| Con Đường Hạnh Phúc |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát | |||||||||
| Viết bởi Viên Minh và Trần Minh Tài | |||||||||
Trang 1 của 4 Danh từ "Đạo Phật" bị khai thác và lạm dụng đến mức tối đa tại Việt Nam. Trong lịch sử truyền bá Đạo Phật ở Đông cũng như Tây chưa bao giờ Phật giáo bị phân hóa trầm trọng như trên giải đất vốn đã phân hóa này. Hàng trăm Giáo hội và đoàn thể bắt đầu bằng hai chữ Phật giáo mà lắm khi thực chất lại đi ngược lại với Giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Qua các nhãn hiệu đó, dĩ nhiên Đạo Phật bị hiểu lầm một cách đáng tiếc, thi sĩ Hồ Xuân Hương là nhân chứng của tệ trạng đó, và ngày nay phim ảnh cải lương, tiểu thuyết đã dùng thành ngữ "xuất gia đầu Phật" như một lối thoát cho những nhân vật bị thất tình, thất chí, bi ai, tuyệt vọng. Thảo nào mà người ta thường chụp cho Đạo Phật cái mũ bi quan yếm thế. Một người Phật tử chân chánh như quí vị hẳn phải cảm thấy cô đơn giữa những người cùng mang tên là Phật tử. Nhưng thưa quí vị, Đạo Phật vẫn còn đó với Chân lý siêu thoát sáng ngời cho những ai có tai để nghe, có mắt để thấy, có Trí tuệ để lãnh hội và có ý chí để thực hành. Con Đường Hạnh PhúcViên Minh và Trần Minh Tài soạnNhà Xuất Bản Tôn giáo Hà Nội 2005Mục lụcLời Mở Đầu 1/ Khía Cạnh Thực Tế Của Đạo Phật 2/ Ý Nghĩa Thực Chứng Của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni 3/ Con Đường Hạnh Phúc 4/ Vô Thường 5/ Đối Diện Với Đau Khổ 6/ Phật Giáo Và Sự Thờ Cúng 7/ Triết Lý Về Nghiệp 8/ Cúng Dường Cao Thượng 9/ Chuyển Hóa Tư Tưởng 10/ Thu Thúc Lục Căn 11/ Ba Nguyên Nhân Phát Sanh Trí Tuệ 12/ Con Đường Giải Thoát 13/ Chánh Ngữ 14/ Phật Giáo Có Phải Là Một Tôn Giáo Không? 15/ Tấm Gương Người Con Hiếu 16/ Chiến Thắng Ma Vương 17/ Tam Chướng Và Cách Đối Trị 28/ Nhận Định Về Cái Khổ Theo Quan Niệm Phật Giáo. 19/ Nhận Lãnh Trách Nhiệm 20/ Thoát Vòng Nô Lệ 21/ Vô Ngã 22/ Tiến Trình Giải Thoát 23/ Thất Giác Chi Lời Mở ĐầuDanh từ "Đạo Phật" bị khai thác và lạm dụng đến mức tối đa tại Việt Nam. Trong lịch sử truyền bá Đạo Phật ở Đông cũng như Tây chưa bao giờ Phật giáo bị phân hóa trầm trọng như trên giải đất vốn đã phân hóa này. Hàng trăm Giáo hội và đoàn thể bắt đầu bằng hai chữ Phật giáo mà lắm khi thực chất lại đi ngược lại với Giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Qua các nhãn hiệu đó, dĩ nhiên Đạo Phật bị hiểu lầm một cách đáng tiếc, thi sĩ Hồ Xuân Hương là nhân chứng của tệ trạng đó, và ngày nay phim ảnh cải lương, tiểu thuyết đã dùng thành ngữ "xuất gia đầu Phật" như một lối thoát cho những nhân vật bị thất tình, thất chí, bi ai, tuyệt vọng. Thảo nào mà người ta thường chụp cho Đạo Phật cái mũ bi quan yếm thế. Một người Phật tử chân chánh như quí vị hẳn phải cảm thấy cô đơn giữa những người cùng mang tên là Phật tử. Nhưng thưa quí vị, Đạo Phật vẫn còn đó với Chân lý siêu thoát sáng ngời cho những ai có tai để nghe, có mắt để thấy, có Trí tuệ để lãnh hội và có ý chí để thực hành. Với niềm thao thức bảo tồn và phát huy Giáo lý nguyên thủy, chúng tôi mạo muội giới thiệu Đạo Phật như một Con Đường Hạnh Phúc, sống thực và dung dị cho tất cả mọi người, chứ không phải thứ Đạo Phật đã bị bóp méo, xuyên tạc qua các nhãn hiệu mà người ta đã gắn vào nó. Tuy nhiên chúng tôi tự nhận là đã vấp phải nhiều khuyết điểm đáng trách trong việc trình bày Giáo lý thậm thâm vi diệu của Đức Phật. Nguyên những bài Giáo lý trong tập sách này là những bài viết để đọc hàng tuần trên đài phát thanh và đã được một số Phật tử theo dõi chương trình yêu cầu cho in thành sách. Chính vì thế mà chúng tôi đã gặp những khó khăn sau đây: - Thì giờ dành cho bài Giáo lý chỉ có 15 phút nên phải cố gắng thu ngắn vấn đề trong một giới hạn nhất định, và tất nhiên là không thể diễn tả được đầy đủ ý nghĩa. - Nhiều ý trong các bài Giáo lý có khi trùng nhau, vì mỗi tuần mục Giáo lý đến với thính giả chỉ có một lần, nên khi phát thanh chúng tôi đã cố ý lập đi lập lại những điểm then chốt cho thính giả dễ ghi nhận. - Và cuối cùng, điều đáng trách nhất, là vì bận rộn nhiều công tác Phật sự khác, chúng tôi đã viết bài một cách quá vội vàng và trước khi cho in chúng tôi cũng không có đủ thì giờ để sửa lại nên không tránh nổi những lẩm cẩm cả ý lẫn văn. Vì vậy chúng tôi kính cẩn xin các bậc Trưởng Thượng uyên thâm đạo lý chỉ điểm những chỗ sai lầm và rất hân hoan đón nhận những ý kiến xây dựng của các bạn Phật tử bốn phương để lần tái bản được hoàn hảo hơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Soạn giả: Viên Minh và Trần Minh Tài 1/ Khía Cạnh Thực Tế Của Đạo PhậtNhiều người khi tìm hiểu Phật giáo đã đặt ra những câu hỏi xa vời như: Niết bàn là gì? Làm sao biết có kiếp sau? Vũ trụ do đâu mà hiện hữu? Con người từ đâu đến và sau khi chết họ sẽ đi về đâu? v.v... Nhưng ít khi họ nghĩ đến những vấn đề thiết thực như: Đạo Phật có đáp ứng được những nguyện vọng của chúng ta trong hiện tại không? Đối với Đạo Phật, làm thế nào để sống một đời sống hạnh phúc? Đạo Phật có chủ trương xây dựng một xã hội lành mạnh hay không? Thực tế hơn nữa, câu hỏi mà chúng ta nên đặt ra nhất là: nhân loại đang đau khổ vì tranh dành lẫn nhau ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quyền lợi, danh dự v.v... Vậy Đạo Phật có giải pháp nào giúp con người thoát khỏi những khổ đau ấy không? Không phải vấn đề "Niết bàn hay kiếp sau" hoàn toàn không nên đặt ra để bàn cãi, suy luận, nhưng có những vấn đề thiết thực và cấp bách hơn cần được giải quyết ngay trong chính đời sống hằng ngày của chúng ta. Trong một cuốn sách viết về Phật giáo, Đại đức Ananda nhấn mạnh: "Bí quyết của đời sống thành công và hạnh phúc là luôn luôn làm những việc cần phải làm trong hiện tại, không thắc mắc cho tương lai, không hối tiếc quá khứ." Nguyện vọng của con người là làm sao để sống một đời sống hạnh phúc, mà bí quyết để tạo nên hạnh phúc phải được thực hiện ngay trong hiện tại. Chính Đức Phật cũng chỉ muốn giải đáp những vấn đề thiết thực như hạnh phúc của con người chẳng hạn, khi Ngài dạy trong kinh Samyutta Nikàya (Tương Ưng) rằng: "Không nên phiền muộn, hối tiếc những gì đã qua, không nên tò mò tìm hiểu những gì chưa đến. Hãy sống trong hiện tại." (Atìtam nànusocanti nappajappanti nàgatam, paccuppannena yàpenti). Nhiều lần Đức Phật từ chối trả lời những vấn đề nguồn gốc Vũ trụ và con người. Ngài dạy rằng, một người đi rừng bị trúng tên độc, nên để cho Thầy thuốc nhổ tên và băng bó, cứu chữa hơn là khư khư hỏi cho bằng được kẻ nào bắn tên, thân thế y ra sao, anh ta sinh trưởng ở đâu v.v... Vị Thầy thuốc cũng có thể trả lời cho nạn nhân thỏa mãn, nhưng ông ta nhận thấy rằng việc chữa trị vết thương cho nạn nhân mới thiết thực và cấp bách hơn. Đó là chúng ta chưa nói, nếu Niết bàn là tuyệt đối, siêu việt thì chúng ta làm sao dùng những lời lẽ, những danh từ tương đối, chủ quan để bàn cãi được? Nhiều cuốn sách viết về Niết bàn, Phật tánh v.v... đã cho chúng ta thấy càng bàn luận, vấn đề càng bị hạn hẹp, khô cứng trong rừng ngôn từ ước định. Có khi còn làm vấn đề sai lạc khiến cho độc giả hiểu lầm nữa là khác. Cũng có khi chúng ta không nên đặt những vấn đề quá cao siêu vượt khỏi trình độ hiểu biết của mình. Như một em bé học tiểu học hỏi toán giải tích hay những vấn đề siêu hình học thì thật là vô ích, vì nếu có giảng giải cho các em thì vấn đề càng rắc rối thêm, càng khó hiểu thêm. Do đó các em nên tập làm tính cộng, trừ, nhân, chia mới hữu ích hơn. Mục đích của Đạo Phật không phải nhằm thỏa mãn tính tò mò của con người, mà làm thế nào để "chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc" cho nhân loại. Và người muốn được chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc không thể chỉ tìm hiểu hay bàn cãi suông mà phải hành theo lời giáo huấn của Chư Phật. Đức Phật dạy nguyên nhân của mọi đau khổ là Vô minh và ái dục, hay nói một cách khác chính lòng tham lam, sân hận, si mê là nguồn gốc của mọi tranh chấp, oan trái để rồi đem lại những lo âu sầu muộn, bất mãn. Đó chính là những yếu tố làm cho đời sống thoái hóa và khổ đau. Ngày nọ, có một vị Tỳ kheo đang thực hành đời sống xuất gia phạm hạnh trong rừng bỗng nhiên phát tâm hoan hỷ tự bảo mình rằng: "Hạnh phúc thay! Hạnh phúc thay!". Rủi vô ý nói lớn quá làm cho những người bạn của Ngài nghe được và đem thuật lại với Đức Phật. Đức Thế Tôn muốn nhân cơ hội này thuyết pháp cho các vị Tỳ kheo, nên cho gọi vị Đại đức ấy đến hỏi nguyên nhân. Vị Đại đức trả lời rằng: "Quả thật con có thốt ra những lời như thế, vì trước kia con là một vị vua có đủ ngọc ngà châu báu, cung phi mỹ nữ, quân binh tướng sĩ... nhưng không ngày nào con cảm thấy yên tâm, luôn luôn con lo sợ bị ngoại xâm, bị nổi loạn và bị cướp ngôi nên phải lo điều binh khiển tướng, trấn giữ biên thùy. Thế mà vẫn phải lo ngại, khổ tâm. Trái lại, từ khi xuất gia, tuy chỉ có Tam Y, Nhất Bát nhưng lại không có điều gì lo sợ, tâm con nhờ thế được an vui tự tại." Đức Phật bèn dạy các Thầy Tỳ kheo rằng nếu các Thầy sống đúng theo đời sống phạm hạnh, không bị dục lạc chi phối thì đời sống sẽ được an vui hạnh phúc. Kinh Sàmannaphala (Quả Báo Sa Môn) trong Dìgha Nikàya (Trường Bộ) thuật rằng một hôm Đức Thế Tôn ngự tại Ràjàgha (Vương xá), vua Ajatasastu (A Xà Thế) đến hỏi Đức Phật về những lợi ích hiện tại của đời sống tu hành. Ngài dẫn chứng những quả báo thiết thực và dậy rằng các vị Sa môn đã xuất gia chân chính, nếu biết giữ mình theo Giới, Định, Huệ, cố gắng diệt trừ tham, sân, si thì đời sống tự tại, Giải thoát sẽ đến với họ ngay trong kiếp hiện tại chứ không cần tìm đâu xa cả. Mặc dù mục đích tối hậụ của Đạo Phật là chứng ngộ Niết bàn, nhưng như chúng ta đã thấy mục đích thực tế nhất vẫn là "đem vui, cứu khổ". Bởi vì nếu trong hiện tại ta được an vui tự tại thì kiếp sau dĩ nhiên cũng được an vui tự tại. Nếu hiện tại ta được thanh tịnh, không còn phiền não khổ đau thì chính là Niết bàn ở đó vậy. Chúng ta đồng ý với một số người cho rằng điều kiện của một đời sống hạnh phúc là có sức khỏe, có tiền tài và có địa vị trong xã hội. Nhưng đời sống hạnh phúc thật ra chưa hẳn đã hoàn toàn tùy thuộc vào những điều kiện vật chất như thế... Vì nếu một người khỏe mạnh, đem sức khỏe của mình làm những điều tội lỗi thì chẳng được ích lợi gì. Người giàu sang sống bỏn sẻn, không tri túc, tham lam vô độ thì đã chẳng tìm được hạnh phúc cho chính mình mà lại còn làm hại đến kẻ khác. Người có địa vị nhưng lại lạm dụng quyền hành thì chỉ rước thêm oan trái oán thù. Như thế, tiền tài danh vọng chưa phải là yếu tố tiên quyết cho một đời sống hạnh phúc. Trái lại điều kiện đem lại an vui là có tinh thần lành mạnh. Và một tinh thần chỉ có thể gọi là lành mạnh khi không bị dục lạc, oán thù hay mê loạn chi phối. Trong kinh Dhammapada (Pháp Cú) Đức Phật dạy: "Kàyena samvaro sàdhu, Sàdhu vàcàya samvaro Manasà samvaro sàdhu Sàdhu sabbatthà samvaro". Giữ thân trong sạch, hạnh phúc biết bao. Giữ khẩu trong sạch, hạnh phúc biết bao. Giữ tâm trong sạch, hạnh phúc biết bao. Thật vậy, nếu tất cả đều trong sạch thì quả là hạnh phúc cao thượng. Qua đoạn kinh trên, ta thấy Đạo Phật chủ trương bí quyết cho đời sống hạnh phúc là phải sống trong sạch, thanh khiết từ lời nói, việc làm, cho đến những ý nghĩ thầm kín. Đức Khổng Tử cũng đồng một quan điểm đó khi Ngài dạy trong Tứ Thư rằng mọi người phải biết: "Tu kỳ thân, chánh kỳ tâm, thành kỳ ý" thì thiên hạ mới thái bình. Trong Pháp Cú kinh, Đức Phật dạy rằng muốn giữ cho hành động, lời nói, ý nghĩ được trong sạch, chân chính thì phải "tránh xa các điều ác, làm các điều lành và giữ tâm trong sạch" (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo). 1. Tránh các điều ác: Đức Phật dạy giới luật với mục đích giúp chúng ta tránh các điều ác; nghĩa là giữ thân, khẩu trong sạch. Đối với hàng cư sĩ Ngài dạy ngũ giới: - Không sát sanh: là để rèn luyện đức tánh Từ bi. Người không giết hại sanh linh, dù là sinh mạng của người khác hay loài càm thú như thế họ sẽ không gây thêm oan trái, oán thù. Một trong những điều kiện tạo nên đời sống an lành là không có kẻ thù nghịch. - Không trộm cắp: Người trộm cắp luôn luôn lo sợ bị truy tố trước pháp luật và chính lòng họ cũng thường bị ray rứt, ân hận. Trái lại, người biết tri túc, biết nuôi mạng chân chính không bao giờ phải lo sợ như thế. Không lo sợ thì đời sống sẽ được vui tươi. - Không tà hạnh: Trong một gia đình nếu vợ chồng hòa thuận, tin yêu, vì chồng giữ đúng bổn phận làm chồng, vợ biết lo tròn phận sự làm vợ, không đứng núi này trông núi nọ và chung lo xây dựng gia đình thì đó chính là một gia đình đầm ấm. Ba điều trên giúp cho thân trong sạch hay nói một cách khác là để kiểm soát hành động hằng ngày của mình. Và hai điều sau đây có mục đích giữ khẩu thanh tịnh: - Không nói dối: là để rèn luyện đức thành tín chân thực. Người chân thực và thành tín được mọi người tín nhiệm, tin tưởng. Dĩ nhiên trong công việc giao tế hằng ngày ai cũng muốn được tín nhiệm vì đó là yếu tố thành công trên đường đời. - Không uống rượu: Không phải chỉ Phật giáo mà nhiều Tôn giáo khác cũng dạy tín đồ không nên uống rượu. Vì người say sưa tự hạ phẩm cách của mình. Hơn nữa, theo y học, rượu làm cho mạch máu không co giản được, dễ bị chứng lưu huyết, thần kinh ở não cũng bị ảnh hưởng làm giảm trí nhớ. Vậy người Phật tử giữ giới chính là để xây dựng một cuộc sống lành mạnh từ thể chất đến tinh thần, chứ không phải vì yếm thế, chán đời. 2. Làm các điều lành: Để phát triển đức tính vị tha, nghĩa là sẵn sàng giúp đỡ kẻ khác, Đức Phật dạy phương pháp Bố thí. Bố thí cũng còn giúp cho chúng ta loại bỏ dần lòng tham lam keo kiệt và diệt vọng chấp ở ngã sở. Có ba cách Bố thí: - Tài thí: là tùy phương tiện, tùy khả năng của mình để giúp đỡ kẻ khác trong lúc họ túng thiếu về vật chất. - Pháp thí: là tùy cơ hội hướng dẫn kẻ khác sống đúng theo lẽ đạo. - Vô úy thí: tức là giữ giới hạnh như chúng ta vừa nói ở phần trên. Vì khi giữ giới chúng ta không hại kẻ khác, không làm cho kẻ khác sợ hãi. Một người sống không bỏn xẻn, tâm vị tha, quảng đại và bao dung thì chắc chắn được mọi người quí mến. Sống trong một cộng đồng được mọi người kính yêu và khi lâm nguy được mọi người giúp đỡ thì không còn gì hạnh phúc hơn. Bí quyết cuối cùng giúp chúng ta sống an vui thư thái là: 3. Giữ tâm hồn trong sạch: Đức Phật dạy: "Natthi santipanam sukham", không có gì hạnh phúc bằng tâm hồn yên tịnh. Và danh ngôn Pháp cũng nói rằng: "Sự yên lặng và bình an của tâm hồn ngọt ngào hơn các lạc thú". Thật vậy, khi tâm hồn không bị tham lam, sân hận, si mê, chi phối thì ta sẽ sống vô cùng bình tĩnh và sáng suốt. Đó cũng chính là hạnh phúc cao thượng nhất. Phương pháp hoàn hảo nhất để giữ tâm hồn trong sạch là Tham thiền. Vì theo nguyên nghĩa của chữ Jhana (Thiền na) là đốt cháy phiền não. Chính những phiền não như tham, sân, si, phiền muộn, bức rức, luyến tiếc... làm cho đời sống chúng ta đau khổ. Khi những phiền não này đã bị đốt cháy thì hiển nhiên chúng ta được an vui tự tại. Chúng ta hãy nghe Paul Adam, một học giả uyên thâm Giáo lý Đức Phật đã viết trong bài thơ sau đây: "Bao kẻ đi tìm trong quá khứ, Vạn pháp huyền vi của cuộc đời Bao kẻ tìm trong ngày sẽ lại Cành hoa chớm nở đượm màu tươi Nhưng ngươi nên hãy hóa lòng ngươi Thành đỉnh trầm trong cảnh lặng thôi". Nói tóm lại, Đạo Phật tuy cao siêu nhưng không quá xa vời thực tế, đúng như một học giả Tây phương đã nói: "Đạo Phật là một phương pháp sống thực". 2/ Ý Nghĩa Thực Chứng Của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni (Gotama)Sau khi Thái tử Sĩ Đạt Ta rời bỏ cung điện nguy nga giã từ vợ đẹp con thơ đi tìm Chân lý, Ngài đã trải qua không biết bao nhiêu thử thách nguy khó. Nhưng mục đích chuyến đi của Ngài là tìm cho bằng được một lối thoát để giải phóng cho mình và chúng sanh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, nên Ngài không quản khó khăn hiểm trở. Không tìm được Chân Thiện Mỹ nơi các Thầy Bà la môn, Ngài cương quyết thực hành phương pháp khổ hạnh. Chưa một ai trong lịch sử nhân loại kiên trì khổ hạnh như Ngài. Ngay cả tuyệt thực, tiết chế hỏi thở cho đến khi thân thể hao mòn, thịt khô máu cạn, chỉ còn da bọc xương cũng không lay chuyển được ý chí sắt đá của Ngài. Mặc dù ý chí kiên cường nhưng xác thân đã quá kiệt quệ. Một hôm Ngài ngã quị bên dòng sông Ni Liên Thiền (Neranjarà). Khi tỉnh dậy, Ngài mới nhận ra rằng con đường khổ hạnh đến tột cùng chỉ là hành hạ thân xác, mà Trí tuệ lại càng thêm thoái hóa. Mặc dù không lợi dưỡng, nhưng cần phải có một xác thân tráng kiện thì tâm hồn mới lành mạnh, Trí tuệ mới minh mẫn. Như một nhạc công sử dụng đàn, nếu dây lên đàn quá căng thì sẽ đứt, nhưng nếu quá chùng thì đàn sẽ không thành tiếng, chỉ có dây lên vừa phải thì tiếng đàn mới thanh tao. Cũng vậy, chỉ có con đường trung đạo, không lợi dưỡng, không khổ hạnh ép xác mới đưa đến cứu cánh Giải thoát. Nghĩ như thế, Ngài liền xuống sông Ni Liên tắm rửa và bắt đầu trì trai khất thực. Sau khi thọ thực, sức khỏe được phục hồi; Ngài ngồi tĩnh tọa dưới cội cây Bồ đề trên một nắm cỏ khô và Tham thiền nhập định. Nhờ năng lực an trụ của chỉ thiền, như một bình nước đã được lắng trong không còn một chút bợn nhơ, Ngài cảm thấy tâm hồn khinh an thư thái và sáng suốt lạ thường. Với tâm trí minh mẫn đó, dần dần Ngài hồi tưởng đến những kiếp sống quá khứ của mình. Ngài nhớ rõ trong những kiếp xa xưa ấy Ngài đã sống ở đâu, thuộc giai cấp nào, vui khổ ra sao và sanh sanh tử tử trong những cảnh giới nào. Tất cả chi tiết trong các kiếp sống trầm luân của Ngài đã hiện lên trong ký ức rõ ràng như một cuốn phim chiếu trên màn ảnh. Vào canh một, khi đang chú tâm quan sát những hiện tượng sinh diệt của kiếp sống, bỗng nhiên Ngài chứng ngộ được Tuệ giác đầu tiên tức là Túc Mạng Minh (Pubbe nivàsànussàti Nàna). Kế đến Ngài suy xét đến kiếp sống thăng trầm của chúng sanh trong vòng sanh tử luân hồi để tìm ra nguyên nhân nào khiến cho người thì sang giàu, kẻ khốn khổ, người thông minh, kẻ ngu dốt và vì sao chúng sanh vẫn mãi đắm chìm trong bể sanh tử không thể thoát ra khỏi định luật Vô thường, Khổ não. Nhờ Trí tuệ sáng suốt, trong canh hai Ngài đã tìm ra giải đáp và chứng ngộ Tuệ giác thứ nhì là Thiên Nhãn Minh (Cutùpapàta Nàna) tức là Trí tuệ thấu triệt nguyên nhân sanh tử luân hồi của tất cả chúng sanh. Ngài biết rằng do nơi nghiệp thiện và bất thiện phát xuất từ thân, khẩu, ý mà chúng sanh sinh trưởng trong những cảnh giới khác nhau, trình độ khác nhau. Đến canh ba, Ngài lại dùng Trí tuệ soi xét và tìm kiếm phương pháp nào khả dĩ chấm dứt dòng trầm luân sinh tử. Ngài nhận thức rằng: "Đây là khổ, là phiền não và ô nhiễm. Đây là nguyên nhân đau khổ, phiền não và ô nhiễm. Đây là sự diệt tận mọi khổ đau, ô nhiễm. Và đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt mọi phiền não khổ đau." Nhận thức như thế, tâm Ngài đã được Giải thoát ra khỏi Dục lậu, Hữu lậu, kiến lậu và Vô minh lậu. Từ đó dòng sinh tử luân hồi đã hoàn toàn chấm dứt đối với Ngài. Đó chính là Tuệ giác thứ ba mà Ngài đã chứng ngộ tức là Lậu Tận Minh (Savakkhaya Nàna) vậy. Khi cuộc chiến thắng vinh quang vừa viên mãn, cả tam thiên đại thiên đều rúng động, hào quang ngũ sắc từ thân Ngài chiếu khắp tam giới. Chư thiên trong mười muôn triệu thế giới ta bà đều đồng thanh tung hô Ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật và Thế Tôn. Quả thật cuộc chiến thắng vẻ vang của Thái tử Sĩ Đạt Ta có một ảnh hưởng sâu xa đối với nhân loại. Chúng ta không lấy làm lạ khi nhiều người tôn thờ Ngài là bậc vĩ nhân, hoặc xem Ngài như một nhà đại cách mạng, giải phóng con người ra khỏi hai thứ xiềng xích nô lệ: tinh thần nô lệ thần linh, thể chất nô lệ giai cấp xã hội. Chúng ta thử đưa ra vài nhận xét về ý nghĩa bài học chiến thắng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. 1. Bài học Hy Sinh và Kiên Trì: Sức chịu đựng gian khổ, đức tính nhẫn nại bất thối chuyển và ý chí tinh tấn vô tiền khoáng hậu của Ngài quả là một bài học vô giá đối với những ai muốn noi gương Ngài đi tìm Chân lý. Mặt khác, đức tính hy sinh của Ngài quả thật vô bờ bến. Mấy ai dám từ bỏ tiền tài danh vọng để đổi lấy đời sống tu hành khắc khổ, thế mà Thái tử đã lìa bỏ cung điện nguy nga và khước từ quyền uy của một vị Chuyển Luân Thánh Vương để dấn thân vào con đường chông gai hiểm trở, miễn là thực hiện được lý tưởng tự giác giác tha. 2. Bài học Trung Đạo: Thời bấy giờ ai cũng tin tưởng rằng thờ phụng thần linh hoặc khổ hạnh ép xác mới được cứu rỗi. Có người tương đối sáng suốt hơn cho rằng thân xác là nơi phát xuất những tội lỗi, những ham muốn nhục dục. Bao lâu không còn nô lệ ở thân xác thì tâm hồn mới được thanh thoát, do đó họ hành hạ xác thân cho đến khi sức cùng lực tận để mong thoát khỏi ái dục. Nhưng Đức Phật đã chứng nghiệm rằng khổ hạnh quá đáng là vô ích, vì tâm hồn chỉ minh mẫn trong thân thể lành mạnh. Như vậy chỉ có con đường Trung đạo, không thái quá, không buông lung, mới đưa ta đến cứu cánh Giải thoát. Con đường Trung đạo đó là phương pháp duy nhất để chế ngự thân, khẩu, ý hầu hướng dẫn hành động, lời nói và tư tưởng theo lẽ chánh. 3. Bài học Thực Chứng: Hầu hết các Tôn giáo thời bấy giờ đều dạy phải thờ cúng thần linh và con người phải quy phục trước uy quyền thưởng phạt của Thượng đế. Sự thực chứng của Ngài chứng minh rằng tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Bất cứ ai kiên trì, nhẫn nại, tinh tấn bất thối chuyển như Ngài cũng có thể tự mình Giải thoát, Giác ngộ và trở thành bậc siêu phàm. Mỗi cá nhân có quyền tự do lựa chọn cho mình một hướng đi và chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Trong sạch hay ô nhiễm, hạnh phúc hay khổ đau, trầm luân hay Giải thoát đều do mình tạo ra. Đây quả là một cuộc cách mạng giải phóng tư tưởng nô lệ mà trong đó con người phải phục tùng Thượng đế chứ không thể trở thành Thượng đế của chính mình. Có nô lệ chăng là con người nô lệ nơi chấp ngã vì đã tự tạo và tự trói buộc mình trong một thứ xiềng xích Vô minh, Ái Dục. Từ sự nô lệ đó con người trở thành phàm phu, thấp hèn. Chừng nào giải phóng ra khỏi những thằng thúc ấy con người mới được Giải thoát và trở thành Thánh nhân, chứ không cần đến một đấng quyền uy cứu rỗi. Đức Phật cũng là một nhà đại cách mạng, chủ trương san bằng giai cấp khi Ngài dạy rằng: "Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn. Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ". Ngài chứng tỏ rằng một người trong giai cấp hạ liệt có thể tự giác và trở thành toàn thiện. Trái lại, một người trong giai cấp vua chúa hay Bà la môn nếu hành động đê tiện, không sáng suốt thì vẫn là kẻ hạ liệt. Chúng ta còn học được ở sự thực chứng của Ngài bài học "Chiến thắng được mình là một chiến công oanh liệt". Bên trong mỗi người đều có một đạo quân rất hùng hậu đang ngự trị đời sống của họ. Muốn đánh đuổi thứ ngoại xâm đó không phải là dễ, vì giặc phiền não đã nằm ngay trong những phần sâu kín nhất của tâm hồn chúng ta và đã trở thành một thứ nội tuyến nguy hiểm mà Albert Camus gọi là "Kẻ lạ mặt". Hành động của chúng ta hằng ngày bị chúng chi phối mà không hề hay biết. Khi tỉnh tọa dưới cội cây Bồ đề, chính Thái tử Sĩ Đạt Ta đã đối diện với những đạo binh ma này và đã hàng phục chúng trước khi trở thành bậc Chánh đẳng Chánh giác. Bất cứ ai muốn hoàn thành sứ mạng tự giác giác tha phải rèn luyện ý chí quật cường và tinh thần dũng cảm để phấn đấu vì "Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình". Cuối cùng, chúng tôi xin trích dẫn lời ca ngợi Đức Phật của học giả H. G Wells sau đây: "Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị, có lòng nhiệt thành; một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống thực, một con người như mọi người, chứ không phải một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyện hoang đường. Ngài cũng ban cho nhân loại lời khuyên bảo có tánh cách phổ thông. Nhiều quan niệm tân tiến và đạo đức của thế hệ tân thời đều tương hợp với Giáo lý ấy". Và Sri Radhakrishman cũng nói rằng: "Nơi Đức Phật Cồ Đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn thiện của người Đông phương, ảnh hưởng Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hy hữu cho đến nay không thua kém ảnh hưởng của bất cứ một vị giáo chủ nào trong lịch sử. Mọi người đều sùng kính, tôn Ngài là người đã dựng nên một hệ thống Tôn giáo vô cùng thâm cao huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí. Đứng về phương diện trí thức thuần túy, đạo đức trang nghiêm và tinh thần minh mẫn, chắc chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử". 3/ Con Đường Hạnh PhúcHầu như mọi nỗ lực của con người đều nhắm vào mục đích tìm kiếm một đời sống hạnh phúc. Nhưng thử hỏi mấy ai đã thành công trong mưu cầu tạo dựng một nền hạnh phúc đích thực. Nhiều người càng cố gắng truy tầm hạnh phúc thì nó lại càng trở nên xa vời đối với họ, trong khi nhiều người khác đã nắm sẵn hạnh phúc trong tay nhưng lại thả mồi bắt bóng để rồi cuối cùng hạnh phúc cũng vuột khỏi tầm tay. Sự thật, hạnh phúc không hoàn toàn tùy thuộc nơi tiền tài, danh vọng mà con người đã phí sức đạt cho bằng được. Thực tế chứng minh, lắm người đã lên đến tột đỉnh của danh vọng hay đã thành công trong việc tạo lập một gia sản to lớn, nhưng vẫn sống một đời sống bất an, vô vị. Hạnh phúc đâu phải xa vời với chúng ta đến thế, chỉ cần hướng tâm về với chủ thể để khai thác một nguồn hạnh phúc bất tận đang sẵn sàng chờ đợi ở nội giới mà chúng ta lãng quên để chạy theo ngoại cảnh. Muốn khai thác nguồn hạnh phúc nội tại đó chúng ta phải biết một số nguyên tắc căn bản khả dĩ tạo điều kiện tất yếu cho một đời sống an lành. Những yếu tố tiên quyết đó là gì? 1. Kiểm soát nội tâm: (Trầm tĩnh) Tâm hồn của con người có khả năng chi phối thể xác. Vì thế, tâm chấp chứa những niệm bất thiện thì thật là một điều đại họa, lắm khi có thể giết chết cả một đời người. Ngược lại, nếu an trụ trong Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh Tư duy thì tâm có khả năng đem lại cho chúng ta một đời sống hạnh phúc, lành mạnh. Không nên để cho trí phán đoán của chúng ta mang nhiều thành kiến, cố chấp. Hầu hết những phán đoán hay quyết định trong lúc bực tức hay khi hứng khởi bồng bột sẽ làm cho chúng ta ân hận về sau. Phải giữ tâm bình tĩnh và suy xét kỹ càng thì phán đoán mới không thiên lệch. Đức Phật dạy: "Không một kẻ thù nào nguy hiểm cho con bằng tâm dục vọng, lòng oán thù và tính ganh tị của con". Thật vậy, chỉ khi nào tâm được rèn luyện và phát triển theo đúng Chánh đạo thì mới đem lại lợi ích cho mình và tha nhân. Tâm trầm lặng không có nghĩa là yếu mềm, tiêu cực. Thái độ trầm tĩnh của một người chứng tỏ họ là tri thức. Vì khi gặp một hoàn cảnh cam go, nan giải mà vẫn không lo âu bối rối thì thật không phải dễ. Sự trầm lặng đó hẳn có một sức mạnh vô song mà bất kỳ trong mọi hoàn cảnh cũng không thể lay chuyển được. Đó là điều kiện tiên quyết cho một đời sống hạnh phúc, đúng như một danh ngôn Pháp đã nói: "Sự yên lặng và bình an của tâm hồn ngọt ngào hơn các lạc thú". 2. Hành động sáng suốt: Điều quan trọng không phải là tiền tài, sức lực, học vấn, tài năng mà chính là biết cách sử dụng, và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ những khả năng đó để đem lại hạnh phúc cho mình và đồng loại. Vì nếu dùng sai những khả năng sẵn có của mình thì chỉ làm cho mình thêm sa đọa. Chúng ta phải dũng cảm để biết cái nhu nhược của mình, phải can đảm để biết chỗ hèn nhát của mình, phải bất khuất khi thất bại và khiêm nhường khi chiến thắng. Phải luôn luôn giác tỉnh, sáng suốt để không có những hành động ngông cuồng, mù quáng. Nhiều người bỗng nhiên phát tài, hoặc thừa hưởng một gia sản to lớn của cha mẹ để lại nhưng họ không biết gìn giữ, phát triển hoặc xử dụng thế nào cho hợp lý, và vì thế chẳng bao lâu gia tài bị tiêu pha hoang phí cho đến khi kiệt tận. Thường thường những của cải không do mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì không có giá trị đích thực. Phải biết sử dụng tài sản đúng mức cho mình và đôi khi vì lợi ích của kẻ khác. Cũng như tài sản, sức mạnh, học lực, tài năng phải được xử dụng đúng chỗ, đúng lúc thế nào để được lợi ích cho mình và tha nhân. 3. Cải tiến chính mình cho thích ứng với hoàn cảnh: Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn luôn bị biến đổi, nhưng ít ai nhận chân ra được thực trạng đó. Chúng ta không nên cố chấp vào truyền thống, tập tục hay tín ngưỡng được truyền lại từ các bậc tiền nhân chỉ vì nghĩ rằng: "Xưa bày nay làm". Nếu mọi người đều có óc thiển cận như thế thì làm thế nào xã hội có thể tiến hóa được. Có nhiều truyền thống từ ngàn xưa để lại mà không lỗi thời vì luôn luôn thích ứng với xã hội mới. Nhưng không phải vì thế mà các bậc phụ huynh câu nệ và bắt con mình giữ đúng mọi tập tục cổ truyền. Hãy để cho thế hệ hậu lai theo kịp đà tiến hóa của xã hội miễn là không quá lố đến vượt qua khỏi giới hạn luân lý căn bản. Như thế chúng ta nên tránh một cuộc xung đột giữa hai cực đoan của nhóm người bảo thủ và duy tân. Vì cả hai đều là chướng ngại vật cho một sự tiến hóa trung dung tất yếu của xã hội con người. Tiến bộ trung dung tức là phải chấp nhận một số truyền thống chân chính làm nền tảng hay làm yếu tố hướng dẫn cho mọi trào lưu tiến hóa của xã hội. Có như thế thì xã hội của chúng ta mới không bị cứng đọng mà cũng không tiến quá nhanh đến độ sa chân vào hố thẳm. Mỗi người là một phần tử tạo thành xã hội, nên phải chịu một phần trách nhiệm về những thăng trầm, tấn thối của xã hội trong đó mình đang sống. Chúng ta phải tự hỏi là đã làm được gì để đóng góp vào trật tự tiến hóa của nhân loại. Đó chính là yếu tố nung đúc tinh thần sáng tạo thay vì tự mãn với những gì đã có. Mặt khác, ai cũng hiểu rằng "bá nhân bá tánh" nên chúng ta không thể sửa đổi mọi người cho hợp với ý mình, lại càng không thể san bằng mọi chông gai hiểm trở để bước những bước thật êm ái trên đường đời. Ai ra khỏi mà không mong trời yên biển lặng, nhưng tốt hơn hết là họ nên luyện tập mọi khả năng thích ứng hầu đối phó với phong ba bão táp xảy đến bất cứ khi nào. Người muốn bước những bước êm đềm trên đường đầy chông gai phải mang vào chân một đôi giày an toàn; cũng thế muốn có được một đời sống an vui tự tại phải biết cách chế ngự Lục căn để sẳn sàng đối phó và thích ứng với mọi hoàn cảnh mà không bị lôi cuốn hay vướng mắc. 4. Khiêm nhường: Người trí thức lấy khiêm tốn để đo cái sở tri và cái sở bất tri của mình, nhờ thế họ biết được chỗ khiếm khuyết để bổ túc và kiến thức của họ luôn luôn được mở rộng. Tự mãn là một trở ngại lớn lao trong việc tự rèn luyện bản thân. Chính Đức Phật đã làm cho mọi người ngạc nhiên và kính phục khi Ngài từ bỏ vương quyền của mình để sống một nếp sống từ tốn; và khi Ngài trở thành bậc Thánh nhân Ngài vẫn không bao giờ tự xưng là giáo chủ. Giáo huấn của Ngài không bao giờ có vẻ tự đắc, tự phụ. Nhờ khiêm nhường ta không những học được những điều hay lẽ đẹp ở người mà còn không bị người ganh tị, tật đố. Một người tài cao như Hàn Tín thật hiếm có, nhưng vì tính tự cao tự đại nên phải hứng chịu một hậu quả thảm khốc về sau. Trái lại, Trương Lương tuy tài cao mà khiêm tốn nên luôn luôn được quí trọng và nhờ thế ông đã sống một đời sống thật thanh nhàn an lạc. 5. Tiết kiệm thì giờ: Thì giờ quả là quí báu hơn cả vàng ngọc, vì một ngày ta chỉ có 24 tiếng đồng hồ chứ không thể mua thêm được một giây một phút dù với bất cứ giá nào. Một đời người thật quá ngắn ngủi để cho ta có thể hoàn thành được lý tưởng của mình. Các nhà học giả khi đến tuổi về chiều vẫn còn cảm thấy chưa học hỏi được bao nhiêu. Nên họ ước sao cho ngày tháng dài ra để cho thêm thì giờ học hỏi nghiên cứu. Nhưng trái lại, nhiều người đã không sống trọn vẹn 24 tiếng đồng hồ một ngày để làm những việc đáng làm. Họ tiêu pha thì giờ trong những câu chuyện ngồi lê đôi mách hoặc lo âu cho tương lai, hối tiếc quá khứ mà không biết rằng mình đã đánh mất giây phút quí báu nhất là hiện tại giây phút ngắn ngủi mà ta thực sự hiện hữu trong cuộc đời cho đến khi giây phút quí báu đó vượt khỏi tầm tay rồi mới than van hối tiếc. Nếu bất cứ một giây phút hiện tại nào cũng được xử dụng hợp lý thì quá khứ có gì đáng nuối tiếc và tương lai chắc chắn phải tươi đẹp huy hoàng. Tiêu phí thì giờ không những làm hại chính mình mà đôi khi còn làm mất thì giờ của kẻ khác. A. De Gasparin nói rằng: "Giữa cái dĩ vãng đã thoát khỏi tay chúng ta và cái tương lai mà ta không thể biết rõ, còn lại cái hiện tại nói rõ bổn phận của ta." Chúng ta phải thực hiện những gì có thể thực hiện được ngày hôm nay, chứ không nên để đến ngày mai. Đừng để cho giây phút hiện tại quí báu này trôi qua một cách vô vị, trong khi những bổn phận đáng làm lại bị lãng quên hoặc hẹn lại một ngày ở tương lai chưa chắc sẽ đến với ta. Boileau cũng bảo rằng: "Hãy giục giã lên, thời gian trôi và lôi cuốn chúng ta theo, chính cái lúc mà tôi nói đây chưa chi đã đi vào quá khứ." Vì quá khứ chỉ là giấc mộng và tương lai nào ai biết chắc sẽ ra sao nên ta phải sống và phải tiết kiệm từng giây, từng phút trong hiện tại này. 6. Kiên nhẫn và chịu đựng: Hãy kiên nhẫn đối với tất cả mọi người. Sân hận chỉ đưa đến một ngõ cụt không lối thoát. Tâm sân hận không những chỉ làm tổn thương người khác mà còn làm hại chính mình, vì nó gây xáo trộn cho đời sống tâm vật lý của ta. Một lời nói bất nhã không dằn được trong khi tức giận cũng như một mũi tên đã lìa khỏi cung, khi đã gây thương tích cho người khác, thì khó có thể tha thứ được dù có ngàn lần ăn năn hối lỗi cũng đã muộn rồi. Tục ngữ có câu "No mất ngon, giận mất khôn". Thật vậy khi nóng giận ta dễ trở thành mù quáng. Vì thế kẻ thù ta chiến đấu không phải ai khác mà là lòng sân hận của mình. Tâm ta vừa là bạn đồng minh, cũng vừa là kẻ thù nguy hiểm nhất. Chúng ta phải chiến đấu để tận diệt kẻ thù nội tuyến Tham, Sân, Si này bằng Giới, Định và Huệ. Hãy nhớ rằng "Một sự nhịn, chín sự lành" đúng như người xưa đã từng kinh nghiệm và dạy lại cho chúng ta. 7. Dĩ ân báo oán: Muốn thắng địch thủ trước hết ta phải tiêu diệt kẻ thù nội tuyến nguy hiểm hơn, là tâm sân hận của chính mình. Mặt khác, nếu chúng ta bối rối, và hành động mất bình tĩnh trước kẻ thù tức là ta vô tình mắc bẫy của họ. Nếu ta học được điều hay lẽ đẹp ở bạn bè thì sao chúng ta lại không học được một vài bài học quí giá nơi kẻ thù nghịch? Đâu phải bất cứ ai thù nghịch với ta đều là xấu cả, họ chắc phải có vài đức tính khả kính mà đôi khi ta lại không có. Một người có điểm khả kính như thế đáng lẽ ta phải kết bạn cầu thân hơn là chỉ vì một lầm lỗi của họ mà xem họ như kẻ thù. Phương pháp tốt đẹp hơn cả là lấy lòng từ ái để đáp lại kẻ đối nghịch. Mới nhìn, xem ra dĩ ân báo oán có vẻ nghịch lý nhưng đó là phương pháp mà các bậc Hiền nhân đã từng áp dụng và thành công. Khi có một người bất bình với ta, trước tiên ta phải xem nguyên nhân nào khiến cho người ấy bất bình. Nếu quả thật vì lầm lỗi của ta, thì ta nên nhìn nhận và chịu lỗi. Nếu chỉ vì đôi bên có chỗ hiểu lầm thì sao ta không tìm lời lẽ hòa hoãn để bắt nhịp cầu thông cảm. Còn nếu đối phương vì có tính ganh tỵ, háo thắng thì chỉ có cách ổn thỏa nhất là rải Tâm từ ái đến cho họ; và chính nhờ Tâm từ ái, một ngày kia có thể biến kẻ thù thành người bạn tốt. Chúng ta hãy ghi nhớ lời khuyên của La Cordaire: "Nếu anh muốn vui sướng trong chốc lát, cứ trả thù; nhưng nếu anh muốn an vui mãi mãi thì hãy tha thứ". Đó là dĩ ân báo oán vậy. 8. Hòa điệu sống: Lịch sử nhân loại chứng minh rằng những kỳ thị màu da chủng tộc, sự cuồng tín và lòng tham vọng đã đem lại nhiều bất hạnh cho con người. Những kẻ khát khao quyền uy, tiền tài, danh vọng, nếu được cộng thêm vào tính ganh tỵ thì chẳng khác nào là đổ thêm dầu, họ đã không đóng góp được gì cho hòa bình an lạc của đồng loại mà luôn luôn gieo rắc nhiễu hại cho kẻ khác. Họ không biết hòa điệu sống, vì quên rằng nếu ta muốn sống một cách thái hòa, hạnh phúc thì phải để cho kẻ khác được sống thanh bình, an lạc. Và họ lầm tưởng rằng họ có thể sống thanh bình trên sự đau khổ của kẻ khác, nhưng thật ra họ là những kẻ đau khổ nhất trên đời. Chúng ta có thể biến thế giới này thành một thiên đàng hay Địa ngục trần gian căn cứ trên khả năng biết hòa điệu sống hay không. Phải biết sống phù hợp với những định luật tự nhiên, như định luật Nhân quả, Nghiệp báo, Vô thường, duyên khởi để chúng ta không còn bối rối hay khó chịu mỗi khi gặp những khó khăn trên đường đời. Đừng tưởng rằng sống phù hợp với những định luật tự nhiên đó tức là chúng ta không tiến hóa. Chính con người tiến hóa hay không là do mức độ thích ứng với những định luật này nhiều hay ít. Bằng chứng là khoa học đã ứng dụng những định luật tự nhiên hay những nguyên lý căn bản để phát minh và chế tạo. Tất cả những môn Xã hội học, Tâm lý học, Đạo đức học, Kinh tế học... đều có những định luật riêng của nó. Nếu những định luật này được áp dụng đúng mức thì chắc chắn nhân loại sẽ sống trong hòa bình, an lạc. Đáng tiếc là một số người sau khi đã có thế lực, tiền tài lại muốn vượt ra khỏi nhịp sống tự nhiên, hy vọng tìm được một chân trời mới lạ. Và quả thật họ đã đạt được một chân trời mới, nhưng đó không phải là chân trời hạnh phúc mà là một Địa ngục trần gian với đầy đủ cực hình thảm khốc: tranh chấp, giết chóc, thù hận. 9. Chấp nhận phê bình: Tục ngữ ta có câu: "Mật ngọt chết ruồi" và "Thuốc đắng đả tật". Lời khen trông có vẻ ngọt ngào nhưng chỉ làm cho ta thêm cao ngạo tự đắc. Trái lại, lời phê bình chỉ trích xem ra thật là cay đắng nhưng có thể giúp ta sửa chữa được nết hư tật xấu. Vì thế mà người ta có lý khi nói rằng: "khen là thù, chê là bạn". Chúng ta phải can đảm đón nhận những lời chỉ trích, vì trong số những lời chỉ trích đó hẳn phải có điều đúng với sự thật, khi đó ta phải cố gắng sửa sai và thành thật cám ơn người đã chỉ trích mình hơn là oán giận, tự ái. Đành rằng lòng tự ái được đặt đúng chỗ là một đức tính giúp cho ta tiến bộ. Nhưng tự ái quá đáng, nhất là trong trường hợp bị người phê bình thì chẳng những không có lợi gì cho ta mà còn gây thêm oán thù. Mặt khác, khi thấy người lầm lỗi ta cũng nên tìm cách phê bình khéo léo để sửa sai cho họ, bằng không thì im lặng còn hơn làm cho họ mất thể diện. Chúng ta phải nhớ rằng: "Lầm lỗi mà ta thấy nơi tha nhân là phản ảnh những lầm lỗi của chính mình". Vì đã làm người thì ai cũng có cái xấu cái tốt như nhau. Câu tục ngữ: "Suy bụng ta ra bụng người" không phải là không có lý. Họ chỉ hơn kém ở chỗ có biết lánh xa những cái xấu và làm những điều tốt hay không mà thôi. Vả lại, ngoại giới phản ảnh tâm trạng của mỗi cá nhân. Lúc ta buồn, vui, hờn, giận thì ngoại cảnh cũng bàng bạc những tâm trạng đó. Một người bất chánh thấy hành động của người khác tương tự như mình đều cho là bất chánh, nhưng sự thật vị tất đã là thế. Như vậy ta nên hoan hỷ chấp nhận lời chỉ trích đúng dù với thiện tâm hay ác ý. Nhưng khi phải phê bình kẻ khác thì ta chỉ nên phê bình với lòng từ ái. 10. Hãy tự thanh lọc trước (tự giác rồi mới giác tha) Trong kinh Dhammapada (Pháp Cú), Đức Phật dạy: Attànam ce tathà kayirà Yathãnnã manusàsati Sudanto vata dammetha Attà hi kira duddamo (Dhammapada 159) (Dạy người như thế nào, tự mình hành động như thế ấy. Chính mình hãy tự kiểm soát đầy đủ rồi mới dạy kẻ khác. Vì kiểm soát được mình mới thật là khó). Thật là hữu lý khi chúng ta lo tròn bổn phận của mình chứ không xen vào công việc của người khác. Nếu chính mình chưa rành công việc thì dù có xen vào để tiếp tay cho kẻ khác thì cũng chỉ làm cho người vướng bận thêm, lắm khi còn bị người khác oán trách, và vô tình ta làm ơn lại mắc oán. Như vậy ta nên áp dụng câu "Các nhân tự tảo môn tiền tuyết, mạc vấn tha nhân ốc thượng sương" (Mỗi người hãy tự quét tuyết trước sân mình. Đừng thắc mắc tại sao sương rơi trên mái nhà người khác) để tự cải thiện mình. Khi mình đã được cải thiện thì tự nhiên đã nêu một gương lành cho kẻ khác. Đức Khổng Tử cũng dạy lấy tu thân làm căn bản trước khi muốn tề gia trị quốc hay bình thiên hạ. Nhiều người khi nghe nói Bồ tát vị tha thì nghĩ rằng cứ đi lo việc cho thiên hạ tức là trở thành Bồ tát. Nhưng càng lo việc thiên hạ, thiên hạ càng xua đuổi, mạt sát vì thật ra họ chưa đủ tư cách, đức độ và Trí tuệ của một vị Bồ tát thật sự. Thì ra, muốn trở thành Bồ tát phải tự rèn luyện đầy đủ Bi – Trí - Dũng trước đã. 11. Không lo âu phiền muộn: Một sự lầm lẫn đáng trách của con người là quá lo âu cho tương lai và nuối tiếc quá khứ. Đại đức Dhammananda dạy rằng: "Bí quyết của một đời sống hạnh phúc và thành công là cố gắng làm những điều đáng làm trong hiện tại, không lo âu tương lai, không nuối tiếc quá khứ". Chúng ta không thể trở về quá khứ để làm những việc đã rồi, cũng không thể đến trước trong tương lai để thực hiện những chương trình chưa được thực hiện trong hiện tại, hay để xem những gì xảy ra ở đó. Người Anh có hai câu tục ngữ rất phù hợp với bí quyết sống không lo âu phiền muộn này. Họ nói rằng "Let bygones be bygones" nghĩa là hãy để cho cái gì đã qua trở về với quá khứ. Và "Never trouble trouble till trouble troubles you". Đừng bao giờ lo âu về những phiền phức chưa đến. Trong Truyền Đăng Lục có ghi: Dục tri tiền thế nhân Kim thân thọ giả thị Dục tri lai thế quả Kim thân tác giả thị. (Muốn biết cái nhân trong đời sống quá khứ hãy nhìn cái kết quả ta thu gặt trong hiện tại và muốn biết đời sống tương lai như thế nào thì hãy xem hành động của mình trong hiện tại.) Nếu thấy ta có sai lầm trong quá khứ thì hãy ráng cải thiện lấy mình trong hiện tại. Và muốn cho tương lai huy hoàng thì cũng hãy tạo điều kiện lành trong chính hiện tại này. Vậy không cần lo âu tương lai, nuối tiếc quá khứ, hãy sống trong hiện tại; hãy tạo cho hiện tại một đời sống an lành, vì giây phút hôm nay là hiện thân của cả tương lai lẫn quá khứ. Tóm lại, kiểm soát nội tâm, hành động sáng suốt, thích ứng hoàn cảnh, khiêm nhường, tiết kiệm thì giờ, kiên nhẫn, dĩ ân báo oán, hòa điệu sống, chấp nhận phê bình, tự giác, không lo âu phiền muộn là những bí quyết của một đời sống hạnh phúc. Thật ra, chúng ta có rất nhiều phương pháp để tạo cho mình một đời sống an lành, nhưng chung qui cũng gói ghém trong lời dạy sau đây của Đức Phật: Kàyena samvara sàdhu Sàdhu vàcàya samvaro Manasa samvaro sàdhu Sàdhu sabbatthà samvaro (Giữ thân trong sạch hạnh phúc biết bao. Giữ khẩu trong sạch hạnh phúc biết bao. Giữ ý trong sạch hạnh phúc biết bao. Tất cả đều trong sạch quả thật là hạnh phúc cao quí.)
|


