Home Lịch Sử Phật Giáo Phật và Thánh Chúng Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda - Cuộc Đời Thnh Tăng Ananda Ch.IV-
10 | 09 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda - Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.IV- PDF. In Email
Lịch Sử Phật Giáo
Viết bởi thienminh   
Chỉ mục bài viết
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.III
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.IV-
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.VII-
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.IX
Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda Ch.X
Tất cả các trang

Chương IV: A Nan Ða Đáng Gọi Là Kho Tàng Pháp bảo

Kỳ công và biệt tài nổi bật, đã nâng A Nan Ða lên hàng một trong những đệ tử thông thái nhất của đức Phật, là khả năng nhớ nhanh, nhớ nhiều và nhớ dai của vị tông đồ này.

Mặc dù khi đức Phật còn tại tiền, A Nan Ða chưa đắc A la hán, nhưng ông đã được xem tương đương như một trong những Thanh văn của cộng đồng Thánh nhân. Ông xứng đáng để được toàn thể Phật tử lúc bấy giờ tặng cho danh hiệu "Một tông đồ xuất chúng.” Bốn chữ tông đồ xuất chúng này có nghĩa là ông có đủ khả năng và đức tính của một bậc Giải thoát.

Ngoại trừ hai đại Thanh văn, có hai năng lực phi thường, là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, thì A Nan Ða là một trong những 75 đại đệ tử nổi tiếng khác của đức Phật.

Trong khi 74 vị kia có những xuất sắc chuyên biệt thì A Nan Ða đã nổi tiếng nhờ bốn trong năm "nền tảng trí thức Thượng thừa":

- Nền tảng trí thức thứ nhất là ông đã nghe nhiều hơn ai hết, nghe gần như toàn thể những lời Phật dạy.

- Nền tảng trí thức thứ hai là ông đã nhớ nhiều hơn ai hết, nhớ đầy đủ những lời Phật dạy.

- Nền tảng trí thức thứ ba là ông đã hiểu nhiều hơn ai hết, hiểu cả hệ thống Pháp bảo, kể luôn ý nghĩa súc tích khi phối hợp các Phật ngôn dạy trước với các Phật ngôn dạy sau, một cách song đối hay thứ tự.

- Nền tảng trí thức thứ tư ông là người tin tưởng nơi Pháp bảo của đức Phật, tin tưởng chắc chắn nhất, trên tất cả mọi học thuyết (Theo Anguttara Nikàya n.1,19 = Tăng Nhất A Hàm 1,19).

(Riêng nền tảng trí thức thứ năm là "sự cần cù, dẻo dai, nhiều nghị lực trong việc hầu hạ một bậc Toàn Giác của A Nan Ða", không nên kể đến. Vì thuở bấy giờ, mà đề cặp đến nền tảng trí thức ấy, đối với A Nan Ða là một chuyện thừa! Chẳng khác nào như ta khen "nước biển là chất lỏng mặn nhất" trên thế gian này).

Khi nghiên cứu kỹ trong kinh điển Phật giáo chúng ta sẽ nhận thấy rằng những nền tảng trí thức vừa nêu trên thuộc về một công phu rất diệu dụng, từ đó có sinh ra đức tính cảnh giác, tiếng Pàli gọi là Sati. Cái công phu mà sức mạnh và ảnh hưởng của nó hằng giúp cho hành giả có một tinh thần trong sáng, vững chắc, đủ khả năng để phân biệt mọi cảm giác trong thân cũng như mọi khái niệm ngoại thân, hầu không để cho ý thức bị tham, sân, si lôi kéo.

Và cũng nhờ cái công phu tuyệt diệu ấy, mà khả năng sử dụng trí nhớ của hành giả, ở bất cứ lúc nào, và đối diện với tất cả các vấn đề, đều luôn luôn thanh tịnh, không bị chính cái trí nhớ của họ dẫn vào nẻo ngã mạn cố chấp.

Nói cách khác dễ hiểu hơn: đức tính cảnh giác là hạt nhân sẽ đem lại thục quả là sự biết mình. Rồi nhờ sự biết mình ấy mà hành giả nhận rõ mọi hiện tượng xung quanh, phân biệt pháp lành với pháp ác, cái nào đang phát động trong tâm tư mình; hầu tự thu thúc lục căn, sống đúng theo Chánh pháp.

Thực ra chữ Pàli "Sati" có nghĩa thông thường là "trí nhớ" (tức là khả năng tự "biết lại" những cái gì đã trôi qua). Chính nhờ cái "trí nhớ" ấy mà quá khứ và hiện tại mới được nối liền với nhau bằng những chuỗi truyền cảm ký ức.

Nhưng đối với A Nan Ða, trong kiếp chót, trí nhớ (Sati) đã biến thành sự biết mình (sampa jãnnã). Tức là ông không phải chỉ nhớ suông đến những điều mà ông đã học thuộc lòng, mà ông còn cảm thấy, cái tác dụng của nó nữa. Ðể khi gặp lại, ông biết tùy theo trình độ trí thức của mỗi người nghe mà diễn đạt từ thấp tới cao, từ nông cạn đến sâu sắc, từ thô kệch đến vi tế, chứ ông không phải nhắm mắt lặp lại, một cách hỗn độn, loạn xà ngầu.

Còn về phương diện nhớ nhanh và nhớ chắc chắn thì A Nan Ða có thể xem là vô địch. Nhờ thiện tồn trữ từ nhiều đời trước, kiếp này ông chỉ nghe qua một lần là ông có thể lặp lại nguyên văn một bài pháp của đức Phật gồm 60.000 chữ một cách dễ dàng. Một lần khác, A Nan Ða đã tụng lại 150 ngàn bài kệ, mỗi bài bốn câu của đức Phật dạy.

Kỷ lục ghi nhớ tức khắc, và ghi nhớ đầy đủ của A Nan Ða, khiến ta có cảm tưởng, như ông đã dùng phép lạ, mới thực hiện nổi một kỳ công như thế. Nhưng theo Phật giáo thì phép "lạ" của A Nan Ða không có gì khác hơn là không để cho tâm trí của mình bị vướng mắc bởi những ý tưởng vô ích. Những ý tưởng vô ích vốn có hàng trăm, ngàn thứ và luôn luôn "choán hết chỗ" trong đầu óc con người, thì còn đâu tiềm lực để cho trí nhớ của họ được phát triển?

Ðức Phật dạy rằng: "Nguyên nhân duy nhất khiến cho một người hay quên là sự có mắt của 5 pháp chướng: tham dục, ác tâm, hôn trầm, vọng tưởng (phóng dật) và hoài nghi" (theo Anguttara Nikàya V 193).

A Nan Ða lúc ấy tuy chưa đắc quả A la hán, nhưng nhờ ông vâng lời Phật dạy lấy Chánh niệm làm nền tảng tu luyện, đồng thời nhờ phúc duyên tu nhiều kiếp trước, nên mỗi khi ông tập trung tâm trí để nghe pháp, là năm pháp chướng ấy không thể nào khuấy nhiễu ông được.

Ngay cả ngày nay, nhiều Cao Tăng Phật giáo ở Miến Ðiện, chỉ nhờ thành công phần nào trong việc loại trừ năm pháp chướng ấy, mà cũng có thể nhớ nằm lòng Tạng Luật, Tạng Kinh hay Tạng Luận một cách dễ dàng. Có vị còn đủ khả năng nhớ cả Tam Tạng gồm 45 quyển in đầy cả chữ nữa.

Khi A Nan Ða nghe pháp, ông không có một gợn tư duy nào trong tâm ông cả. Ông không để cho cái "ngã" nổi dậy để bình phẩm "Câu này dài, câu kia ngắn. Câu này sâu sắc, câu kia thông thường, âm thanh câu này cao, âm thanh câu kia thấp v.v...”

Trong ý thức của ông lúc ấy chỉ có một điều là nghe và ghi nhớ một cách tự nhiên, không bấn loạn hay hoang mang, sợ rồi mình sẽ quên nhưng điều Phật dạy. Như một viên thư ký chuyên nghiệp, chỉ biết vô tư chép đúng những lời người khác nói, lên trang giấy trắng tinh một cách tự tin và bình thản.

Và trang giấy trắng tinh của A Nan Ða là trí óc thanh tịnh, không bị năm pháp chướng làm ô đục, hoen ố vậy!

Ðây chính là tư cách của một đại Thanh văn (Bậc được nghe nhiều học rộng). Vì ai được nghe và học nhiều bằng phẩm hạnh này sẽ loại trừ được tánh ương ngạnh, tự đắc, nằm sẵn trong tâm, và biến trí óc mình thành một kho tàng chứa toàn chân lý. Và người được nghe và hấp thụ càng nhiều chân lý thì những ác pháp trong tâm họ, đương nhiên càng được tiêu trừ.

Các hạng Thanh văn như thế có thể ví như những hạt kim cương, tiếp nhận ánh sáng chân lý, từ tôn khẩu của đức Phật, nên sự phản chiếu ánh sáng chân lý (ám chỉ sự lập lại) cũng trung thực, không thêm, không bớt, không rõ, không mờ. (Theo vật lý học, kim cương là môi trường mà ánh sáng hiện ra chính xác nhất).

Bởi vậy, một bậc Thanh văn chân chánh là người luôn luôn tự nhiên, và tuyệt đối tôn trọng sự thật. Bất cứ điều lành nào họ ghi vào trí nhớ để thực hành, là họ không bao giờ cho rằng "Ấy là nhờ Trí tuệ tinh anh của mình suy diễn mà được, nhưng ấy là "Sự thật trong Chánh pháp.” Và họ chỉ là người được nghe và khách quan nhận ra giá trị của nó.

Như mấy câu thơ sau đây của Rainer Maria Rilke đã ca ngợi A Nan Ða:

"Thấy sự thật mà không tự hào tinh mắt,

Hiểu sâu xa không nghĩ tuệ mình cao.

Hàng Thanh văn như thế hiếm dường nào,

Như giọt nước long lanh trong sa mạc.”

Bài thơ này phản ảnh một cách trái ngược tâm tánh của A Nan Ða, khi ông chưa xuất gia. Lúc ông mới đến với đức Phật, A Nan Ða là người chứa đầy vô minh, phiền não, ngã mạn và tự đắc. Nhưng càng về sau, nhờ sống bên cạnh đức Bổn sư, mà ông mỗi ngày một thấm nhuần chân lý Giải thoát. Thấm nhuần đến độ mà không còn là ông nữa! Ông đã biến thành hiện thân của Pháp bảo, biến thành "Pháp thân" của đức Phật, để hơn 2500 năm sau, cái tên A Nan Ða không còn là một danh xưng nữa, mà nó chính là "ngôn ngữ mở đề" của các kinh điển Phật giáo.

Phẩm cách nghe Pháp và thấm nhuần chân lý vào trí óc của A Nan Ða được gọi là nền tảng trí thức thứ nhất(trong năm nền tảng trí thức). Kinh Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm số 14.5) còn ghi rõ rằng: "A Nan Ða đã thấm nhuần lời Phật dạy như thế nào, thì khi ông truyền lại Phật ngôn cho các đệ tử, cũng làm cho họ thấm nhuần như thế ấy!”

Còn theo kinh Tăng Nhất A Hàm số 3, 78 (Anguttara Nikàya n.3, 78) thì Phật đã xác nhận rằng:

"A Nan Ða có một nghệ thuật nghe pháp rất đặc biệt, không thể tìm ra một người thứ hai trên thế gian này.”

Một lần nọ, đức Phật ngự tại vườn Song Long Thọ Gosinga (cũng gọi là rừng Gosinga) với một số đông đệ tử hạng Tôn túc. Ðức Trưởng lão Xá Lợi Phật (Sàrìputta) thấy được khung cảnh thanh nhã, đã tán dương rằng: "Ðây có thể gọi là vườn An Lạc, vì những cây Song Long ở đây nở đầu hoa, hương tỏa kín không gian, như một cõi trời... !”

Rồi Trưởng lão nêu câu hỏi:

- Kính thưa chư đạo huynh! Một khung cảnh thanh tịnh như thế này, có thể đem so sánh với phẩm hạnh của Sa môn nào trong chúng ta, là xứng đáng nhất?

Các vị đại đệ tử của đức Phật liền lần lượt trả lời. Mỗi vị làm nổi bật một khía cạnh trong sự so sánh của mình. Nhưng nói chung, tất cả ý chính đều qui về một điểm là: Mỗi Sa môn đều có một phẩm hạnh đặc sắc, xứng đáng để so sánh với khung cảnh thanh tịnh của ngôi vườn.

Riêng câu trả lời của A Nan đa thì như sau:

- Này chư đạo huynh! Sa môn nào là người nghe đủ tám mươi bốn ngàn pháp môn của đức Phật, là người sống đúng theo Chánh pháp, là người làm sáng tỏ và bảo tồn Pháp bảo tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn chót. Sa môn nào là người có khả năng truyền lại những điều Phật dạy một cách tròn đủ, không thêm, không bớt một cách khiêm nhượng, tự nhiên. Sa môn nào là người luôn luôn ghi nhớ rằng: Pháp nào ta đã hiểu được, ta có bổn phận cống hiến cho cộng đồng xã hội. Tức là Sa môn có khả năng thuyết Pháp đến các hàng tứ chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện nam, và tín nữ) làm cho họ trước tiên thỏa thích trong Pháp bảo, rồi sau đó hiểu đúng nghĩa đế, để tiến tới phẩm hạnh diệt tận tham, sân, si, Giải thoát... thì Sa môn ấy xứng đáng để so sánh với ngôi vườn kỳ diệu này. (Theo Majjhina Nikaya 32 = Trung A Hàm số 32).

Nền tảng trí thức thứ hai là giữ lại trong tâm bất cứ Pháp bảo nào mà mình nghe được và tự động áp dụng những thiện pháp ấy, để mang lại lợi ích cao thượng cho chính bản thân mình.

Nền tảng trí thức thứ ba, chú giải tiếng Pàli gọi là Gatimanta, tức là sự hiểu đúng mạch văn và hoàn cảnh của từng vấn đề. Cùng một từ ngữ mà trong bài pháp này đức Phật ám chỉ thân nghiệp, rồi trong một bài pháp khác, đức Phật có thể ám chỉ ý nghiệp. Khi A Nan Ða được nghe nói đến hai lần trong hai trường hợp đặc biệt khác nhau, ông cũng hiểu Phật ngôn đúng theo ý nghĩa của từng thời pháp. Nói cách khác là bộ óc của A Nan Ða có khả năng "thu thanh" một cách chính xác và phân biệt mọi vấn đề theo thứ tự thời gian: Ðiều nào ông đã nghe, ông hiểu khác với nhiều điều ông đang nghe, không bao giờ lầm lẫn vì cố chấp trên một số từ ngữ.

Nhiều học giả Phật giáo đã ví bộ óc của A Nan Ða như một cái máy ghi âm siêu đảng, có nhiều tầng số thanh lọc. Một tầng số dành thu phát một vấn đề chuyên biệt, không bao giờ cho những âm thanh bất thiện, ngoại đề, có thể nhập vào trong âm trường của làn sóng.

Theo một thuật sự trong tam tạng Pàli thì A Nan Ða có khả năng nghe nhiều đoạn pháp khác nhau cùng một lúc. Những đoạn pháp ấy có thể thuộc về nhiều đề tài khác nhau, và được thuyết xen kẽ nhau. Nhưng sau khi nghe xong, A Nan Ða đã có thể ráp nối các đoạn pháp rời rạc ấy một cách mạch lạc, thứ tự, để hoàn tất một lúc hai ba bài pháp, thật dễ dàng. Thậm chí A Nan Ða có thể vừa nghe, vừa đem thuyết lại từng đoạn Phật ngôn rời rạc cho các hàng tứ chúng hấp thụ về một số đề pháp chuyên biệt.

Và khi nghe xong các đoạn pháp ấy, thính giả luôn luôn khen ngợi A Nan Ða đã cống hiến cho một bài pháp, tuy nhiều đoạn ráp nối nhưng rất dễ hiểu, hấp dẫn và mạch lạc.

Ðiều ấy chứng tỏ rằng A Nan Ða đã có khả năng hiểu đúng, và nắm vững ý chính, từng chữ, từng câu, hay từng đoạn do đức Phật thuyết dạy, bằng một nghệ thuật rất khoa học.

Nhờ thế, nhiều lần A Nan Ða, trong lúc đang thuyết lại một số Pháp bảo, chợt bị các đồng đạo chất vấn bất ngờ, ông vẫn có thể ngưng lời, để giải đáp cặn kẽ, rồi quay lại đề chính một cách tự nhiên, dễ dàng, mà không bao giờ bị lạc ý hay lúng túng.

Nền tảng trí thức thứ tư là nghị lực và sự hiến thân không thối chuyển trong nhiệm vụ học hỏi và duy trì Pháp bảo Giải thoát, với tư cách là một Thanh văn thân cận nhất của một bậc Giác ngộ.

Nền tảng trí thức thứ năm là công hạnh của một đệ tử hầu Phật hoàn toàn nhất, của A Nan Ða, như chúng ta đã đề cặp qua trong đoạn trước.

Ngày nay, khi chúng ta nhắc lại năm nền tảng trí thức ấy, chúng ta không thể nào không mường tượng ra hình ảnh linh hoạt của đại Tôn giả A Nan Ða. Tuy ông ở vai trò làm phát ngôn viên chính thức của đức Phật, ông là trọng tâm của mọi sự chú ý, mà ông vẫn ung dung, hòa ái, đối xử một cách bình dị, cởi mở với tất cả mọi người.

Ðối với những ai thường tiếp xúc với ông, A Nan Ða là mẫu người hiếm khi bị chê trách, vì đức tính phụng sự đức Phật và Tăng chúng không hề biết mệt, cũng như tình bạn không lay chuyển, mà ông luôn luôn dành cho tất cả mọi người.

Nhiều khi, có những xung đột xảy ra trong các hàng Tăng chúng, mà A Nan Ða hay. Thay vì ông dửng dưng làm người ngoại cuộc cho yên thân thì A Nan Ða đã tình nguyện làm "hòa bình Sứ giả" để dùng từ tâm của mình giải quyết một vấn đề một cách êm đẹp.

Và A Nan Ða đã luôn luôn thành công, vì ông là một Sa môn không bị ai ghét bỏ. Ông là một người không có kẻ thù. Hình ảnh của ông chỉ là một hình ảnh của một đệ tử trung thành với đức Phật.

Ông đã hết lòng phục vụ Tăng chúng đồng thời với sự tận tụy với đức Phật. Nên trong tâm tư của những đồng đạo của ông, ông không bao giờ lưu lại một nét bất mãn.

Mặt khác, A Nan Ða vốn là người rất giỏi tổ chức. Ông luôn luôn biết trước và nắm vững mọi sinh hoạt của các hàng tứ chúng, có liên hệ đến ông hàng ngày. Ông như một vị "giám đốc" kỳ tài, biết phân phối rõ ràng chương trình làm việc đến tất cả mọi người để cho những sinh hoạt Tăng già luôn luôn được diễn ra tốt đẹp. Rồi nhờ tính cẩn thận và cảnh giác cố hữu, A Nan Ða hàng ngày rút ra nhiều bài học quý giá. Cùng một sơ hở, người khác có thể vấp phải nhiều lần, nhưng A Nan Ða không bao giờ vấp lại lần thứ hai.

Tính cảnh giác và trí nhớ đặc biệt còn giúp cho A Nan Ða có thể nhận diện hàng trăm ngàn Phật tử xa gần khác nhau một cách kỳ diệu. Ông chỉ cần thấy mặt một người nào đó một lần, là trong bao nhiêu lần sau, ông cũng nhận ra họ được.

Và cũng nhờ cái tài "nhớ rõ mặt mũi từng người" ấy, mà A Nan Ða đã có thể đoán trước (ngày nay chúng ta thường gọi là xem tướng) biết được bản chất của từng người một, hầu đối xử với họ làm sao cho hợp lẽ, để họ tự động học hỏi thấm nhuần Phật giáo, không gây cho họ cảm tưởng "Ông là người đã khéo léo dẫn dụ họ quay về với đạo Phật.” Bất cứ ai lúc quy y đạo Phật, sau khi đã nghiên cứu giáo lý Phật Ðà với A Nan Ða, cũng điều nghĩ rằng: Chính họ đã tìm ra Chánh pháp, chứ không bị ai ảnh hưởng cả.

Nói tóm lại, A Nan Ða là một Sa môn có đầy đủ phẩm hạnh để đóng vai trò đại diện cho đức Phật trước hàng tứ chúng, hầu cùng với những vị đại tông đồ khác lãnh đạo Giáo hội. Và cái phẩm hạnh nổi bật nhất, cần luôn luôn nhắc đến ở đây, là phẩm hạnh của một bậc gìn giữ Pháp bảo. Nếu Phật pháp là một kho tàng của báu vô giá, thì A Nan Ða chính là vị bảo vệ kho tàng ấy chắc chắn nhất vậy.

Chương V: A Nan Ða Đối Với Nữ Giới

Ngay từ hồi còn làm Hoàng thân, hai anh em A Nan Ða và Anuruddha đã không bị lôi cuốn bởi những sự hầu hạ của phái nữ. Nhờ bản chất ít đam mê trong dục lạc ở đời và nhờ tinh thần ưa chuộng sự sống thanh tịnh, nên sau khi xuất gia mọi liên hệ giữa họ với những người nữ phái dường như không còn cần thiết nữa. Nhất là Anuruddha, từ ngày xuất gia, sự tiếp xúc với nữ giới hoàn toàn cắt đứt. Không những Anuruddha tuyệt đối chẳng nhìn đến người nữ, mà ngay đến cả những người nam cũng rất ít khi được ông giao dịch, trò chuyện nhiều lời, ngoại trừ đức Phật.

Tuy nhiên, không phải vì vậy, mà vấn đề phái nữ không được đặt ra như một thách đố đối với A Nan Ða, nhất là vị đại Tôn giả này vì bổn phận, hằng ngày phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người. Huống chi A Nan Ða đã tâm nguyện đem thân mình hiến dâng cho tiền đồ Phật giáo.

A Nan Ða ngoài việc hầu cận đức Phật và phục vụ Giáo hội, ông còn nhận bổn phận chăm sóc tất cả hàng Phật tử, bất luận là nam hay nữ. Nếu không có A Nan Ða, trong Phật giáo có lẽ chỉ có ba hạng đệ tử mà thôi là Tỳ kheo, Sa di và các hàng thiện tín.

Chính ông là bàn tay đã khai sinh hệ thống nữ tu khi đức Phật còn tại tiền. Theo Anguttara Nikaya 8 (Tăng Nhất A Hàm Số 8) và Cùlavagga 10 (Tiểu Phẩm Số 10), thì sự bắt đầu của Giáo hội Tỳ kheo ni đã diễn ra như sau:

"Khi những nam Hoàng thân trong vương tộc Thích Ca đã xuất gia, thì các Phu nhân, các Công chúa, các Tiểu thơ cũng đều mong muốn sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của đức Phật. Do đó, có một số đông các mệnh phụ Phu nhân dẫn đầu bởi Hoàng hậu Mahà Pajapati Gatamì (tức là dì ruột, là kế mẫu, mà cũng là người để nuôi dưỡng đức Phật từ khi chào đời cho đến khi khôn lớn) đã đưa nhau đến ra mắt đức Phật và xin phép xuất gia. Thoạt đầu đức Phật đã từ chối, vì biết chắc rằng đời sống khắc khổ, thanh đạm, không nhà cửa của các hàng Sa môn chẳng thể nào thích hợp với những bậc khuê các. Nhưng Mẫu hậu Mahà Pajapati Gotamì vẫn kiên nhẫn khẩn khoản đức Thế Tôn đến nhiều lần...

Khi A Nan Ða thấy kế mẫu của đức Phật hai chân sưng húp, y phục dính đầy cát bụi, đôi mắt thâm quầng và ngập lệ, đứng trước cửa chùa một cách thiểu não, bèn hỏi:

- Tâu Mẫu hậu, vì sao người ra nông nổi ấy?

- Bạch Sa môn A Nan Ða! Mẫu hậu mong ước được sống đời sống xuất gia, nhưng đức Thế Tôn đã không cho phép.

- Mẫu hậu đã yêu cầu Phật đến lần thứ mấy?

- Ðến lần thứ ba rồi mà vẫn không được nên Mẫu hậu đang buồn tủi và tuyệt vọng!

A Nan Ða nghe thế liền đích thân đi yêu cầu đức Phật. Nhưng đến phiên ông yêu cầu đến lần thứ ba vẫn bị đức Phật từ chối.

Và lòng từ hi đã không cho phép A Nan Ða thụ động, đứng nhìn Hoàng hậu đáng thương như thế. Ông bèn an ủi Hoàng hậu, rồi hứa sẽ tìm dịp thuận tiện để yêu cầu đức Phật nữa.

Ðến đây thiết tưởng soạn giả cũng nên cắt nghĩa về thái độ của đức Phật. Ðức Bổn sư sỡ dĩ từ chối sự xuất gia của Mẫu hậu và các hàng Phu nhân trong hoàng tộc Thích Ca, bởi lẽ Giới luật của các bậc Sa môn rất nghiêm nhặt, đời sống phạm hạnh rất thanh đạm, cơ cực, nếu không muốn nói là gần như khổ hạnh đối với những bậc quý phái thuở bấy giờ. Một vị Hoàng hậu trở thành một Tỳ kheo ni để sống giữa rừng vắng, thực phẩm hàng ngày là của bố thí của những kẻ hảo tâm. Các mệnh phụ Phu nhân ấy vốn quen sống trong nhung lụa, luôn luôn được hầu hạ thì làm sao biết tự lập, biết tổ chức và biết hạ mình, nhường nhịn nhau trước những cơ cực trong đời sống khất sĩ.

Vả lại, thuở đức Phật còn tại tiền, xã hội Ân Ðộ lúc bấy giờ được xếp đặt theo quan niệm chính trị của đạo Bà la môn, một Tôn giáo xem địa vị của nữ lưu rất thấp trong xã hội, nhất là nữ lưu ấy là một khất sĩ. Và người đàn bà không có quyền tạo thành một cộng đồng riêng biệt.

Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu rằng, đức Thế Tôn từ chối việc xuất gia của Mẫu hậu đến ba lần là để thử thách sự quyết tâm của bà, cũng như để cho bà còn thì giờ suy nghĩ lại hầu sau này khi khép mình trong khuôn khổ phạm hạnh, bà sẽ không tiếc rẽ đời sống vương giả nơi hoàng cung.

Trở lại vai trò của A Nan Ða trong vấn đề này. Vào một dịp, A Nan Ða hỏi Phật:

- Bạch đức Thế Tôn, một người đàn bà dốc lòng xuất gia, lấy ngày tháng phạm hạnh làm kiếp sống, nghiêm trị Giới luật và theo gương các bậc Toàn Giác, người đàn bà ấy về sau có thể đắc quả Thánh Nhập lưu, quả Thánh Nhất lai hoặc quả Thánh Giải thoát hay không?

- Náy A Nan Ða! Người đàn bà như thế về sau chắc chắn sẽ được quả Thánh Giải thoát!

Nhân đó A Nan Ða liền nhắc lại:

- Bạch đức Thế Tôn! Nếu một người đàn bà có đủ những yếu tố như thế và người đàn bà ấy lại là Mahà Pajapati Gotami, dì ruột, kế mẫu cũng là người đã nâng niu đức Thế Tôn từ tấm bé. Người đã nuôi dưỡng đức Thế Tôn bằng những giọt sữa của chính mình, khi đệ nhất Hoàng hậu Màyà (mẹ ruột của Phật) băng hà. Một người đàn bà như thế có xứng đáng được Thế Tôn chấp nhận cho được xuất gia, lấy đời sống không gia đình làm phương tiện để noi gương và giữ gìn Giới luật của đức Thế Tôn đã chỉ dạy hay không?

Ở đây A Nan Ða hiển nhiên đã nêu lên hai lý do rất chính đáng. Lý do thứ nhất, một người đàn bà, nếu có Chánh kiến, quyết tâm và trì chí cũng có thể đắc quả Giải thoát trong kiếp này. Lý do thứ hai, Hoàng hậu Màyà đang hội đủ những đức tính đó và bà lại có công lớn trong việc bảo toàn và dưỡng dục Hoàng tử hiện thân của đức Phật, thì đối với một hiền mẫu như thế chỉ có một phẩm vị xuất gia trong Chánh pháp mới có thể đền bù xứng đáng công ơn của bà.

Ðức Phật, trước sự "biện hộ" một cách chân chính của A Nan Ða đã cho phép Mẫu hậu Mahà Pajapati Gotami xuất gia. Ngài sau đó cũng cho phép A Nan Ða thành lập Giáo hội nữ giới, nhưng với những điều kiện gia nhập rất nghiêm nhặt.

Ðọc đến đây, chúng ta có cảm tưởng A Nan Ða nhờ trí thông minh và khéo nói mà thay đổi được "tư tưởng" của Phật. Nhưng trong thực tế, nhất là trong chiều sâu, không ai có thể thay đổi được "ý định" của một bậc Toàn Giác cả. Bởi ý nghĩ của một vị Phật luôn luôn gắn liền với những sự thật rất vi tế. Vấn đề này không phải chỉ xảy đến với đức Phật Thích Ca, mà nó còn đã xảy ra cho các vị Phật trong quá khứ nữa. Và hầu hết các chư Phật đều đã cho phép thành lập Giáo hội Ni giới.

Câu chuyên kế mẫu của đức Thế Tôn, Hoàng hậu Mahà Pajapati Gotami không được phép xuất gia khi chưa có sự can thiệp của A Nan Ða, không có nghĩa là đức Phật không biết đến công ơn dưỡng dục của bà. Nhưng sự không chấp thuận một cách vội vã ngay lúc đầu để chứng minh rằng đức Phật là một bậc Toàn Giác và Ngài vốn biết trước mọi việc, nhất là biết trước một tai hại về lâu về dài cho Phật giáo trong tương lai.

Bởi thế, sau đó đức Phật đã chuẩn định tám điều kiện mà chỉ có những người đàn bà nào đầy đủ đức hạnh và thành tâm nhất mới có thể được chấp thuận để gia nhập Ni giới. Tám điều kiện này còn được xem như những giải pháp ngăn ngừa sự luyến ái giữa hai phái nam và nữ một cách dứt khoát và cần được thi hành tuyệt đối nghiêm chỉnh.

Ðã thế, đức Phật còn ấn định rằng: "Hệ thống Ni giới trong Giáo pháp của Như Lai sẽ kéo dài một cách đúng đắn trong vòng năm trăm năm sau thôi.”

Lời của dịch giả: Vấn đề tuổi thọ năm trăm năm của Ni giới chỉ tìm thấy trong Tạng Luật (Vinaya Pitaka) chứ không tìm thấy trong Tạng Kinh (Suttanta Pitaka) hay Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka). Nhất là không có chỗ nào trong kinh điển Pali (Phạn ngữ) ghi rõ tuổi thọ ấy kéo dài đến một ngàn năm, như một số học giả nói. Hầu hết các nhà phê bình và khảo cứu Phật giáo từ xưa đến nay thường nhắc đến những hiện tượng suy đồi của Giáo hội Ni giới trong vòng năm trăm năm, hơn là xác chứng lời Phật nói về vấn đề thời gian. Nếu có sự khác nhau về tuổi thọ của hệ thống Ni giới thì đó có lẽ là ý kiến của Tổ Sư Phật giáo sau này.

Về sau, khi đức Phật ban bố những nghiêm luật và nội qui cho đời sống Ni giới, A Nan Ða đã hỏi đức Phật về phẩm cách của một Sa môn xứng đáng được hướng dẫn các hàng Tỳ kheo ni, đức Thế Tôn đã trả lời rằng:

- Sa môn nào biết thực hành đúng tám quy luật mà Như Lai đã chế định là Sa môn sẽ thay mặt Như Lai thuyết pháp đến các hàng Tỳ kheo ni.

Tức là đức Phật không hạn chế vị Bổn sư của các Tỳ kheo ni nhất định phải là A la hán, nhưng Ngài chỉ nhấn mạnh ở tâm phẩm cách. Tuy tám phẩm cách ấy tượng trương cho một bậc Thánh, nhưng nếu một phàm Tăng hội đủ những đức hạnh đặc biệt như A Nan Ða chẳng hạn, cũng có thể hướng dẫn các hàng Tỳ kheo ni được.

Tám phẩm cách ấy là:

1. Làm Thầy dạy đạo cho các hàng Tỳ kheo ni phải đủ đức hạnh (Giới luật phải trong sạch).

2. Phải am hiểu Pháp bảo.

3. Phải thuộc lòng Giới luật, nhất là Giới luật Tỳ kheo ni.

4. Phải có khả năng nói pháp vừa thanh nhã (không tục tĩu) vừa rõ ràng, dễ hiểu. Không được lầm lỗi trong sự phát âm (vì cũng là một chữ mà phát âm sai có thể hiểu ra nghĩa khác).

5. Phải biết dạy pháp đến các hàng Tỳ kheo ni từ thấp tới cao, làm cho họ từ chưa hiểu đến hiểu rõ.

6. Phải được các hàng Tỳ kheo ni đón mừng (tức không làm cho họ sợ) và kính mến. Nhất là Sa môn ấy khi có một đệ tử Tỳ kheo ni phạm lỗi và bị ông rầy, sau đó không nên làm cho người phạm lỗi tiếp tục sợ hãi.

7. Phải là một Sa môn từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ phạm giới tà dâm.

8. Phải là một Sa môn thọ Cụ túc giới (tức Giới luật Tỳ kheo ni) tối thiểu hai mươi hạ.

(Theo Angutfana Nikaya 8 52 = Tăng Nhất A Hàm số 8 52).

Và kể từ ngày ấy, vị Tôn giả A Nan Ða là một trong những người đầu tiên có công sáng lập ra hệ thống Ni giới, nên ông đã tìm mọi cách để thúc đẩy hệ thống này tiến mạnh trên đường Thánh đạo.

Ðây cũng là lý do khiến cho A Nan Ða đã gặp phải một số phiền phức.

Có hai trường hợp các Tỳ kheo ni bướng bỉnh chống lại đại Trưởng lão Ca Diếp (Maha Kassapa) để đòi nghe pháp của A Nan Ða (Theo Samyutta Nikàya 16, 10, 11 = Tạp A Hàm các số 16, 10, 11).

Một trong hai trường hợp đó đã được đề cập qua trong chương hai, với tựa đề là A Nan Ða một cái tên quen thuộc. Theo sử chép thì kết quả của biến cố ấy là có hai Tỳ kheo ni khó dạy hoàn tục. Và họ nêu lý do hoàn tục rằng: Họ đã không chịu nổi cảnh của một ông Thầy (Ám chỉ A Nan Ða) không biết chú ý đến họ như những con người, mà chỉ chú trọng đến họ như hai tâm hồn cần được cứu rỗi.

Nghiêm trọng hơn nữa là trường hợp của Tỳ kheo ni tên là Kosambi, một cái tên mà A Nan Ða chưa từng quen thuộc. Tỳ kheo ni này một hôm bỗng nhắn lời đến A Nan Ða rằng: Cô ta đang bệnh nặng, cần sự viếng thăm của ông. Sự thật cô đã thầm yêu trộm nhớ A Nan Ða, và chỉ muốn tạo dịp quyến rũ vị Sa môn này. A Nan Ða khi biết rõ chuyện ấy, thay vì né tránh ông đã giải quyết vấn đề một cách cao thượng.

A Nan Ða đến thẳng tư thất của Tỳ kheo ni si tình kia, rồi giảng giải cho cô ta nghe rằng: Xác thân này của ông vốn là sự hội hợp của những chất đáng nhờm gớm. Nhất thời, nó chỉ là giao điểm của ba nguồn đau khổ là Tham sống, Thèm Khát Hưởng Thụ và Ngã Chấp. Rồi ông phân tích hậu quả trầm luân của ba nguồn đau khổ ấy, để thức tỉnh người đàn bà tăm tối kia.

Ông nói: Thứ nhất hễ tham sống thì cái chết sẽ làm cho ta đau khổ, mà cái chết không thể tránh được. Cái chết được biểu hiện bằng cái già và cái bệnh, mà cái già và cái bệnh cũng không thể tránh được. Khi người ta cảm thấy mình mỗi ngày một già thì người ta tự biết mình càng lúc càng tiến đến chỗ chết. Thứ hai: Hễ thèm khát hưởng thụ thì bất tọai nguyện sẽ làm cho ta đau khổ, mà điều bất tọai nguyện không thể tránh được, vì con người chỉ ngăn ngừa nổi ác nghiệp sắp tới (nhờ tinh tấn tu hành), chứ không ngăn được ác quả đã tạo. Khi người ta đối diện với một nghiệp quả đã tạo dù lành hay dữ, sự thèm khát luôn luôn làm cho người ta đau khổ. Nếu quả lành thì thèm khát mong được có nhiều hơn, còn nếu quả ác thì thèm khát mong được tránh khỏi. Thứ ba hễ ngã chấp thì Vô thường sẽ làm cho ta đau khổ, mà Vô thường là một luật định không ai có thể tránh được. Mặt trời buổi sáng mọc ở hướng Ðông, rồi buổi chiều lặn ở hướng Tây. Ngày qua tháng lại là tượng trưng chính xác nhất của định luật Vô thường. Vô thường là yếu tố căn bản để làm cho cái "ngã tạm thời" không bao giờ thực sự tồn tại, chứ đừng nói chi đến việc hiện hữu lâu dài hay trường cửu.

Một bậc xuất gia chân chính là người biết biến đổi ba ác pháp tham sống, thèm khát, hưởng thụ và ngã chấp ấy ra thành ba thiện pháp là: Vô tư trước hai trạng thái sống và chết, không mắc dính trước mọi cám dỗ của dục lạc ở đời và niệm tưởng đến luật Vô thường, mọi vật không ngừng biến đổi! Bậc xuất gia ấy sẽ thay thế sự tham sống bằng sự ham thích tịch tịnh, thay thế sự thèm khát hưởng thụ bằng sự ham thích phúc đức để tạo thiện nghiệp và thay thế sự ngã chấp bằng tính vô ngã đại đồng.

Nói cách khác là bậc xuất gia ấy biết đem sự sống của mình hòa với sự sống chung của muôn loài vạn vật, biết đem tính phát triển thiện hạnh của mình đóng góp vào sự tiến hóa chung của tất cả chúng sinh, và biết đem cái bản vị tạm thời trong một kiếp người của mình làm ngọn đèn soi thấy lý Vô ngã trong cái vòng sinh sinh diệt diệt.

Nghĩa là một bậc xuất gia như thế hằng sống trong Chánh pháp. Và sự biết mình chính là một sức mạnh hộ trì cho Trí tuệ sáng suốt để dẹp bỏ mọi tà tư duy, nhất là tình dục, hầu như giác linh của họ nhập vào một phẩm hạnh Thánh nhân, một phẩm cách nhằm đạt đến Giải thoát mọi đau khổ trong kiếp này và thoát khỏi cảnh tử sanh trong những kiếp sau.

A Nan Ða cũng nhấn mạnh rằng tình dục là nguyên nhân chính cắt đứt con đường Giải thoát. Một bậc xuất gia mà để cho tình dục lộng hành trong tâm mình ví chẳng khác nào như người đi thuyền khi thấy thuyền bị chảy nước mà không chịu kịp thời ngăn chặn lại. Người đi thuyền đó trước sau gì cũng bị nhận chìm dưới đáy nước.

Sau khi nghe những lời giảng dạy chân chính như thế, Tỳ kheo si tình Kosambi liền thức tỉnh. Cô lập tức rời khỏi giường (nơi mà trước đó chẳng bao lâu cô đã dùng làm chỗ khêu gợi) để đe đầu phủ phục trước mặt A Nan Ða, thành tâm nhận lỗi, rồi sám hối, yêu cầu A Nan Ða tha thứ.

A Nan Ða liền hoan hỷ trước lời sám hối của Tỳ kheo ni, và khuyến khích cô rằng: "Trong cộng đồng những người sống theo Bát Chánh Ðạo, kẻ nào biết nhận lỗi và sám hối ăn năn là người sẽ tiến bộ, và sẽ đạt đến mục tiêu Giải thoát.” (Theo Anguttara Nikaya 4, 159: Tăng Nhất A Hàm số 4, 159).

Câu chuyện này hiển nhiên đã chứng minh một cách hùng hồn về khả năng cảm hóa (bằng thuyết pháp đúng lúc và hợp hoàn cảnh) của A Nan Ða, đối với những kẻ tăm tối hầu đưa họ ra khỏi vô minh và dục vọng.

Một câu chuyện khác nói về vương phi của vua Ba Tư Nặc (Pesenadi). Những Phu nhân này nghĩ rằng; "Khó mà thấy được đức Phật ra đời! Khó mà sinh được làm người. Khó mà có được một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh! Ây thế mà chúng ta đã hội đủ ba điều kiện này, chúng ta vẫn không tự do vào chùa nghe pháp được.”

Các vương phi than phiền như thế, vì theo phong tục thuở bấy giờ: Tất cả các chánh cung, thứ hậu và thị nữ của một nhà vua phải suốt đời ở trong cung cấm, như chim lồng cá chậu. Họ chỉ được nhìn đức Phật hay chư Tăng thuyết pháp khi họ tùy tùng theo đức vua, chứ họ không được đi chùa lễ bái bất cứ lúc nào họ muốn như những hàng nam giới.

Mặc dù sống trên nhung lụa, nhưng những sự cao sang không mang lại hạnh phúc tinh thần cho họ. Họ bèn kéo nhau đến yết kiến đức vua, và yêu cầu nhà vua thỉnh Phật hay một Sa môn nào đầy đủ phẩm hạnh vào cung thuyết pháp. Vua Ba Tư Nặc dĩ nhiên nhận lời, rồi đến yết kiến đức Phật, trình bày những mong ước của các nàng Hoàng hậu.

Ðức Phật nghe xong, thoạt tiên Ngài đề nghị một đệ tử tại gia là bậc đã đắc quả A na hàm đi làm công tác đó, vì cho rằng: "Hãy để cho một bậc xuất gia thuyết pháp thì dể khuyến thiện người đời hơn, nhất là người đời ấy lại là những bậc Phu nhân quyền thế.”

Sau đó vua Ba Tư Nặc bèn thuật lại với các nàng Phu nhân về lý do từ chối của vị Thánh nhân Cư sĩ nọ, rồi yêu cầu họ hãy hội ý cùng nhau để đề nghị Sa môn nào là bậc xứng đáng nhất vào cung thuyết pháp.

Tức thời các Phu nhân liền suy nghĩ rằng "Chỉ có Sa môn A Nan Ða là người giữ gìn kho tàng Pháp bảo!” Rồi họ đồng thanh yêu cầu nhà vua mời A Nan Ða vào cung thuyết pháp.

Ðức Thế Tôn dĩ nhiên đã chấp thuận lời yêu cầu của nhà vua. Và kể từ đó A Nan Ða là người thường xuyên vào cung thuyết pháp, hướng dẫn đạo lý cho chư vị Phu nhân của đức vua Ba Tư Nặc.

Một hôm trong cung vua bỗng bị kẻ trộm lấy mất một vương miện bằng ngọc quý giá. Ngự lâm quân lục xét khắp nơi, mà vẫn không tìm ra. Tất cả thứ phi, cung tần, mỹ nữ trong cung cấm đều hồi hộp lo sợ, lo ngại mình sẽ bị nghi oan.

Khi A Nan Ða vào cung thuyết pháp như thường lệ, thì thấy toàn thể "tín nữ hoàng gia" vẻ mặt phiền muộn, không vui tươi nghe pháp như trước nữa. óng bèn hỏi nguyên nhân thì biết được tự sự.

Bằng một tâm Từ bi, A Nan Ða vội đến yết kiến đức vua, và hiến cho nhà vua một phương pháp để vương gia thu hồi chiếc vương miện bằng ngọc quý ấy, mà không vì phẫn nộ gây ra ác nghiệp (ý nói hành hình kẻ trộm...). Ðồng thời để tạo lại bầu không khí êm ấm trong hoàng cung, hầu các Phu nhân, vương phi có thể yên tâm nghe pháp.

A Nan Ða đã đề nghị với vua Ba Tư Nặc như thế này:

Quốc vương phải ra lệnh cho quân lính không được lục xét bất kỳ ai trong cung cấm nữa. Ðoạn hoàng gia cần tuyển chọn, thợ khéo dựng lên một chiếc lều lớn, chỉ có một cửa vào và một cửa ra, tại trung tâm vườn thượng uyển. Trong lều có một chiếc bình đựng nước cổ rất cao. Bất cứ ai làm việc trong hoàng cung, cũng phải vào lều rửa tay trong chiếc bình ấy, để chứng minh sự "thành thật" của mình một lần theo thứ tự, và cấm hai người cùng vào một lúc. Ðây chính là cơ hội cho kẻ tham lam biết ăn năn, có thể giấu chiếc vương miện trong mình rồi đem bỏ vào trong đáy bình nước ấy, mà không sợ bị bắt quả tang, đưa đến sự mất tánh mạng.

Kết quả, chiếc vương miện bằng ngọc của nhà vua đã được tìm thấy trong chiếc bình đựng nước "thành thật" này! Và khung cảnh tươi vui của mọi người liền trở lại trong cung cấm. Tất nhiên kẻ trộm không ai khác hơn là một trong những vương phi, đã ăn năn, đem trả lại vật quý, và được tránh khỏi tội chết! (còn chiếc bình cao cổ để chứng minh rằng không ai có thể đụng tay tới đáy để có thể nghi rằng người vào lều sau mình, hay trước mình là kẻ gian cả).

Diệu kế này càng khiến cho tên tuổi của A Nan Ða, vốn đã được nhiều người biết đến trở nên vang danh hơn nữa. Riêng trong hàng ngũ Phật giáo thì A Nan Ða đã được tất cả huynh đệ khen ngợi như một người biết tái lập sự an vui bằng một phương pháp sáng suốt, cứu rỗi được những ác nghiệp đặc biệt! (Theo Jàtaka n.92).

Và để tạm kết thúc chương nói về "Sự liên hệ của A Nan Ða đối với nữ giới" soạn giả xin thuật lại mẩu đối thoại sau đây giữa A Nan Ða với đức Phật, không bao lâu trước khi Phật Nhập diệt:

- Bạch Ðức Thế Tôn! Sau khi đức Thế Tôn Nhập diệt, chúng đệ tử phải đối xử với phái nữ, nhất là đối xử với Ni giới, như thế nào?

Phật dạy:

- Các ông đừng nhìn lên thân thể họ.

A Nan Ða lại hỏi:

- Nhưng nếu một người nữ đến quá gần một Sa môn thì phải làm sao?

Phật lại dạy:

- Các ông đừng tự mình mở lời trước.

A Nan Ða lại hỏi tiếp:

- Trường hợp một người nữ đến thật gần một Sa môn rồi bắt đầu gợi chuyện?

Phật nêu phương pháp:

- Khi nghe một người đàn bà nói chuyện, các ông phải tuyệt đối cảnh giác, nhớ lại ý niệm ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi, đồng thời sử dụng Thiền định, nhất là phẩm cách biết mình (Theo Digha Nikàya 16: Trường A Hàm số 16).

Những câu hỏi nêu trên đã được chính A Nan Ða nêu lên khi ông biết chắc rằng: Ðức Phật sắp bước vào Niết bàn. Và sau đó ông còn nhắc lại những lời sau cùng ấy với mọi huynh đệ trong khi chuẩn bị làm lễ hỏa táng.

Trên thực tế, mối liên hệ giữa các hàng Sa môn với những Tỳ kheo ni, cũng như mối liên hệ giữa các hàng Tỳ kheo Tăng với những tín nữ, đối với A Nan Ða trong suốt hai mươi lăm năm trường, dưới sự hướng dẫn của đức Phật, đã không là vấn đề đặc biệt cho lắm! Ðiều đáng nhấn mạnh ở đây là A Nan Ða đã cố ý nêu lên những câu hỏi như thế, khi đức Phật chưa Nhập diệt, là để được nghe chính đức Phật truyền dạy những điều thực tế sau cùng.

Vả, A Nan Ða tuy là một Sa môn luôn luôn sống trong sự biết mình, nhưng những sự khêu gợi của phái nữ, A Nan Ða vốn đã nhiều lấn đối diện. Và sự cảnh cáo của đức Phật trước khi cho phép thành lập hệ thống Ni giới, A Nan Ða cũng chưa quên (nhất là lời tiên đoán của Phật về tuổi thọ của cộng đồng nữ tu trong Phật giáo chỉ có thể trong sạch khoảng năm trăm năm sau mà thôi). Thành thử, đã từ lâu A Nan Ða thầm lo ngại về tương lai của Phật giáo. Rồi vì lo ngại như thế, nên ông mới đặt ra những câu hỏi nêu trên đến đức Phật hầu xem nó, không những như những giáo huấn sau cùng, mà còn tái xác nhận Thánh ý của đức Phật, về sự hiện hữu của phái nữ trong cộng đồng Tăng lữ, để lưu lại một lề luật chánh truyền về sau, cho những người kế nghiệp trông coi hệ thống nữ tu cho đến hết năm trăm năm đã định.

Chương VI: A Nan Ða Đối Với Các Hàng Huynh Đệ.

Trong cộng đồng Tăng lữ chỉ có Xá Lợi Phất (Sàrìputta) là người bạn thân nhất của A Nan Ða. Còn Anuruddha (A Nậu Lâu Ðà) tuy là anh em ruột của ông, nhưng mối liên hệ giữa hai người đã tỏ ra không khắng khít cho lắm. Lý do chỉ vì Anuruddha thích sự cô độc yên tĩnh, còn A Nan Ða thường xuyên tiếp xúc với mọi người. Mặt khác, Xá Lợi Phất (Sàrìputta) là một đại đệ tử có cách thuyết pháp giống đức Phật nhất, nên khi đàm đạo với Xá Lợi Phất, A Nan Ða có cảm tưởng như mình đang nói chuyện với đức Bổn sư.

Trong kinh còn ghi rõ ràng: Chỉ có Xá Lợi Phất và A Nan Ða là hai người đã được Phật ban cho hai "chức vụ": Xá Lợi Phất, vị "đại Như Lai Sứ giả", và A Nan Ða, vị "đại Như Lai Thanh văn.” (Tức là một người xứng đáng để diễn tả về "Ý Phật": Như Lai Sứ giả. Và người kia xứng đáng để nhắc lại đúng như lời Phật dạy: Như Lai Thanh văn).

Một đoạn khác trong Tam Tạng Kinh điển cũng nêu rõ Xá Lợi Phất (Sàrìputta) là một biện thuyết gia rất hùng hồn, nhất là khi ông thốt lời như một con sư tử gầm (Kinh Sư Tử Hống: Sihasutta).

Còn A Nan Ða là một "Tàng kinh các", tức là"chỗ chứa đựng Phật ngôn" vững chắc nhất và nguyên vẹn nhất. (Ý nói A Nan Ða nghe Phật dạy sao thì có khả năng thuật lại y hệt, không thêm, không bớt, dù cho chỉ một chữ hay một vần).

Về điểm này, chúng ta có thể đem A Nan Ða so sánh với Mục Kiền Liên (Moggallàna). Vị đại đệ tử nổi tiếng thần thông của đức Phật này (Mục Kiền Liên) cũng có một cách thuyết pháp rất giản dị, thực thà, bình dân và dễ hiểu. Mục Kiền Liên là vị đại tông đồ thứ hai (sau A Nan Ða) nổi tiếng về đức tánh lập lại Phật ngôn một cách nguyên văn không dư sót.

Mặt khác, A Nan Ða và Xá Lợi Phất thường được đức Phật giao cho thi hành một số công tác chung. Chẳng hạn như khi ông bá hộ Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika) đau nặng, họ đã cùng nhau đến thăm nhiều lần (Theo Majjhima Nikàyaa số 153, và Samyutta NiKàya, 55-56). Hoặc cả hai đã hợp lực trong việc giải quyết những mối bất hòa trong các hàng Tăng lữ ở Kasambi (Theo Anguttara Nikàya 221).

Còn mặt luận đạo thì A Nan Ða và Xá Lợi Phất đã trao đổi khắng khít với nhau không biết bao nhiêu lần. Bởi vậy, khi A Nan Ða hay tin Xá lợi Phất Viên tịch, ông đã lập tức rụng rời, tỏ lời thương tiếc như sau:

"Bỗng dưng khung cảnh đổi buồn,

Huynh đi "tâm" đệ không còn tinh thông.

Mất huynh dòng lệ sầu tuôn,

Mất huynh như ánh đèn linh tắt rồi.”

(Nguyễn Ðiều thoát dịch theo bài kệ số 1034 trong Theragatha: Tôn Túc Kinh).

Thật vậy, khi Xá Lợi Phất Viên tịch thì A Nan Ða chưa đắc Thánh quả A la hán, thành thử nỗi buồn thương tiếc trong lòng ông, u trầm như một cơn bão lớn thổi tắt mọi ánh sáng Trí tuệ trong tâm tư vị Tôn giả khả kính này. Ðó cũng là một bài học để A Nan Ða về sau hiểu được nỗi khổ não gây ra do tử biệt, thương ly (Hai trong tám pháp thế gian).

Ðức Phật thấy A Nan Ða vô cùng khổ não, bèn cứu độ ông bằng cách vấn đạo như sau:

- Này A Nan Ða! Xá Lợi Phất Viên tịch có mang theo của ông một phần giới hạnh, một phần thanh tịnh, một phần Trí tuệ, một phần Thánh thiện hay một phần Giải thoát nào không?

- Bạch đức Thế Tôn! Không!

Rồi A Nan Ða tiếp:

- Nhưng đạo huynh Xá Lợi Phất là một bậc đàn anh hằng che chở, dẫn dắt những đàn em mới chập chững bước vào Thánh đạo.

Ðức Phật sau đó liền ban bố những lời an ủi khác, hướng dẫn A Nan Ða đến một phẩm cách cao hơn. Ngài hỏi:

- Này A Nan Ða! ống nhớ chăng một chân lý mà Như Lai đã dạy rằng: Không có cái gì sinh ra rồi sẽ còn mãi mãi. Tuy sự Viên tịch của Xá Lợi Phất đối với hàng ngũ Phật giáo có thể xem như một cành cây lớn đã lìa khỏi thân cây. Không có mặt của Xá Lợi Phất, cộng đồng Tăng chúng dù bị thiệt thòi rất nhiều. Nhưng không phải vì vậy mà chư đệ mắc dính vào sự hướng dẫn, che chở của người khác, dù cho người ấy là Như Lai, chứ đừng nói là Xá Lợi Phất! Vậy A Nan Ða hãy tự mình khêu sáng ngọn đuốc Trí tuệ cho chính mình, không nên tùy thuộc vào một tha lực (Theo Samyutta Nikàya 7, 13: Tạp A Hàm 7, 13). Nghe Phật dạy như vậy A Nan Ða mới khoan tâm, rồi tinh tấn thi hành phận sự.

Ngoài Xá Lợi Phất ra, A Nan Ða cũng thường luận đạo, gần gũi và sinh hoạt chung với một số rất nhiều Tăng chúng khác (Soạn giả chỉ xin phép nhắc lại một hai trường hợp tượng trưng):

Chẳng hạn như một hôm, Tỳ kheo Vangisa cùng đi khất thực với A Nan Ða. Trên đường đi, Vangisa bỗng cảm thấy chán nản cảnh độc thân, một tâm bệnh nguy hiểm vào bậc nhất của các hàng Tu sĩ. Tâm tư ông tự nhiên nổi đầy buồn phiền, rồi đòi hỏi nhục dục. Tức khắc ông nhận thấy đời sống của một Tu sĩ thật là vô nghĩa, còn hoàn tục lấy vợ và tạo một mái ấm gia đình thì hấp dẫn và hạnh phúc hơn nhiều.

Tỳ kheo Vangisa vốn là một người làm thơ có tài. óng chợt dùng lời thơ (trong kinh điển Phật giáo gọi là Kệ ngôn) yêu cầu A Nan Ða giúp ông thực hiện ý muốn ra đời.

A Nan Ða thì hiểu được những gì đang nung nấu trong tâm tư của người bạn đồng hành, bèn khuyên nhủ ông bằng những lời thanh thoát như sau đây:

"Ðời chỉ đẹp khi tình yêu nung nấu,

Kẻ mê đời không biết sẽ sầu đau.

Yêu trong đời là tình yêu sân khấu!

Màn buông xong... son phấn có gì đâu?

Này sư đệ đừng để lòng phóng túng,

Hãy gom tâm niệm tưởng biết mình thôi!

Khi mê sắc tưởng đời tu vô dụng,

Tịnh tâm rồi hạnh phúc thấy mọi nơi!”

(Nguyễn Ðiều thoát dịch theo Tôn Túc Kệ Ngôn số 1224 - 1225: Theragàthà 1224-1225).

Trong bài kệ môn trên đây, A Nan Ða đã chỉ cho Vangisa thấy rằng: "Vì ông đang bị ái dục nung nấu trong tâm tư, nên Vangisa không thể nào nhận ra chân lý đau khổ (Khổ đế), nhất là đau khổ trong tình trạng bị sắc đẹp của phái nữ quyến rũ. Khi sự thèm khát tình yêu chiếm trọn tâm tư rồi thì con người dễ trở thành nhụt chí và thất vọng. Trường hợp nếu nạn nhân là một Đạo sĩ thì nó làm cho họ chán ghét đời sống phạm hạnh. Vì vậy A Nan Ða khuyên Vangisa phải bình tĩnh nhớ lại mọi hình dung trên đời, như vẻ đẹp trên sân khấu, tuy bề ngoài có vẻ đẹp đẽ, đáng ôm ấp, nhưng thực tế bề trong rất xấu xa, đáng nhờm gớm... để ông hiểu rằng "xác thân này, dù đẹp hay xấu, bệnh hoạn hay khỏe mạnh, tàn tật hay nguyên vẹn, vốn là nguồn gốc của những đau khổ trên đời.” Sa môn nào quán xét thấy rõ được như vậy, sẽ hoan hỷ tiếp tục đời sống phạm hạnh.”

Một trường hợp khác, sau khi Phật nhập Niết bàn: Tỳ kheo Channa có lần bị pháp hoài nghi (Vicikiccà) quấy nhiễu. Tuy ông biết rằng xác thân Ngũ uẩn này Vô thường, nhưng ông vẫn cứ thương mến, và lo sợ rằng: "Mình tin vào Niết bàn là rơi vào đoạn kiến!" hay: "Phải chăng Niết bàn là trạng thái tuyệt diệu?" hoặc: "Vô ngã tương đương với một con số không?”

Vì đời sống của mọi sinh vật trên thế giới này chỉ có ý nghĩa khi chính trong sự sống ấy có một cái gì thiêng liêng bất diệt. Nếu ta tu hành để trở thành một trạng thái "biến mất" thì sự tu hành ấy dựa trên cơ sở đoạn kiến.

Suy nghĩ như vậy, nên Channa vội tìm đến A Nan Ða để nhờ giải tỏa những thắc mắc trong tâm.

A Nan Ða liền nhắc cho Channa nhớ rằng: Chính đức Thế Tôn đã từng dạy: Khi một sự thắc mắc như thế nổi lên trong tâm tư một hành giả là khi trình độ tu tập của người ấy đang tiến tới bậc cao, chuẩn bị đột phá bức tường cuối cùng của cái vòng sinh tử luân hồi. Bức tường ấy là sự Chấp Hữu (cho là có) và Chấp Vô (cho là không)...

Rồi A Nan Ða thuyết lại trọn bài pháp nói về Hữu và Vô của đức Phật đã chỉ giáo, cho Channa nghe. Khi chỉ nghe lại đoạn mở đầu, Channa chợt cảm thấy giải tỏa trong lòng. ông chăm chú nghe trọn bài pháp một cách càng lúc càng hoan hỷ. Ðoạn ông tán dương những lời Phật dạy do A Nan Ða nhắc lại, như sau:

- Thật là tuyệt diệu được nghe Chánh pháp! Thật là may mắn cho tiểu đệ có một sư huynh thông thái như bậc Thầy. Nếu sự hoài nghi trước đây đã làm cho tâm đệ bị mê mờ, bị cùng quẩn, suýt trở thành bất trị, thì bây giờ nghe lại chân lý, tâm hồn đệ đang được soi sáng, đắc rõ chính đạo. (Theo Samgutta Nikàya 12-15-22-90: Tạp A Hàm các đoạn 12-15-22-90).



Related news items:

 

Thêm bình luận

Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự động nhận ra các kiểu gõ, xin các bạn sử dụng tiếng Việt có dấu. Những bình luận không bỏ dấu chúng tôi sẽ không đăng.


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)