện, mà sự sám hối khi
phạm giới lại càng là như vậy. Phạm giới Tỳ kheo thì tùy giới đã phạm mà sám
hối trước 1 cho đến 20 vị Tỳ kheo khác, nghĩa là cũng người hiện diện đối với
người hiện diện chứ không phải khơi khơi mà được.
Thêm nữa, Luật
không cho Sa di đọc Tỳ kheo giới trước khi được thọ giới ấy. Vì thẩm định Sa di
có hay không có tư cách thọ và trì Tỳ kheo giới thì không phải Sa di tự thẩm
định. Mà trách nhiệm là vị thầy. Vị thầy phải giáo dục cho Sa di có tư cách thọ
và trì Tỳ kheo giới, và thẩm định tư cách ấy. Không phải Sa di tự coi Tỳ kheo
giới, tự cho mình có tư cách thọ và trì giới ấy mà được. Do vậy, không ở đâu mà
cái nghĩa thầy trò được nói cho bằng trong luật. "Hòa thượng tự nhiên sinh
tâm thương nhớ đệ tử như con, đệ tử tự nhiên sinh tâm kính trọng Hòa thượng như
cha, siêng năng dạy bảo, lại thêm tôn kính, thì có khả năng làm cho Phật pháp
rộng thêm, làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài" (Ngũ phần, Chính 22/110).
Ngày nay có cái
hiện tượng suy đồi, ấy là thọ giới rồi là rồi, thầy không còn biết đến trò, trò
chẳng còn biết đến thầy. Đôi bên chẳng còn vương vấn gì đến nhau, không còn mà
cũng không muốn giữ một trách nhiệm gì với nhau. Trong khi thọ Tỳ kheo giới là
con người được sinh ra một lần nữa, sinh ra giới thân tuệ mạng. Ấy vậy mà không
mấy ai lấy làm quan trọng sự được sinh ra ấy cả.
(5) Tỳ kheo
giới với Bồ tát giới có tương quan không, và tương quan thì như thế nào? Hãy
đem 2 giới bản Tỳ kheo của Tứ phần và Bồ tát của Phạn võng mà xét thì thấy có
những điều đáng nói sau đây.
Một, Tỳ kheo
giới truyền thọ do người hiện diện cả. Yết ma đắc giới là tăng Yết ma. Rồi nếu
phạm giới thì cử tội, xử tội và giải tội đều là tăng Yết ma. Sám hối cũng là
đối với tăng hiện diện. Bồ tát giới thì cần nhất là vị thầy vừa là giáo thọ vừa
là Hòa thượng, còn Yết ma đắc giới là tác bạch thập phương chư Phật Bồ tát,
nhưng sám hối thì cực kỳ khó khăn.
Hai, Bồ tát
giới lấy sự phát Bồ đề tâm làm căn bản. Có Bồ đề tâm thì có đủ giới pháp, mất
Bồ đề tâm thì giới pháp không những dễ vi phạm, mà có giữ cũng không có ý nghĩa
vì vô thượng Bồ đề mà giữ. Tỳ kheo giới thì tách rời tất cả thân nghiệp và ngữ
nghiệp cần tách rời (Câu xá, Chính 29/73), nên thân và miệng mà tội lỗi hay bất
xứng thì đã là phạm giới.
Ba, Tỳ kheo
giới thì người lãnh thọ bị khảo sát giá nạn rất kỹ phải là người mà quá khứ, bề
trong, bề ngoài và hoàn cảnh đều tương đối coi được mới được thọ giới. Bồ tát
giới không cần đến như vậy, bởi vì trừ Tỳ kheo Bồ tát giới là tăng bảo, mọi bề
ngoài tôn nghiêm đã phải có khi thọ Tỳ kheo giới rồi, còn mọi người ai cũng có
thể được thọ cái giới pháp bản nguyên thanh tịnh của mình, miễn là có thể phát
Bồ đề tâm và hiểu được tiếng nói của vị thầy truyền giới.
Bốn, Tỳ kheo
giới có cái lý do giữ giới là để tránh đời chê ghét (tị thế cơ hiềm). Chính cái
lý do này là cái phần lợi tha của Bồ tát giới. Và chính trong ý nghĩa này mà
nói là giáo hóa chúng sinh, mà nói là duy trì Phật pháp.
(6) Điều phải
nói ở đây là sự phá tăng. Phá tăng là phá Yết ma tăng và phá pháp luân tăng.
Phá Yết ma tăng là dầu chỉ có 4 vị Tỳ kheo mà 1 người không đồng chúng hòa hợp
hay tập hợp, thì sự Yết ma bất thành, mọi tăng sự, kể cả sự thuyết giới, đều
không thể cử hành. Phá pháp luân tăng là dầu chỉ có 9 Tỳ kheo mà 1 người đứng
ra chia rẽ, kéo theo mình 4 người (để đủ số Tỳ kheo làm Yết ma) rồi tự xưng
giáo chủ, xướng ra giáo pháp và lập ra giáo đoàn riêng, nói cách khác là biệt lập
Phật giáo riêng (hay khuynh đảo tổ chức của Phật giáo làm thành tổ chức của
mình).
Phá tăng, như
vậy, là phá hoại Phật giáo. Theo tôn giả Thế Thân, loại tội nặng nhất là 5 tội
vô gián, trong 5 tội ấy tội phá tăng, nhất là phá pháp luân tăng, là tội nặng
nhất, vì "thương tổn pháp thân của Phật". Phá tăng như vậy bản thể là
cuống ngữ. Kẻ phá tăng phải là Tỳ kheo, không phải tại gia hay Tỳ kheo ni mà
làm được, là kẻ tịnh hạnh chứ không phải người phạm giới, bởi vì phạm giới thì
nói không uy tín (Câu xá, Chính 29/93).
Tôn giả Thế
Thân nói còn thiếu một điều, ấy là những kẻ này hay lợi dụng chính quyền hoặc
để cho chính quyền lợi dụng. Kẻ ấy, xưa kia, thời Phật là Đề Bà. Ngày nay, thừa
kế Đề Bà cũng không phải thiếu người. Và cái tội phá tăng nặng đến nỗi phạm vào
thì hết còn nói đến thọ giới trì giới gì nữa. Ấy thế nhưng có điều lạ là Tỳ
kheo giới cũng như Bồ tát giới đều đã không nghiêm khắc đúng mức về tội này.
Bồ tát giới thì
những gì liên quan đến sự phá tăng, thí dụ các điều 47 và 48, chỉ để vào loại
giới pháp nhẹ. Tỳ kheo giới thì như các điều 2/10 và 2/11, chỉ xếp vào loại
tăng tàn, mặc dầu trường hợp có ra 2 giới điều ấy là chính sự phá tăng của Đề
Bà.
Ngày trước, khi
dịch giải Bồ tát giới Phạn võng, tôi đã muốn nêu điều này lên. Nhưng rồi lúc đó
tôi không làm. Nay nêu lên điều này không phải như một nghi vấn, mà là sự phá
tăng ngày nay có chứ không phải không có, vậy mà giới pháp không lên án đúng
mức thì làm sao cảnh tỉnh những kẻ Đề Bà mới, những kẻ tùng đảng với Đề Bà mới?
3/ Phần Đầu Tỳ kheo Giới
Cúi đầu kính
lạy
chư Phật, Phật
pháp
và Tỳ kheo
tăng.
Nay tụng Giới
kinh (1)
là để làm cho
Phật pháp
thường còn.
Giới như biển
cả
không có bờ mé,
lại như ngọc
báu
cầu hoài không
chán.
Muốn giữ tài
sản
của các Thánh
giả (2)
đại chúng họp
lại
nghe tôi tụng
Giới.
Muốn trừ bốn
thứ
gọi là tội khí,
muốn diệt mười
ba
tội lỗi tăng
tàn,
muốn ngăn ba
mươi
tội lỗi xả đọa
(3),
đại chúng họp
lại
nghe tôi tụng
Giới.
Đức Tỳ Bà Thi,
cùng đức Thi
Khí,
đức Tỳ Xá Phù,
đức Câu Lưu
Tôn,
đức Câu Na Hàm,
cùng đức Ca
Diếp
và đức Thích
Ca,
chư Phật như
vậy
đã thuyết Giới
kinh (4).
Nay tôi tụng
lại
Giới kinh như
vậy,
đại chúng cùng
nghe.
Ví như có người
chân đã thương
tổn
thì không thể
nào
tự đi đến đâu,
người nào phá
giới
thì cũng như
vậy
không thể sinh
trong
chư thiên nhân
loại.
Muốn sinh chư
thiên
hay sinh nhân
loại,
thì phải giữ
lấy
đôi chân giới
pháp,
đừng để có điều
vi phạm thương
tổn.
Như người đánh
xe
đi vào đường
hiểm
thì lo xe ấy
rơi chốt gãy
trục,
người mà phá
giới
thì cũng như
vậy,
đối diện cái
chết
lòng đầy lo sợ.
Như người soi
gương
thấy đẹp thì
thích
thấy xấu thì
rầu,
tụng giới cũng
vậy
giới toàn thì
mừng
giới hỏng thì
lo.
Hai quân đánh
nhau
ai gan thì tiến
ai khiếp thì
thoái,
tụng giới cũng
vậy
trong sạch: yên
tâm
dơ bẩn: lo sợ.
Trong cả mọi
người
vua là hơn hết,
trong các dòng
nước
biển là hơn
hết,
trong các sao
đêm
trăng là hơn
hết,
trong các vị
thánh
Phật là hơn
hết,
trong các giới
luật (5)
Giới kinh hơn
hết,
nên đức Thế Tôn
đã qui định rằng
cứ mỗi nửa
tháng
phải tụng một
lần.
Tăng hòa hợp
(6) không? Đáp: tăng hòa hợp.
Tăng tập hợp
chưa? Đáp: tăng tập hợp.
Người chưa thọ
đại giới đã ra chưa? Nếu có thì bảo ra và đáp: người chưa thọ đại giới đã ra;
nếu không thì đáp: trong đây không có người chưa thọ đại giới.
Các vị Tỳ kheo
không đến đây có nói dữ dục và thanh tịnh (7) không? Nếu có thì đáp có và thưa
đúng cách, nếu không thì đáp trong đây không có người nói dữ dục và thanh tịnh.
Chúng Tỳ kheo
ni phái ai đến? Nếu có thì đáp có và thưa đúng cách, nếu không thì đáp trong
đây chúng Tỳ kheo ni không phái ai đến.
Hôm nay tăng
hòa hợp để làm gì? Đáp: để Yết ma tụng giới.
Đại đức tăng
nghe cho, hôm nay là ngày 15, ngày tăng bố tát tụng giới, nếu tăng thấy đến lúc
(8), tăng chấp thuận, thì cử hành bố tát tụng giới. Xin tác bạch như vậy. Tác
bạch thành không? Đáp: thành (9).
Bạch chư đại
đức, nay tôi sắp tụng Ba La Đề Mộc Xoa. Chư vị Tỳ kheo cùng tập hợp một chỗ.
Chư vị hãy lắng nghe, và nhớ nghĩ cho khéo. Nếu tự biết có phạm giới thì phải
tự sám hối, không phạm giới thì hãy im lặng. Vì im lặng mà biết chư đại đức
thanh tịnh. Nếu có ai hỏi thì cũng trả lời như vậy. Thế nên vị Tỳ kheo ở trong
đại chúng được hỏi đến lần thứ 3, và nhớ nghĩ mình có tội, mà không sám hối,
thì bị tội cố ý nói dối. Mà nói dối thì Phật đã dạy là sự cản trở thánh đạo
(10). Nếu vị Tỳ kheo nhớ nghĩ mình có tội và muốn được thanh tịnh thì phải sám
hối. Sám hối thì yên vui.
Bạch chư đại
đức, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh. Nay xin hỏi chư đại đức, trong lời
nói đầu ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong lời nói
đầu ấy chư vị thanh tịnh cả, vì chư vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc (11)
như vậy.
5/ Bốn Giới Khí
Bạch chư đại
đức, 4 giới Ba la di (12) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được
rút ra từ trong giới kinh.
Thứ 1 giới đại
dâm dục. Nếu Tỳ kheo đồng giới pháp với Tỳ kheo khác (12b), không xả giới,
nhưng giới kém mà không tự hối, phạm vào sự bất tịnh (13) cho đến cùng với súc
vật, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung (14) với chư
tăng.
Thứ 2 giới đại
trộm cắp. Nếu Tỳ kheo ở trong xóm làng hay nơi vắng vẻ, lấy của người ta không
cho với ý thức ăn trộm; tùy tội lấy của không cho mà bị vua, hay đại thần của
vua, bắt, giết, trói, đuổi ra khỏi xứ, mắng rằng anh là giặc, anh ngu si, anh
không biết gì, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư
tăng.
Thứ 3 giới đại
sát hại. Nếu Tỳ kheo cố ý tự tay sát hại mạng người, hoặc cầm dao đưa cho
người, hoặc khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, rằng quái lạ, anh kia,
sống khốn nạn như vậy làm gì, thà chết, đừng sống; với ý thức như vậy mà nghĩ
mọi cách để khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, thì phạm Ba la di của Tỳ
kheo, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 4 giới đại
vọng ngữ. Nếu Tỳ kheo thật không biết gì mà tự xưng tôi được pháp của bậc
thượng nhân, tôi đã nhập vào pháp siêu việt của thánh trí, tôi biết như vậy,
tôi thấy như vậy; qua thì gian khác, hoặc được hỏi hoặc không được hỏi, mà muốn
tự thanh tịnh nên nói rằng tôi thật không thấy không biết gì mà nói biết nói
thấy, thì, trừ tăng thượng mạn (15), phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được
sống chung với chư tăng.
Bạch chư đại
đức, tôi đã nói 4 giới Ba la di. Nếu Tỳ kheo phạm vào mỗi một Ba la di, thì
không còn được sống chung với chư tăng. Như khi chưa thọ đại giới, thọ đại giới
rồi mà vi phạm thì cũng vậy. Nên Tỳ kheo bị tội Ba la di thì không nên sống
chung với chư tăng. Vậy nay xin hỏi chư đại đức, trong 4 giới ấy có thanh tịnh
cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 4 giới ấy các vị thanh tịnh cả,
vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy. 6/ Mười Ba Giới Tăng Tàn
Bạch chư đại
đức, 13 giới Tăng già bà thi sa (16) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một
lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới cố
làm xuất tinh. Nếu Tỳ kheo cố ý lộng âm xuất tinh (17) thì, trừ chiêm bao, phạm
Tăng già bà thi sa.
Thứ 2 giới chạm
thân nữ nhân. Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà chạm nhau với thân nữ nhân,
hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc chạm vào mỗi một thân phần, thì phạm Tăng già
bà thi sa.
Thứ 3 giới nói
năng thô tục (18). Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà nói năng thô tục dâm đãng
với nữ nhân; nói năng thô tục dâm đãng thì phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 4 giới đòi
hiến dâm dục (19). Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà đối diện với nữ nhân tự ca
tụng mình, rằng cô em, tôi tu phạm hạnh, giữ giới, tinh tiến, tu các thiện
pháp; cô em hãy đem sự dâm dục mà hiến cho tôi, hiến như vậy là hơn hết, thì
phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 5 giới làm
người mai mối. Nếu Tỳ kheo qua lại đôi bên để làm mai mối, đem ý người nam nói
với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư
thông với nhau, thì dầu chỉ chốc lát cũng phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 6 giới làm
nhà (20) quá mức. Nếu Tỳ kheo tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm
cho mình, thì phải làm đúng mức. Mức ở đây là dài bằng 12 gang tay của Phật,
rộng bằng 7 gang tay của Ngài. Lại phải thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ. Chư
Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi
chỗ tai nạn và chướng ngại mà tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm
cho mình, không thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ, lại làm quá mức, thì phạm
Tăng già bà thi sa.
Thứ 7 giới
không thỉnh chỉ định (21). Nếu Tỳ kheo muốn làm nhà lớn mà có thí chủ, làm cho
mình, thì phải thỉnh chư Tỳ kheo đến chỉ định nơi chỗ. Chư Tỳ kheo nên chỉ định
nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi chỗ tai nạn và
chướng ngại mà làm nhà lớn, có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư Tỳ
kheo đến chỉ định nơi chỗ, thì phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 8 giới vu
khống phỉ báng (22). Nếu Tỳ kheo vì tức giận, đối với vị Tỳ kheo không phạm tội
Ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị ấy phạm tội Ba la di, phỉ báng với
ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thì gian khác, được hỏi
hay không được hỏi, Tỳ kheo biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì
tôi tức giận nên phỉ báng như vậy. Tỳ kheo phỉ báng như vậy thì phạm Tăng già
bà thi sa.
Thứ 9 giới
xuyên tạc phỉ báng (23). Nếu Tỳ kheo vì tức giận nên lấy một cạnh khía của việc
khác, đối với vị Tỳ kheo không phạm Ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng
rằng phạm tội Ba la di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thì
gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ấy biết mình lấy một cạnh khía
của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì phạm Tăng già
bà thi sa.
Thứ 10 giới phá
tăng hòa hợp (24). Nếu Tỳ kheo muốn phá hoại tăng hòa hợp (25) nên hành động
mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà
kiên trì không bỏ. Các vị Tỳ kheo nên can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng
phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp
nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại đức, hãy cùng
tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa
hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỳ kheo ấy khi
được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián
đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà
bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già ba thi sa.
Thứ 11 giới hỗ
trợ phá tăng (26). Nếu Tỳ kheo ấy có phe cánh, một Tỳ kheo, hai Tỳ kheo, ba Tỳ
kheo cho đến vô số Tỳ kheo; những Tỳ kheo phe cánh này nói với các vị Tỳ kheo,
rằng chư đại đức, xin đừng can gián Tỳ kheo ấy, Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng
giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ
kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các vị Tỳ kheo trả lời: các đại đức, đừng nói
như vậy, rằng Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới
luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận.
Bởi vì Tỳ kheo ấy không phải là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, không phải là Tỳ
kheo nói đúng giới luật. Các đại đức, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các
đại đức, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại đức, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan
hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong
Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những Tỳ kheo ấy khi được can gián
như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ
3, vì để những Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ
thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 12 giới
hoen ố tín đồ (27). Nếu Tỳ kheo sống trong xóm làng hay thành thị mà làm hoen ố
tín đồ và làm những việc xấu (28), làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm
những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị Tỳ kheo nói với Tỳ kheo ấy, rằng đại đức,
đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng
thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại đức đã làm hoen ố tín đồ
và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa.
Tỳ kheo ấy nói với các vị Tỳ kheo, với lời nói như vầy: chư đại đức, các vị có
tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những Tỳ kheo đồng tội mà người bị đuổi
người không bị đuổi. Các vị Tỳ kheo can rằng, đại đức, đừng nói như vậy, rằng
chư Tỳ kheo có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những Tỳ kheo đồng tội
mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì chư Tỳ kheo không tham, không sân,
không si, không sợ. Đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm
hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỳ kheo
ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên
can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần
thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già bà thi sa.
Thứ 13 giới
ngoan cố chống cự (29). Nếu Tỳ kheo tính tình ngoan cố, không nghe ai hết;
trong giới luật, các vị Tỳ kheo đã can gián đúng phép mà bản thân Tỳ kheo ấy
không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng, chư đại đức, đừng hướng về tôi
mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại đức mà nói các ngài
tốt hay các ngài xấu. Chư đại đức hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các
vị Tỳ kheo can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng nên chính mình không chịu ai
can gián. Đại đức nên chính mình chịu can gián. Đại đức hãy can gián chư Tỳ
kheo một cách đúng phép, chư Tỳ kheo cũng can gián đại đức một cách đúng phép.
Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho
nhau, sám hối với nhau. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì
không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự
kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng
già bà thi sa.
Bạch chư đại
đức, tôi đã nói 13 giới Tăng già bà thi sa mà 9 giới trước thì mới phạm là
thành tội, 4 giới sau thì sau lần can gián thứ 3 mới thành tội. Nếu Tỳ kheo
phạm mỗi một giới, biết mình phạm mà cố che giấu, thì chư tăng phải buộc Tỳ
kheo ấy thi hành phép sống riêng (30). Thi hành phép sống riêng rồi phải thi
hành thêm phép hoan hỷ (31) trong 6 đêm ngày. Thi hành phép hoan hỷ rồi chư
tăng giải tội cho. Phải giữa 20 vị Tỳ kheo mà giải tội cho Tỳ kheo ấy; nếu
thiếu 1 vị, không đủ 20 vị Tỳ kheo, thì có giải tội đi nữa, tội của Tỳ kheo ấy
cũng không giải được, mà chư tăng cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (32)
này. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 13 giới Tăng già bà thi sa ấy có thanh tịnh
cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 13 giới ấy các vị thanh tịnh cả,
vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy. 7/ Hai Giới Bất Định
Bạch chư đại
đức, 2 giới bất định (33) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được
rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới ngồi
ở chỗ khuất. Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi riêng ở chỗ khuất, chỗ che, chỗ
ngăn, chỗ có thể hành dâm, mà nói những lời phi giới pháp. Có người nữ tín đồ
đầy đủ tín tâm (34), nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 3 tội sau đây, tội Ba la di,
tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi phạm tội ấy.
Như vậy thì phải trị theo 1 trong 3 tội sau đây, tội Ba la di, tội Tăng già bà
thi sa, tội Ba dật đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị
tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.
Thứ 2 giới ngồi
ở chỗ trống. Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi ở chỗ trống, chỗ không thể hành dâm,
mà nói thô tục. Có người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 2
tội sau đây, tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi
phạm tội ấy. Như vậy thì phải trị theo 1 trong 2 tội sau đây, tội Tăng già bà
thi sa, tội Ba dật đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị
tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.
Bạch chư đại
đức, tôi đã nói 2 giới bất định. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 2 giới ấy có
thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 2 giới ấy các vị
thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy. 8/ Ba Mươi Giới Xả Đọa
Bạch chư đại
đức, 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề (35) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một
lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới cất
y quá hạn. Nếu Tỳ kheo 3 y (36) đã hoàn chỉnh, y công đức (37) đã xả, mà cất
giữ trường y (38), thì không làm tịnh thí (39) cũng được cất giữ, nhưng quá 10
ngày thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 2 giới rời
y mà ngủ. Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh, y công đức đã xả, mà trong 3 y rời 1 y
ngủ khác chỗ (39b), thì, trừ được tăng Yết ma (40) cho phép, phạm Ni tát kỳ Ba
dật đề.
Thứ 3 giới cất
vải quá hạn. Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh (41), y công đức đã xả, nhưng Tỳ kheo
ấy được vải phi thời, vậy cần thì cứ nhận, nhận rồi may y cho mau thành. Nếu
vải đủ thì tốt, nếu vải không đủ thì được phép cất lại 1 tháng, chờ cho đủ vải.
Nếu cất lại quá hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 4 giới lấy
y không thân (42). Nếu Tỳ kheo lấy y của Tỳ kheo ni không phải thân quyến của
mình, thì, trừ sự trao đổi, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 5 giới bảo
giặt y cũ (43). Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình giặt
y cũ, hoặc nhuộm hoặc vỗ, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 6 giới xin
người y mới (44). Nếu Tỳ kheo xin y mới nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân
quyến của mình, thì, trừ trường hợp khác, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Trường hợp
khác là nếu y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, như vậy gọi là trường hợp
khác.
Thứ 7 giới lấy
vải quá phận. Nếu Tỳ kheo y bị mất, bị cướp, bị cháy, bị trôi, và nếu cư sĩ hay
vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình tự ý xin cho nhiều vải, thì Tỳ kheo ấy
nên nhận vải ấy theo sự biết vừa đủ. Nếu nhận nhiều hơn thì phạm Ni tát kỳ Ba
dật đề.
Thứ 8 giới xin
thêm tiền y (45). Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo
ấy, nói rằng sắm số tiền may y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo
ấy trước không có nhận lời xin tùy ý (45b) vậy mà vì muốn được y tốt nên đến
nhà cư sĩ, nói như thế này: tốt lắm, cư sĩ, hãy vì tôi mà mua sắm cái y như vậy
cho tôi. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 9 giới
khuyên chung tiền lại (46). Nếu Tỳ kheo có 2 cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y
cho Tỳ kheo ấy, nói rằng mua y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo
ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, vậy mà vì muốn được y tốt nên đến 2 nhà
cư sĩ nói như vầy: tốt lắm, cư sĩ, hãy sắm tiền mua y như vậy, chung nhau mà
mua cho tôi 1 cái y. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 10 giới đòi
y quá hạn. Nếu Tỳ kheo có vua, đại thần, bà la môn, cư sĩ và vợ cư sĩ, phái
người đưa số tiền sắm y đến cho Tỳ kheo ấy, nói rằng hãy cầm tiền sắm y này đến
đưa cho vị Tỳ kheo tên như vậy. Người được phái đến chỗ Tỳ kheo ấy, nói với Tỳ
kheo ấy, rằng bạch đại đức, nay con đem tiền sắm y đến cho ngài, xin ngài nhận
lấy. Tỳ kheo ấy nói như thế này với người được phái, rằng tôi không nên nhận số
tiền sắm y này; nếu khi tôi cần y thì phải đúng và thanh tịnh mới nhận được.
Người được phái nói với Tỳ kheo ấy, rằng bạch đại đức, ngài có người giúp việc
không? Tỳ kheo ấy nói có; có người ở trong chùa kia, có người nam cư sĩ kia, họ
là những người giúp việc của các Tỳ kheo, thường giúp việc cho các ngài. Bấy
giờ người được phái đi đến nơi người giúp việc, giao số tiền sắm y, rồi trở lại
chỗ Tỳ kheo ấy, nói như vầy: bạch đại đức, người giúp việc tên như vậy, mà ngài
đã chỉ, con đã giao cho người ấy số tiền sắm y. Khi nào đại đức thấy đúng lúc
thì xin ngài đến người ấy, sẽ sắm được y. Tỳ kheo ấy khi cần y thì nên đến
người giúp việc mà, lần thứ hai và lần thứ ba, nhắc cho người ấy nhớ, bằng cách
nói rằng tôi cần y; nếu lần thứ hai và lần thứ ba nhắc cho người ấy nhớ mà được
y thì tốt. Nếu không được y thì lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, hãy yên
lặng đứng trước người ấy; nếu lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, yên lặng
đứng trước người ấy mà được y thì tốt. Nếu không được y mà đòi quá giới hạn nói
trên để cho được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Nếu không được y thì tự mình
đi hay phái người đi, đến nơi người cho tiền sắm y mà nói, rằng trước đây người
phái người đem tiền sắm y đến cho tôi, Tỳ kheo tên như vậy; nhưng rốt cuộc tôi
không được y, vậy người hãy đi lấy về, đừng để mất đi. Đó là trường hợp có thể
làm.
Thứ 11 giới
ngọa cụ tơ tằm. Nếu Tỳ kheo kiếm tơ tằm xen với tơ lụa mà làm ngọa cụ mới, thì
phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 12 giới
ngọa cụ lông đen. Nếu Tỳ kheo lấy lông dê mới và toàn đen mà làm ngọa cụ mới,
thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 13 giới
ngọa cụ lông trắng. Nếu Tỳ kheo làm ngọa cụ mới thì nên dùng lông dê mà 2 phần
màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn; nếu Tỳ kheo ấy không dùng 2
phần màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn (46b) mà làm ngọa cụ mới,
thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 14 giới
ngọa cụ còn mới (47). Nếu Tỳ kheo thì làm ngọa cụ mới, phải dùng đến 6 năm. Nếu
dưới 6 năm, không xả bỏ cái cũ mà thay vào đó làm cái mới, thì, trừ tăng Yết ma
cho phép, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 15 giới tọa
cụ toàn mới (48). Nếu Tỳ kheo làm tọa cụ mới thì phải lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông
vức 1 gang tay, may chồng lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi. Nếu
làm tọa cụ mới mà không lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức 1 gang tay, may chồng
lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 16 giới cầm
lông quá hạn (49). Nếu Tỳ kheo đi đường được lông dê, không có ai cầm giúp, thì
mình được phép cầm lấy, nhưng cầm đi cho đến 3 do tuần mà thôi. Nếu không có ai
cầm giúp, mình tự cầm lấy mà đi quá 3 do tuần, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 17 giới nhờ
giặt lông dê (50). Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến giặt, nhuộm
và vỗ giúp lông dê, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 18 giới cầm
lấy tiền của (51). Nếu Tỳ kheo tự tay cầm lấy tiền, cầm lấy bạc vàng, hoặc bảo
người cầm lấy, hoặc nhận lấy bằng cách bảo để xuống mặt đất, thì phạm Ni tát kỳ
Ba dật đề.
Thứ 19 giới đổi
chác tiền của (52). Nếu Tỳ kheo mà đổi chác (53) các thứ tiền và của báu, thì
phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 20 giới
buôn bán các thứ. Nếu Tỳ kheo mà mua rẻ bán đắt mọi thứ, thì phạm Ni tát kỳ Ba
dật đề.
Thứ 21 giới cất
bát quá hạn. Nếu Tỳ kheo cất giữ trường bát (53b) mà không tịnh thí, thì chỉ
được phép cất giữ 10 ngày. Quá thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 22 giới
kiếm bát quá phận. Nếu Tỳ kheo dùng cái bát chưa đủ 5 chỗ hàn bịt, bát ấy cũng
chưa rỉ nước, vậy mà thay vào đó đi tìm bát mới cho đẹp, thì phạm Ni tát kỳ Ba
dật đề. Tỳ kheo ấy nên đến giữa chư tăng mà xả bỏ bát mới ấy, và chư tăng tuần
tự lấy cái bát của người thấp nhất (53c) đưa cho Tỳ kheo ấy dùng, và dùng cho đến
bể. Đó là đúng trường hợp.
Thứ 23 giới
kiếm chỉ dệt y (54). Nếu Tỳ kheo tự xin chỉ dệt, bảo thợ dệt không phải thân
quyến của mình dệt y giúp, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 24 giới bảo
thợ dệt thêm (55). Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ bảo thợ dệt dệt y cho Tỳ
kheo ấy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, lại đi đến chỗ thợ dệt,
bảo rằng y này là dệt cho tôi, vậy anh dệt giúp cho thật đẹp, dệt cho rộng và
bền, tốn thêm nhiều ít gì tôi cũng sẽ trả cho anh. Tỳ kheo ấy trả thêm tiền dầu
chỉ đáng giá một bữa ăn mà được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 25 giới
đoạt lấy y lại. Nếu Tỳ kheo trước cho y Tỳ kheo khác, sau vì tức giâển nên tự
đoạt lại, hay bảo người đoạt, và rằng hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho ông
nữa. Tỳ kheo kia trả y, mà Tỳ kheo ấy lấy y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 26 giới cất
thuốc quá hạn (56). Nếu Tỳ kheo có bịnh, thì thuốc dư như sữa tô, dầu, sữa tô
tươi, mật ong, đường phèn, được dùng trong thì hạn 7 ngày. Nếu quá 7 ngày mà
còn dùng thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 27 giới
khăn tắm trước hạn (57). Nếu Tỳ kheo thì mùa xuân còn 1 tháng nên kiếm khăn tắm
mưa, còn nửa tháng nên dùng mà tắm. Nếu Tỳ kheo mà trước kiết hạ hơn 1 tháng đã
kiếm khăn tắm mưa, trước kiết hạ hơn nửa tháng đã dùng mà tắm (58), thì phạm Ni
tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 28 giới cất
y cúng gấp (59). Nếu Tỳ kheo còn 10 ngày nữa thì hết kiết hạ 3 tháng (60), chư
Tỳ kheo được phép nhận y cúng vội vàng. Tỳ kheo ấy biết là y cúng vội vàng thì
nên nhận, nhận rồi được cất giữ trong thì hạn của y ấy (61). Nếu cất giữ quá
thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 29 giới rời
y quá hạn (62). Nếu Tỳ kheo kiết hạ 3 tháng đã xong, sau đó 1 tháng ca đề (63)
cũng hết, đến ở chỗ a lan nhã (64), mà là chỗ có sự nghi ngại, khiếp sợ. Tỳ
kheo ấy ở chỗ như vậy, thì trong 3 y, muốn thì gửi để 1 y trong nhà thôn xóm.
Tỳ kheo ấy có lý do như vậy thì được phép rời y mà ngủ đến 6 đêm. Rời quá thì
hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 30 giới
xoay vật chư tăng (65). Nếu Tỳ kheo biết đó là vật người ta muốn hiến cúng cho
chư tăng, mà mình tìm cách xoay lại hiến cúng cho mình, thì phạm Ni tát kỳ Ba
dật đề.
Bạch chư đại
đức, tôi đã nói 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 30
giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 30 giới ấy
các vị thanh tịnh cả, vì các vị im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
9/ Chín mươi Giới Đọa
Bạch chư đại
đức, 90 giới Ba dật đề (66) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được
rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới cố ý
nói dối. Nếu Tỳ kheo biết (67) mà nói dối, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 2 giới
chưởi mắng thành phần (68). Nếu Tỳ kheo đem thành phần xã hội ra mà chưởi mắng,
thì phạm Ba dật đề.
Thứ 3 giới nói
để ly gián (69). Nếu Tỳ kheo nói ly gián thì phạm Ba dật đề.
Thứ 4 giới ngủ
cùng một nhà (70). Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngủ một nhà thì phạm Ba dật đề.
Thứ 5 giới ngủ
quá thì hạn (71). Nếu Tỳ kheo cùng ngủ với người chưa thọ đại giới mà quá 2
đêm, đến đêm thứ 3 thì phạm Ba dật đề.
Thứ 6 giới đọc
tụng ồn náo (72). Nếu Tỳ kheo cùng với người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh
pháp một cách ồn náo thì phạm Ba dật đề.
Thứ 7 giới nói
tội lỗi nặng. Nếu Tỳ kheo biết người có tội lỗi nặng mà đem nói với người chưa
thọ đại giới, thì, trừ tăng Yết ma sai bảo, phạm Ba dật đề.
Thứ 8 giới nói
thật đắc đạo (73). Nếu Tỳ kheo nói với người chưa thọ đại giới, rằng tôi được
cái pháp hơn người, tôi thấy như vậy, tôi biết như vậy; nói thật như vậy thì
phạm Ba dật đề.
Thứ 9 giới một
mình thuyết pháp (74). Nếu Tỳ kheo thuyết pháp cho nữ nhân mà quá năm sáu lời
(75), thì, trừ sự có mặt của nam tử trí thức, phạm Ba dật đề.
Thứ 10 giới đào
cuốc đất đai. Nếu Tỳ kheo tự tay đào đất hay bảo người đào đất thì phạm Ba dật
đề.
Thứ 11 giới
chặt phá cây sống. Nếu Tỳ kheo chặt phá cây cối, có nghĩa phá hủy chỗ ở của quỉ
thần và sinh vật (76), thì phạm Ba dật đề.
Thứ 12 giới nói
làm bực mình. Nếu Tỳ kheo bày đặt nói quanh để làm người khác bực mình, thì
phạm Ba dật đề.
Thứ 13 giới
ghét mắng tri sự. Nếu Tỳ kheo ghét mắng chức sự của chư tăng thì phạm Ba dật
đề.
Thứ 14 giới
trải đồ đất trống (77). Nếu Tỳ kheo đem đồ của chư tăng như giường giây (78),
giường cây, đồ nằm và nệm ngồi, tự sắp ra trên mặt đất trống, hay bảo người sắp
ra, dùng rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm
Ba dật đề.
Thứ 15 giới
trải đồ chỗ che (79). Nếu Tỳ kheo sắp đồ nằm của chư tăng ra trong tăng phòng,
tự mình sắp ra hay bảo người sắp ra, rồi hoặc ngồi hoặc nằm, nhưng khi đi thì
không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 16 giới
cưỡng chiếm chỗ nằm (80). Nếu Tỳ kheo biết chỗ của Tỳ kheo ở trước, mình đến
sau mà cưỡng chiếm ở giữa, trải đồ nằm ra ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng nếu Tỳ kheo
ở trước hiềm chật quá thì sẽ tự tránh mình mà đi. Ấy là muốn làm như thế chứ
không có lý do gì khác. Phi uy nghi như vậy thì phạm Ba dật đề.
Thứ 17 giới lôi
ra khỏi phòng. Nếu Tỳ kheo tức giận, không ưa Tỳ kheo khác, nên trong phòng hay
trong nhà của chư tăng mà tự mình lôi ra hay bảo người lôi ra, thì phạm Ba dật
đề.
Thứ 18 giới
ngồi giường sút chân. Nếu Tỳ kheo ở trong phòng hay trên gác, mà ngồi hay nằm
trên giường giây hay giường cây sút chân, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 19 giới
dùng nước có trùng. Nếu Tỳ kheo biết nước có trùng mà tự đem dội trên đất trên
cỏ, hay bảo người dội, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 20 giới lợp
nhà quá mức. Nếu Tỳ kheo làm phòng hay nhà lớn, có cửa cánh, cửa sổ, và những
đồ trang trí khác, thì chỉ bảo lợp tranh chừng hai hay ba lớp. Lợp quá thì phạm
Ba dật đề.
Thứ 21 giới tự
đi dạy ni. Nếu Tỳ kheo chư tăng không sai phái mà tự đi giáo thọ cho Tỳ kheo
ni, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 22 giới
thuyết pháp đến tối (81). Nếu Tỳ kheo được chư tăng sai phái đi giáo thọ cho Tỳ
kheo ni, mà đi đến trời tối thì phạm Ba dật đề.
Thứ 23 giới phỉ
báng giáo thọ. Nếu Tỳ kheo nói với các Tỳ kheo khác bằng lời nói như vầy: các
Tỳ kheo chỉ vì sự ăn uống mà đi giáo thọ cho Tỳ kheo ni, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 24 giới đem
y cho ni (82). Nếu Tỳ kheo đem y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình,
thì, trừ sự trao đổi, phạm Ba dật đề.
Thứ 25 giới may
y cho ni (83). Nếu Tỳ kheo may y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình
thì phạm Ba dật đề.
Thứ 26 giới
cùng ngồi với ni. Nếu Tỳ kheo cùng với Tỳ kheo ni ngồi ở chỗ khuất, ngăn, thì
phạm Ba dật đề. Thứ 27 giới hẹn ni cùng đi. Nếu Tỳ kheo hẹn với Tỳ kheo ni đi chung một đư |


