| Du Lịch Xứ Phật |
|
|
|
| Lịch Sử Phật Giáo - Lịch Sử Phật Giáo Thế Giới | ||||||
| Viết bởi Đoàn Trung Còn | ||||||
Trang 1 của 4 Âu Á giao thông, hoàn cầu đã thành như một cái nhà chung của anh em trong nhân loại. Nhưng về phần riêng, chỉ có một mình xứ Tây Tạng là không dự đến các việc tiếp xúc ở ngoài thôi, mà ở các nước cũng không có một người nào vào đến kinh thành Lhassa là nơi phòng vệ rất nghiêm và là nơi trung tâm của nền Phật giáo hiện thời. Đạo lý của Phât tổ hiện nay dồn về xứ Tây Tạng với những kinh điển cao siêu, với những nhà chùa tráng lệ, với những vị sư đắc đạo hiện tiền... Người ngoại quốc muốn đến kinh thành thì phải gặp biết bao nhiêu nỗi khổ niềm nguy trên những con đường trắc trở cam go, đầy hầm hố chông gai, trên những quãng đồng mênh mông đầy những tuyết sương, phải chịu những cảnh màn trời chiếu đất và phải nhịn đói ngày nọ qua ngày kia. Và dầu có trải qua những nỗi ấy thì vừa đến nơi cũng chẳng khỏi bị người truy tầm ra mà trục xuất liền, nhưng... Du Lịch Xứ PhậtNguyên tác tiếng Pháp: “Mon voyage secret à Lhassa”by M. W. MontgomeryViệt dịch: Đoàn Trung CònNhà Xuất Bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2547 – DL. 2003Mục Lục:Lời Nói Đầu Cảm Tưởng Của Dịch Giả Chương 1: Khởi Sự Lần Đầu Tiên Chương 2: Lại Một Lần Nữa... Chương 3: Hết Xuống Đầm Lầy Lại Lên Đỉnh Tuyết Chương 4: Trở Ngại Trên Đèo Cao Chương 5: Trên Đỉnh Hoàn Cầu Chương 6: Sinh Hoạt Ở Các Tỉnh Của Tây Tạng Chương 7: Phật Giáo Ở Tây Tạng Chương 8: Trước Hàm Sư Tử Chương 9: Đến Lhassa Chương 10: Quan Thủ Tướng Ở Kinh Thành Chương 11: Đức Phật Sống Đạt Lai Lạt Ma Chương 12: Văn Minh Tân Thời Ở Chốn Thủ Đô Lời Nói ĐầuÂu Á giao thông, hoàn cầu đã thành như một cái nhà chung của anh em trong nhân loại. Nhưng về phần riêng, chỉ có một mình xứ Tây Tạng là không dự đến các việc tiếp xúc ở ngoài thôi, mà ở các nước cũng không có một người nào vào đến kinh thành Lhassa là nơi phòng vệ rất nghiêm và là nơi trung tâm của nền Phật giáo hiện thời. Đạo lý của Phât tổ hiện nay dồn về xứ Tây Tạng với những kinh điển cao siêu, với những nhà chùa tráng lệ, với những vị sư đắc đạo hiện tiền. Ở xứ Tây Tạng, tạo hóa và dân sự dường như bảo nhau mà giữ không cho kẻ lạ bước vào! Núi cao chập chùng lên tận mây xanh có tuyết phủ trọn cả năm này sang năm kia, khí hậu rất lạnh, phần nhiều là những quãng đồng hoang, không cỏ, không hoa, chỉ có một đôi cụm cỏ để làm vật thực cho những bầy nai, cừu nơi đó thôi. Lúa mạch trồng được nhiều và trong những khoảng đất ấy cũng có nhiều mỏ kim quý mà đến nay mới vừa khai phá. Dân cư rải rác từng khu vực nhỏ, phần đông đều là dân trôi dạt cùng với đoàn cừu rày non, mai núi, thong dong giữa trời. Ở nơi thị tứ, có những dinh thự đền đài phần đông thuộc về giới tu sĩ, vì trong nước giới này nắm quyền chấp chánh một cách mạnh mẽ và choán hết một phần tư trong số toàn dân. Giới này lại ghét người ngoại quốc, mỗi khi nghe có người ngoại quốc tới liền ra lịnh trục xuất ngay đi. Ở khoảng giữa là kinh đô Lhassa, có hoàng thành rất đồ sộ. Hoàng đế, đức Dalai Lama, vừa là người đứng đầu trong xứ, vừa là vị lãnh đạo cao nhất của giới tu sĩ, được dân chúng tôn trọng như Phật, nên thường gọi Ngài là Phật sống. Người ngoại quốc muốn đến kinh thành thì phải gặp biết bao nhiêu nỗi khổ niềm nguy trên những con đường trắc trở cam go, đầy hầm hố chông gai, trên những quãng đồng mênh mông đầy những tuyết sương, phải chịu những cảnh màn trời chiếu đất và phải nhịn đói ngày nọ qua ngày kia. Và dầu có trải qua những nỗi ấy thì vừa đến nơi cũng chẳng khỏi bị người truy tầm ra mà trục xuất liền. Có một đôi người nhờ kiên chí nên chịu được khổ nhọc mà vào tận Lhassa, nhưng ở không được mấy ngày thì lại người biết ra mà buộc phải trở về. Trong số người bước chân được tới xứ Tây Tạng thì có ông W. W Rockhill, người Mỹ và ông R. P. Hue, người Pháp, đến tận thành Lhassa vào năm 1844, ở được lâu và có viết ra quyển sách nhan đề: Souvenirs d'un voyage dans la Tartarie, le Thibet et là Chine (Hồi ký về cuộc du hành đến Tartarie, Tây Tạng và Trung Hoa). Kế vào năm 1917, có bà Alexandra David Néel, người Pháp, vào được xứ Tây Tạng bèn giả ra hành khất trong nước mà sang đến Lhassa, có đem theo một nhà sư Tây Tạng làm con nuôi. Trong hai tháng bà ở Lhassa, không ai biết rõ mà truy tầm, nên bà khảo cứu được nhiều điều hay, sau về nước có viết ra quyển sách Moderiesme Bouddhiste (Phật giáo hiện đại) và nhiều quyển khác có giá trị cũng đều khảo cứu về Phật giáo Tây Tạng. Tuy xứ Tây Tạng có đôi khi được người khảo luận về Tôn giáo, phong tục, chánh trị, nhưng thực ra hiện xứ Tây Tạng thì không mấy người hiểu rõ ràng. Sự thật là, xứ Tây Tạng không mở cửa cho người ngoại quốc vào, người Tây Tạng cùng không ra ngoậi quốc du học, mà giao thông, quyền chính trong xứ lại thuộc về các tu sĩ, mà ở các nước khác bị cho là lạc hậu. Như vậy mà gần đây xứ Tây Tạng được tiến bộ một cách lạ thường làm cho những người hay quan tâm về chính trị và kinh tế không thể làm ngơ đi được! Trong mấy tỉnh thành có sở điện tín, tại kinh đô bây giờ cũng có dùng điện thoại và tiền giấy cũng được dùng để mua bán trong nhân dân. Ngày nay xứ Tây Tạng được cải cách, được duy tân, thì theo lẽ sẽ chấp nhận người ngoại quốc vào thăm. Nhưng không, Tây Tạng tiến bộ chừng nào thì lại dường như thêm gắt gao chừng ấy! Ngoài biên thùy có cả đường dây điện tín chạy đến kinh đô, nếu có người Châu Âu gần đến thì cả nước được hay biết liền! Như thế thì qua xứ Tây Tạng, đến thành Lhasa, chẳng phải là một câu chuyện dễ thường nghe thấy. Một người nước Anh là W. Montgomery Mc. Govern có ý muốn viếng xứ Tây Tạng, vì ông là một nhà cách vật học (Antropologiste), có đọc sách về Tây Tạng mà sanh mối quan tâm đối với dân tình, tập tục, Tôn giáo, văn chương và lời ăn tiếng nói của người Tây Tạng. Hơn nữa, ông còn có dịp khảo cứu về những vấn để cải cách và duy tân ở Đông phương, càng được biết thì càng mong mỏi được viếng qua xứ Tây Tạng. Trước ông có khảo cứu được rõ rệt về lời nói, cùng là cách ăn ở sinh hoạt của người Tây Tạng, có hy vọng rằng một ngày nọ mình đến nơi thì sẽ được lợi ích vô cùng. Ông cũng được may mà đem những điều khảo cứu ấy ra thực hành, và khi sang Tây Tạng thì gặp những mùa đông, tuyết xuống bít cả những triền núi, những đường đi, cho đến nỗi ngay người trong xứ cũng không thể dời chân được. Khi qua đến Tây Tạng, ông bèn đổi dạng, giả làm một lao công rất hèn, mặt mày lưng ngực đều thoa một loại hóa chất (teinture diode) để hóa trang. Lại không dám ăn ngon, không dám mặc đẹp, không dám ngủ yên..., còn người giúp việc đi theo lại đổi ra làm bậc phú thương cưỡi Ngựa tốt, mặc đồ sang trọng. Khi đi gần đến kinh đô, chính quyền hay được liền sai quan quân đi kiếm trong mỗi làng. Mấy người giúp việc và ông đều bị xét nhiều lần, nhưng không một ai nhìn ra được. Sau rốt, ông đến Lhassa. Bây giờ người Tây Tạng mới hay ra ông là người ngoại quốc, thì những nhà sư hăm dọa quyết không tha. Nhưng nhờ chính quyền muốn che chở, bèn bắt ông giam tạm cho đến khi sự việc êm dịu đi. Ông ở Lhassa được sáu tuần lễ, kế được phép trở về Ấn Độ (hồi đó còn thuộc Anh) với một đội binh là vì sợ ông đi một mình e tánh mạng không toàn. Bây giờ ông ra khỏi thành Lhassa, nhưng đã được thỏa chí nguyện, được đọc nhiều kinh sách có giá trị, được hầu chuyện với những hạng thượng lưu và nhất là được biết qua cuộc sống, sinh hoạt của dân tộc Tây Tạng. Cảm Tưởng Của Dịch GiảXứ Tây Tạng là một xứ đặc biệt trong hoàn cầu, xứ này rất đố kỵ người ngoại quốc mà rất mến mộ những người tu hành theo đạo Phật. Trong xứ có nhiều vị sư đắc đạo hiện tiền, chứng được ngũ thông hoặc lục thông. Chuyện ông Montgomery Mc. Govern giả làm người lao công, mà lén vào cho đến kinh thành Lhassa, thì cũng có một số ít nhà Đại đức hay biết chớ chẳng không. Nếu mấy Ngài ấy muốn cản trở thì chẳng khó chút nào. Song ta thấy ông Montgomery Mc. Govern thành tựu là vì ông có lòng thành kính, ông có lòng chân thật của Phật giáo, nên ơn trên hỗ trợ cho ông được bình an mà đi đường, chư Tăng Đại đức để cho ông đi thong thả mà đi bằng cách khổ hạnh. Người hữu tâm, sau khi đọc qua quyển sách này sẽ thấy những bằng cớ chứng tỏ rằng ông đã thành tựu trong sự đi đường. Ông vốn là một thiện tín trong đạo Phật rồi, vì ông có thọ lễ Tam quy, một Giáo hội bên Nhật Bản có thâu nhận truyền giới và phát áo cà sa cho ông. Rồi lại đi đến danh lam cổ tự, gặp những nơi linh thiêng, những cuộc nguy nan, ông thường van vái với Phật, thường cầu xin chư Phật và Bồ tát hộ trì cho ông được bình yên mà lên đường. Giữa cảnh ấy, chư Phật, chư Bồ tát và chư Thánh hiện tiền hẳn chứng minh lòng thành của ông mà bảo hộ cho ông vậy. Trước khi đi, từ bên Anh quốc, ông đã học tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn rồi, nhất là ông đã từng xem kinh bằng tiếng Phạn. Đạo Phật là đạo hỷ xã. Ta cũng nên tập tánh từ bi, hỷ xã, cho đến ngay trong cuộc luận xét của ta. Biết đâu có những người bên Châu Âu cũng có tâm địa Bồ tát, mến đạo Phật ở phương Đông, như ông Montgomery Mc. Govern này là một. Lại có một bằng cớ này nữa chứng tỏ rằng chư vị tu hành Đại đức có lòng ủng hộ ông. Trong khi ông ở tại Lhassa, có một vị Trưởng lão, là một Đại sư giữ đến chức Geshé, chính là một vị Bồ tát thường đến viếng ông. Trưởng lão có đem tặng cho ông những kinh điển cổ xưa rất quý giá, chẳng có bán ở các hàng sách. Nhờ vậy mà về sau, khi trở về nước Anh, ông có xuất bản nhiều quyển sách rất có giá trị về Phật giáo với các sự huyền vi, bí ẩn trong đạo Phật. Ngài Trưởng lão biết rằng đem cho ông kinh quý tức là truyền bá đạo Phật ra xa, vì sự truyền bá đạo Phật là mục đích của các nhà tu hành Đại thừa. Đôi dòng suy nghĩ của dịch giả khi bắt tay vào dịch cuốn sách này, xin cống hiến cùng bạn đọc. Đoàn Trung Còn Chương 1: Khởi Sự Lần Đầu TiênTôi có ý muốn đến kinh đô xứ Tây Tạng để khảo cứu về khoa học, với năm người bạn Châu Âu. Nhưng vừa khỏi biên giới thì đã có lịnh nhà chức trách trong xứ bắt lại mà trục xuất về. Năm 1921, ông bạn Georges Knight đem cuộc khảo cứu về xứ Tây Tạng bàn với tôi, ý muốn biết rõ đất nước và dân tình. Ông sắp đặt trở ngại mấy lần, sau có gặp một nhà đại du lịch là ông William Dederich tiếp vào. Ông này hồi năm 1914 có đi tận Nam Cực, có đủ hiểu biết cần thiết để liệu định và sắp xếp cho một cuộc hành trình quy mô thiên về mục đích khoa học. Chính nhờ ông này, nên ông bạn Georges Knight của tôi mới có đủ nhận thức về cuộc du lịch này. Trước hết, tham gia chuyến đi gồm bốn người: một người chuyên về nhân vật học (Zoologie) là ông Knight, một người chuyên về địa hình, đất đai là ông Frédéric Fletcher, người thứ ba khảo sát về chánh trị và Tôn giáo là quan ba Ellam, người thứ tư là ông William Harcourt thì lo việc chụp các bức hình, vì theo một cuộc du lịch thời nay mà không có hình ảnh thì còn là thú vị nữa. Cho đến khi sắp đặt xong, gần ra đi họ mới cho tôi hay. Họ mời tôi cùng đi, lại cử tôi làm người hướng dẫn, cố vấn cho chuyến đi, vì thấy tôi biết rõ về phương Đông và tiếng nói cũng như phong tục Ấn Độ. Cơ quan India Office tại thành Loudres điều đình với chính phủ Ấn Độ khá lâu, sau mới giao cho chúng tôi đủ giấy tờ để tới thành Gyantse. Khi đến đó chúng tôi còn phải xin phép chánh quyền xứ Tây Tạng để vào thẳng kinh đô Lhassa, nhưng họ quyết định không cho chúng tôi thêm một sự khuyến khích nào khác ngoài cái giấy phép trước đó. Thành Darjeeling ở biên giới xứ Tây Tạng, phía trên Ấn Độ là chỗ giao thông của các sắc dân và nhiều hạng người, phần đông là người gốc ở xứ Sikkim. Người xứ Sikkim cũng là người gốc Tây Tạng, nhưng đã rời bỏ xứ mà kéo xuống phía Nam vùng Hy Mã Lạp Sơn. Họ giống người Tây Tạng, nói cùng một thứ tiếng, có chung một Tôn giáo. Trong thành, có ba ngôi chùa Phật. Mấy năm sau này, nhiều người Ấn Độ theo đạo Hồi đến đây sinh sống, nên cùng nhau lập ra các nhà thờ đạo Hồi. Khi chúng tôi đến thành Darjeeling, tôi thường lui tới với người Sikkim và người Tây Tạng. Ở đây, người Tây Tạng là mấy nhà sư Lạt Ma đến Ấn Độ để viếng các chùa Phật có danh, những cảnh tháp có thờ dấu tích của Phật. Tôi nhờ nói chuyện với những vị này mà được biết rành tiếng Tây Tạng và hiểu rõ thêm về nhân vật trong kinh thành nghiêm khắc kia. Một nhà sư thường đến chơi với tôi, ông lúc trước có ở thành Shigatsé và kinh đô Lhassa. Thấy ông biết rõ đường xá, tôi bàn tính việc nhờ ông đi theo chúng tôi. Bên Tây Tạng, như ở nhiều xứ bên phương Đông người ta không gọi tên người có tuổi tác và chức phận, chúng tôi phải gọi nhà sư này la Umdzé-la. Nhưng vì khó gọi, nên trong bọn đều đặt ông là Tô-bi, rồi cứ vậy mà gọi luôn mãi. Lại có một người trợ lực rất thích hợp nữa là La-đen-la, người có tên tuổi trong thành Darjeeling. Ông này lúc nhỏ có đi lính, làm chức đội trưởng, kế sau làm quan võ đến chức đứng đầu sở Thần phòng. Thật là một người sáng trí và Lanh lẹ bặt thiệp, người giúp chúng tôi rất có hiệu quả. Ông này đã viết giấy giới thiệu chúng tôi cho nhiều nhà tai mắt ở Tây Tạng, nên ai cũng hết lòng chỉ dẫn. Bây giờ mới tính đến việc chuyên chở. Qua truông đi xe không được, lại người Tây Tạng không dùng xe, chúng tôi mới mua Ngựa để cưỡi, mua La để chở đồ ăn dùng. Tôi phải đi trước vài ngày, tới xứ Sikkim để ra mắt vị vương tử ngự tại thành Gantok, kế đó tôi trở lại cùng với mấy người bạn vừa mới đến thành Yatung là một thành ở xứ Tây Tạng gần biên thùy. Chúng tôi đi vào buổi sáng ngày 9-9-1921, khoảng chín giờ. Chiều đến một làng nhỏ, dừng lại nghỉ một đêm. Sáng ra đi, mấy giờ đồng hồ sau, người Ngựa đều đến tại ven sông Tista. Chỗ ấy có một cái cầu, mới nhìn như chắc chắn, mà xem rõ thì yếu lắm, nên ai nấy đều phải bỏ đồ đạc xuống mà đem lần qua từng món. Sư Tô-bi vừa dạy cho chúng tôi biết được hai bài học về phong tục xứ Tây Tạng. Tôi sắp cưỡi Ngựa qua cầu, song ông cản lại, buộc tôi phải xuống Ngựa mà qua cầu vì phải kính mấy vị thần sông. Ông đi tới giữa cầu, rút ra ba tấm giấy có viết kinh cầu nguyện, rồi dán theo những miếng trước, kế lấy trong túi ra hai đồng xu mà bỏ xuống sông, gọi là nạp lễ vật cho thần khi qua sông. Hôm ấy, đến thành Kalimpong tục gọi là hải cảng hay cửa khẩu của xứ Tây Tạng. Chính phủ tuy không cho người ngoại quốc, nhất là người phương Tây vào xứ, nhưng người Tây Tạng được tự do đi ra ngoài, và chợ Kalimpong là một điểm hẹn rất tấp nập của các khách buôn Ấn Độ, Tây Tạng và Mông Cổ. Tới Kalimpong, chúng tôi mới theo sông Tista mà đến thành Gantok, kinh đô xứ Sikkim. Xứ này là một nước nhỏ độc lập, có một viên quan võ lãnh sự người Anh, lo về chánh trị, là người rất có quyền thế. Xứ Sikkim có luật pháp, hành chánh và tư pháp, có tòa nội các, có đủ binh lính. Không một người Âu châu nào qua khỏi biên giới mà không có giấy thông hành của quan bản xứ chứng nhận. Thỉnh thoảng chúng tôi ngừng nghỉ tại mấy làng nho nhỏ và ngộ nghĩnh. nhưng chúng tôi ít ghé lại lắm, vì dài theo đường có rất nhiều vắt, chúng nó có tài đánh hơi người ta mà bò lại rất nhanh. Tôi bị vài con đeo dính vào da và hút máu. Tôi muốn gỡ ra, song anh chàng Lhaten cản lại, vì hễ gỡ ra thì chỗ bị hút sẽ lở loét rất đau. Anh chàng có làm sẵn một cái bao nhỏ đựng đầy muối, chàng nhúng nước và nhỏ nước muối lên mình con vắt. Đến giọt thứ ba thì con vắt thun mình lại và rớt xuống đất, không để lại dấu vết gì trên da thịt cả. Đường tốt, hôm sau là đến thành Gantok, kinh đô xứ Sikkim. Nhà vua ở đây được tin là người Âu châu vào thành, bèn cho một viên quan đến chúc mừng tôi và cho hay rằng nhà vua sẵn lòng tiếp tôi ngày sau đó, khoảng mười giờ. Chiều lại, có năm người trong đền mang cho chúng tôi những đồ ăn ngon lành. Chúng tôi rất lấy làm hài lòng. Sáng lại, đến giờ đã hẹn, tôi vào đền vua. Đền này là hai tòa nhà lớn, một cái theo kiểu Tây Tạng, và một cái theo kiểu Âu Tây. Vua thường ngự tại tòa nhà kiểu Tây hơn. Hoàng thượng tiếp tôi rất vui. Ngài còn niên thiếu chừng 25 tuổi, có vẻ hơi bỡ ngỡ và không được tráng kiện, lại như khá hững hờ về việc quốc gia. Hoàng hậu là người Tây Tạng ở thành Lhassa, người cao lớn và oai nghiêm. Dường như chính bà mới là người điều đình và chấp chưởng công việc. Vua nói tiếng Anh khá lắm, nhưng vì kiêng nể Hoàng hậu nên dùng tiếng Tây Tạng để nói chuyện với tôi. Ngài muốn cầm tôi ở lại chơi lâu hơn tại kinh thành Gantok, nhưng biết là ngày kế tôi phải đi, nên Ngài cho theo một số lao công và mấy con La tốt để thay thế những con La của tôi, giúp tôi đến thành Yatung. Tôi vui lòng nhận lãnh sự giúp đỡ người và vật này. Đến sáng hôm sau thì lên đường. Đi qua truông, lên dốc mãi, đường núi có chỗ chừng bốn tấc bề ngang, sẩy chân là lọt xuống hố sâu sáu bảy trăm mét. Tôi thật không được yên lòng, vì con La của tôi cứ theo mé đường mòn mà đi. Trọn ba ngày mới đên truông Na-tu, còn cách Tây Tạng không bao xa. Chỗ này cao lắm, ước chừng đến 5.000 mét so với mực nước biển, đến nỗi phải xuống Ngựa mà trèo lên bằng chân, ai nấy đều mệt và chóng mặt, tựa hồ như đi biển say sóng. Qua đông, tuyết rơi xuống cao chất chồng thành những trụ cao đến mười mét, giông gió cứ tạt ngã mà tuyến cứ đóng lại hoài. Chúng tôi lên tới đỉnh núi mới yên lòng và thỏa dạ, chẳng bõ công lao. Chúng tôi lấy làm thích mà thấy lố dạng xứ Tây Tạng ở phia trước. Rồi đến khi đi xuống, cũng nhọc như lúc mới trèo lên, vì đường mòn quanh quanh lộn lộn, mấy con La đi đứng không vững vàng. Sau rốt đến đồng bằng, tôi vào viếng mấy làng gần và xem xét tình hình dân cư. Tôi lấy làm vui sướng lắm, ở đây đã miền trung châu Chumbi. Xứ này tuy thuộc về Tây Tạng, mà ở riêng một mình nên coi khắc hẳn với Tây Tạng. Ấy là một chỗ phì nhiêu, vây ranh có cây cối bao bọc, cảnh vật xem khác hơn Tây Tạng rất nhiều. Bên Tây Tạng, phong thổ khắc nghiệt lắm, chỉ trồng được lúa mạch mà thôi. Còn Sikkim thì trồng lúa gạo, vùng Chumbi có lúa mì rất nhiều, nên được gọi là xứ sở lúa mì. Hôm ấy, vào khoảng xế chiều, chúng tôi vào thành Yatung. Tôi thấy một lá cờ hiệu nước Anh phất phới trên một tòa nhà. Tôi bèn lần tới, vào gặp quan lãnh sự Mac Donal. Ông tiếp rước tôi sốt sắng lắm, cố giữ tôi ở đó luôn để chờ mấy người anh em bên Darjeeling qua. Hai hôm sau, những người kia qua tới, chúng tôi cùng nhau sắp đặt qua ngày hôm sau là đi luôn. Vừa lúc đó lại có quan lãnh sự nước Anh tại thành Gantok đến viếng chúng tôi. Ông khuyên chúng tôi cần phải hết sức dè dặt trong lúc đi đường. Ông nhắc lại rằng ông có đặc quyền cấp giấy phép thông hành cho một vài người Âu Tây để đến thành Gyangtsé, nhưng ông muốn mọi người phải hứa rằng nếu chánh phủ Tây Tạng không cho đi vào trong xứ nữa thì phải trở lại Ấn Độ liền. Tôi buồn lắm, vì trong ý định đến tại kinh đô Tây Tạng. Nếu chánh phủ Tây Tạng không cho phép thì tôi sẽ giả làm người Tây Tạng mà đến kinh thành cho được mới nghe. Ông lại còn buộc chúng tôi cam đoan rằng nếu Hoàng đế Tây Tạng không bằng lòng cho chúng tôi đem máy chụp hình và hình ảnh về thì chúng tôi phải để lại. Chúng tôi tức lắm,vì quyết đến kinh đô mà đem hình ảnh về. Ông ta bắt chúng tôi ký tên trong mấy tờ cam đoan. Trước khi ra khỏi thành Yatung, chúng tôi nghĩ là cũng nên đến viếng vị quan sáu người Tây Tạng thay mặt cho chánh phủ Tây Tạng. Ông này là một lão già xảo quyệt, tiếp rước chúng tôi một cách êm ái lắm. Ông lại còn nói bợ rằng có chúng tôi đến họa may mấy cánh đồng sẽ được trổ hoa sen để mừng khách quý. Ông lại dọn bữa tiệc đãi chúng tôi nữa. Nhưng về sau chúng tôi được biết rằng ông ta đã gởi mật sớ về Đạt Lai Lạt Ma để báo cho biết công việc của chúng tôi và tâu rằng nên giữ gìn đừng cho chúng tôi đi vào trong nước. Ra khỏi thành Yatung, lần theo đường mòn trên một cái hố, và đi tới một ngôi chùa có danh tại Chumbi. Trong chùa có sư trưởng là người giỏi kinh kệ và có tài đoán tiên tri. Tuy ông Thầy đoán có tiếng tăm, nhưng trong nước Tây Tạng còn nhiều Thầy có danh hơn nữa. Hồi trước ở kinh thành Lhassa, có một nhà sư hiểu biết việc lành dữ, tốt xấu, việc đã qua và việc sắp tới, nhân dân lấy làm kính phục. Nhưng ông ta đoán sai hết một lần. Trước khi xảy ra trận chiến tranh giữa Ấn Độ với Tây Tạng, ông ta đoán trước rằng Tây Tạng sẽ thắng và đuổi quân Ấn Độ ra ngoài biên giới. Hóa ra quân Tây Tạng thua, Đạt Lai Lạt Ma phải chạy trốn. Người ta bèn ra lịnh xử trảm ông vì là hạng dối đời. Tôi nhìn kỹ nhà sư tiên tri tại chùa xứ Chumbi, thấy phương pháp của ông trong việc đoán số cũng tương tự như những nhà chuyên thần linh học bên phương Tây. Ông làm cho người của ông ở trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, miệng ông vẫn nói luôn, mặc dù ý tứ rời rạc, nhưng có nhiều chỗ ông đoán cũng trúng. Ví dụ như, ông đã đoán trúng năm và tháng mà cuộc đại chiến thế giới 1914-1918 sẽ chấm dứt. Hôm sau chúng tôi ra đi, bỏ miền trung châu với những vực thẳm mà lên đến vùng gò cao. Chung quanh vùng cao nguyên này toàn là đồi núi, trông ra bát ngát mênh mông, không cỏ cây. Xa xa có vài trái núi nho nhỏ. Tuy vậy chứ ở đây núi đã cao lắm rồi, có đến sáu, bảy ngàn mét cao hơn mực nước biển. Đi ròng rã mấy giờ đồng hồ mới thấy dạng thành Pari. Ở thành này, có điều đáng chú ý là một hòn đảo trên đó người ta khấn vái. Hòn đảo ở giữa một cái hồ nước đặc. Phía sau là đền Pari bảo vệ thành phố với những xứ xung quanh. Chúng tôi có đủ giấy thông hành để đến thành Gyangtsé. Mấy ông quan không thể nào trục xuất, bề trong tuy họ không thích, chứ bề ngoài họ cũng làm mặt tử tế, có đãi chúng tôi một bữa tiệc trọn bốn giờ đồng hồ. Đồ ăn nấu nướng theo kiểu Trung Hoa cũng như các xứ miền Viễn Đông. Ăn xong, chúng tôi lên một điểm cao mà ngắm cả thành phố, vốn có cái danh là dơ bẩn nhất hoàn cầu. Dân cư ở đây làm biếng đến nỗi họ thải đồ dơ bẩn ngay trước cửa nhà. Lâu dần, trong ít năm thì những đống đồ phế thải ấy cao hơn nhà của họ, bấy giờ thì họ đục lỗ ngang đó mà chui qua (*). Thị tứ xa xa trông cũng thanh lịch, vì ở trên mỗi nóc nhà đều có treo một vài cây phướn cầu nguyện. Ngoài thành có nhiều đồng ruộng trồng lúa mạch, nhưng xứ này cao đến năm ngàn mét khỏi mặt biển, có gió lạnh bên núi Hy Mã lạp Sơn thổi qua luôn nên lúa không chín. Người ta cắt về nuôi thú vật, vì ở đây thú vật là một nguồn lợi lớn. Ngoài ra lúa mạch, người ta không trồng được thứ chi cả. Dân chúng sống nhờ nuôi súc vật hoặc làm phu cho những đoàn khách buôn chuyến đi lại thành Lhassa và thành Kalimpong. Hôm sau đó chúng tôi có viếng núi Chumolhari, phong cảnh xem đẹp lắm. Núi này cao hơn mặt biển đến tám ngàn mét và rất khó mà theo triền núi để đi lên. Người Tây Tạng nói với nhau rằng, thường có thần nữ ngự nơi núi luôn, ấy là thần tuyết, và theo triền núi có nhiều vị tiên và thần. Chúng tôi đi qua một cái đồng rộng, trừ ra một vài dãy núi, còn thì trống trải mênh mông. Ở Tây Tạng không có nhiều đường sá. Các quan chức chỉ lo lấy tiền nhà nước do dân đóng thuế mà tiêu xài riêng, thành ra trong xứ không đủ tiền để lo việc ích chung. Nhưng nhờ có những đoàn lữ hành đi từ thành này qua thành kia, đi lâu năm mà làm thành đường mòn. Đến mấy chỗ cát thì dấu đường lạc mất, còn đến những chỗ lầy thì Ngựa, la đều lún xuống dưới đất sết và đi không muốn nổi. Điều kỳ lạ là ở Tây Tạng không bao giờ người ta dùng xe có bánh. Ở kinh đô Lhassa, mỗi năm đến lễ thì đưa xe một lần để chở Xá Lợi, nhưng là xe đẩy bằng tay. Chúng tôi đi chậm, vì muốn tìm hiểu cho rõ nhân vật trong xứ. Mấy ngày sau, sư Tô-bi lại cảm nặng. Chúng tôi sợ ông ấy đau phổi, vì ở Tây Tạng về miền núi non lạnh lẽo, khí trời nhẹ người ta rất hay mắc bệnh phổi. Ngày kế ông đau nặng hơn, rủi ro là thuốc đem theo có vài món không đủ dùng. Mấy người kia đành phải đi trước. La-ten và tôi ở lại. Qua bữa ăn sau, Tô-bi đang nằm mơ, tôi bèn lấy ra một quyển kinh bằng chữ Tây Tạng ra đọc vào đoạn. Lạ thật, trong giây lát ông đã tỉnh dậy. Và từ đó bịnh giảm rất nhanh, nhiều người bản xứ nói rằng nhờ đọc kinh mà tôi trị bịnh được cho Tô-bi. Về sau, việc đọc kinh lại còn giúp tôi được nhiều chuyện lắm. Dọc theo đường thỉnh thoảng có những điện thờ với tượng Phật. Trong một cảnh điện thờ, trước tượng Phật không hoa quả, nhang đèn có nhiều cục đá chất chồng, vì trong xứ chẳng có hoa quả, người Tây Tạng thường kiếm đá để trước tượng Phật, Thần đặng tỏ lòng thành tín của mình. Hai ngày sau mới tới chỗ đã dịnh là thành Gyangtsé. Thành này lớn lắm, ở về phía bên kia núi, giữa một cánh đồng, mường tượng như những dồn lũy cổ phòng giặc bên Âu Tây. Xa xa, có thành quan lãnh sự nước Anh với một toán quân để bảo vệ, vì người bản xứ Tây Tạng hay oán ghét người phương Tây lắm. Đến đây, muốn đi đâu thêm nữa chúng tôi phải xin phép chánh phủ Tây Tạng, ngoài ra chỗ này thì người ngoại quốc không được vào trong nước. Vì muốn đến kinh đô Lhassa nên chúng tôi thương lượng cùng mấy ông quan ở trong thành Gyangtsé. Viên quan tổng đốc thay mặt cho chánh phủ Tây Tạng, vừa giống người Trung Hoa, vừa giống người Tây Tạng. Ông giống người Trung Hoa vì biết nói tiếng Trung Hoa và tiếp chúng tôi rất có lễ nghi. Nghe biết ý chúng tôi, bèn nói rằng ông ta không có quyền cho phép, mà cũng không có quyền cấm, nhưng sẵn lòng nhận gởi dùm tờ trình của chúng tôi về kinh đô Lhassa. Chờ trả lời, anh em ở lại trong thành hai tháng. Khảo sát rõ được thị tứ và nhân tình, biết đủ mấy nhà quan có thế lực trong thành. Chúng tôi từng đi lại chợ và đi dạo các nẻo đường, từng viếng ngôi chùa với cả ngàn Tăng sĩ. Với số một ngàn Tăng sĩ, không phải là một nhà chùa lớn ở Tây Tạng, song là một cảnh chùa xưa trong nước và là một ngôi pháp bảo có tiếng tăm. Chư Tăng phân nhau ở trong hai chục dãy nhà, và tòa nhà lớn hơn hết trong chùa là giảng đường, nơi ấy các Thầy tựu lại hành lễ và thuyết kinh. Hai bên chỗ cửa chính, có hình bốn vị Thiên vương xem ra rất ghê gớm. Người Tây Tạng cho rằng hình của bốn vị Thiên vương phải cho đáng sợ, như vậy những tà ma hung bạo khong dám vào. Trong chùa có thờ Phật, tượng chính là đức Thích Ca Như Lai, tượng lớn hơn hết, thờ như vậy cũng là một sự khác lạ ở Tây Tạng, vì trong cách chùa khác người ta thường thờ những vị Phật thiền, những vị hóa Phật. Ở chùa Gyangtsé lại có thờ đức Bồ tát Di Lặc. Tượng mặc đồ Âu Tây với nước da trắng, mắt xanh, ngự trên một cái ngôi, ngồi theo cách Châu Âu. Tượng đúc và chạm rất khéo. Sự việc này đặc biệt hơn các chùa khác, vì mọi nơi đều thờ chư Phật và Bồ tát ngồi theo kiểu kiết già mà thôi. Trên tầng thứ ba, có thờ hình tượng chư vị Tổ sư đã từng làm chủ cảnh chùa này. Phía trái giảng đường, có một cảnh đền mạ vàng, người Tây Tạng gọi là Chorten và dân chúng thường gọi là chùa vàng. Dân chúng khắp nơi trong xứ Tây Tạng đến đây làm lễ và cúng dường cảnh tháp này. Trong vài tấm vách tường có gắn những bánh xe cầu nguyện, mỗi người khi đi ngang qua đó phải quay mỗi bánh xe một lần, vì điều này làm cho họ tiêu trừ các tội lỗi. Đứng trên chùa vàng ngó xuống, thấy lều ở của các vị tu sĩ và kho chứa đồ ăn của nhà chùa để dành trong lúc mùa đông. Tôi hân hạnh viếng vị trụ trì, Đại sư Lạt Ma Trodampa. Tôi mặc áo cà sa của một vị sư trưởng tại chùa kinh đô Tokyo bên Nhật Bản tặng tôi năm xưa, hồi tôi thọ lễ quy y Tam bảo. Ông chủ chùa tiếp đãi tôi trọng hậu lắm. Ông nói, nếu muốn hiểu rõ Phật giáo cần phải biết chữ Phạn (Sanskrit), là vì kinh Phật phần nhiều đều viếng bằng thứ chữ Phạn. Chính ông chưa biết chữ ấy. Tôi lấy trong túi ra một quyển kinh bằng chữ Phạn, ông thích lắm, khen rằng ông có thể coi và hiểu được. Từ đấy thích nhau, ông vui lòng cho tôi tự do vào xem kho kinh sách trong chùa, có cả ngàn quyển bản thảo bỏ quên đã mấy trăm năm mà không ai đọc được. Tôi bảo người ta đem về chỗ ngụ của tôi một ít những kinh sách này. Sau khi xem qua, tôi thâu thập được nhiều tài liệu quý giá và quan trọng vô cùng. Kế đó, những hy vọng đi đến Lhassa đành phải tiêu tan. Một hôm, quan thay mặt chánh phủ Tây Tạng đến cho hay rằng chẳng những chánh phủ không nhận lời xin của chúng tôi, lại còn ra lịnh không cho chúng tôi ở lâu tại thành Gyangtsé. Tôi nghe lấy làm đau đớn. Nhưng cũng tính xin một lần nữa họa may có được như nguyện chăng. Ba người anh em là Knight, Fletcher và Harcourt đều tức tốc trở về Ấn Độ, vì chúng tôi cho rằng bởi thấy đông nên chánh phủ không vào Kinh. Còn một người bạn là Ellam ở lại với tôi tại Gyangtsé. Tôi gởi đi một tờ trình để xin vào viếng kinh đô, nếu người ta không cho thì tôi sẽ xin qua thành Shigatsé. Và nếu người ta không đồng ý nữa thì tôi xin ở nán lại Gyangtsé mà khảo cứu cho xong việc. Hai tháng sau, chánh phủ trả lời nhất định trục xuất và cấm ngặt không cho chúng tôi ở nữa. Họ ngăn cản dữ dội quá làm cho tôi bực tức, quyết giả dạng đặng vào kinh thành Lhassa cho được mới nghe. Tôi có quen với nhiều người Tây Tạng, họ quyết trợ tiếp cho tôi để đi đến cùng. Nhưng trót đã hứa với viên quan lãnh sự người Anh: nếu không thành việc tôi phải trở về thành Darjeeling liền. Hai tôi đành thối lại, đi theo đường về Ấn Độ. Thật may cho chúng tôi, vừa đến nơi thì xảy ra những cơn giông gió rất dữ dội làm cho các cuộc thông thương đều phải ngưng. Ngày 9 tháng 12 năm 1921, tôi về đến thành Darjeeling, địa phận Ấn Độ. Tôi đã giải tỏa được lời hứa cùng quan chức người Anh, liền bắt đầu nghĩ cách vào kinh đô linh thiêng. Tôi định giả dạng không cho ai hay biết. Ghi chú: (*) Vì là xứ rất lạnh quanh năm nên rác thải không sình lên mùi hôi thúi. Chương 2: Lại Một Lần Nữa...Sikkim - Cuộc hành trình gian khổ Mình đã trót hứa, nên phải giữ lời. Dù có luyến tiếc gì cũng đành phải trở qua Ấn Độ. Mỗi ngày tôi khảo sát thêm về cuộc hành trình lần sau nữa, cũng như tôi đã dò xét và học hỏi trong khi ở lại Gyangtsé. Từ đường Yatung đến Gyangtsé, thiên hạ đều quen biết tôi, bây giờ phải kiếm những nẻo đường qua những truông khác để vào xứ Tây Tạng mới được. Nhưng phải hết sức cẩn thận, vì sự đi lại của tôi làm cho quan chức trách Tây Tạng họ nghi ngại lắm. Muốn dọ xét cho thật kỹ thì phải mất thời giờ nhiều, vì muốn hỏi thăm xứ sở, trước phải nói một ít chuyện bông lông đã. Tôi đã biên đầy trong quyển sổ tay nào là thành thị, đường sá, nào là đường núi, đường sông... mà cũng còn chưa lấy làm rõ rệt bao nhiêu. Tôi định giả làm một người Tây Tạng, nếu làm không kỹ thì rất dễ nguy. Tuy tôi cũng biết rõ tiếng Tây Tạng từ năm sáu tháng nay, nhưng chưa thật là một người Tây Tạng hoàn toàn. Vả lại, ngoài ra viên thư ký với mấy ông quan cùng mấy Thầy tu, mấy nhà trí thức, thì tôi chưa nói chuyện với đủ hạng người, vì ngôn ngữ tôi dùng là thứ ngôn ngữ thanh tao, văn nhã của hạng trí thức, không phải là thứ ngôn ngữ phổ thông của người dân lao động. Muốn cho khỏi ai nghi ngờ, tôi bèn giả làm một người giúp việc. Anh em quen biết lấy làm xấu hổ và chê cười tôi vì tôi thường đi lại trong mấy nhà bếp trà trộn với những kẻ tôi tớ mà nghe họ nói chuyện và ghi lại những cách nói, những tiếng thông dụng của họ nói với chủ. Tôi lại còn học cả cách đứng ngồi, cách khạc nhổ, những lời nói cộc cằn, gây gổ... cho đến học cách ve vãn phụ nữ của họ nữa! Khi cùng nhau năm người họp lại tại thành Darjeeling bên Ấn Độ tôi đem ý định của tôi ra bàn thì bốn người kia kích bác lắm. Mãi sau họ mới chịu nhận là hữu lý. Ban đầu, các bạn cùng nhau bảo rằng tôi nên chọn một người trong bốn anh em mà cùng đi. Nhưng xét lại chỉ một mình tôi biết tiếng Tây Tạng, nên anh em giao cho tôi lãnh phần đi vào kinh đô xứ Phật, thành Lhassa. Anh em định cho tôi đi một mình nên tôi phải học biết cách chụp hình và rửa ảnh. Tôi sắp đặt các công việc và ở nán lại một tháng để mua thú vật và kiếm người làm tay chân. Tôi lén qua thành Kalimpong mua một con La và ba con Ngựa. Cũng tại Darjeeling, tôi thuê một người bản xứ để giả làm chủ đoàn khi vào nước Tây Tạng, bởi anh ta có vài chỗ nhu nhược nên tôi đặt tên là Sa-tăn, thêm nữa là anh chàng La-ten là người lanh lợi và thành thật đã có đi theo giúp tôi trong chuyến đến thành Gyangtsé. Thêm một người nữa để lo cho mấy con vật, được tôi gọi là Syce và một người thứ tư khờ khạo hơn, giúp làm những việc nặng nề, tôi gọi là Diogène. Mấy người này toàn là dân xứ Sikkim, tự do ra vào Tây Tạng, vì cũng là người Tây Tạng. Còn tôi cũng giả ra người Sikkim để nếu có nói sai tiếng Tây Tạng, người ta cũng sẽ bỏ qua, ngỡ rằng vì tôi ở cách xa nên nói không rõ rệt giọng nói ở kinh thành. Tôi lấy cớ khác để mướn kẻ tùy tùng, như vậy làm cho người ta không để lòng nghi, chớ nếu họ hiểu rõ ý định của mình thì bại lộ cả còn chi. Vả lại, tôi cũng biết rằng nếu tôi ra đi kín nhẹm thì không xong. Sự ra đi thình lình và bí mật làm cho người ta dễ sinh nghi ngờ mà mình phải mang hại. Tôi định đi lại trong lúc thanh thiên bạch nhật, nên tôi cho quan chức hay rằng tôi sẽ đến xứ Sikkim trong hai tháng, đi miệt núi non mà khảo cứu về đất đai. Làm như vậy cho mấy người của tôi họ an lòng và có đủ nghị lực khi đi đường. Bây giờ nói đến vấn đề ăn uống. Tôi phải bỏ tiền mua những đồ thường dùng, nhưng cần nhất là mua đủ đồ ăn và đồ dùng để giả hình. Tôi định hễ tới Tây Tạng thì tôi sẽ ăn uống như người trong xứ, cho nên đồ ăn đem theo chỉ vừa đủ dùng mà thôi. Tôi cũng có đem đường và bột, vì nhiều khi qua truông gặp bão phải ở lại không đi được, nên lo trước là hơn. Vấn đề quần áo thì tôi có mấy bộ đồ Lạt Ma và người chức tước. Nhưng đã giả làm kẻ tôi tớ thì còn mong gì mặc những đồ tốt đẹp sang cả đó nữa! Tôi kiếm đồ hèn, được một bộ đồ lao công và vài cái áo cũ mèm. Tôi lại dùng nước teinture diode mà sơn tóc, lại trộn thứ hóa chất này với nước xác cao và chanh mà sơn cặp mắt. Ai cũng tưởng chúng tôi đi viếng chùa thành Peymayangtsé là chùa to lớn hơn hết trong xứ, chớ có ngờ đâu chúng tôi định đi thẳng tới kinh đô Lhassa. Người Ngựa cùng ra đi, từ giả thành Darjeeling vào ngày 10 tháng giêng năm 1922. Tôi quyết đến hai thành lớn hơn hết ở Tây Tạng là Shigatsé và Lhassa, nên phải viếng thành Shigatsé trước. Vì khi đến kinh đô, tôi còn muốn cho người ta biết tên tuổi tôi, bây giờ không thể gì đi chỗ nào khác nữa được. Đi theo con đường lớn Pari-Gyangtsé thì bất tiện. Tôi bèn theo đường nhỏ và nguy hiểm hơn. Ít ai đi đường này. Hễ qua mùa đông thì đi không được, truông và đèo đều bị tuyết phủ kín hết. Mình chỉ cầu cho có đường mà đi là may lắm, không quản xấu tốt chi cả. Vả lại đi đường nguy hiểm thì khỏi gặp quân canh giữ ngăn cản lại. Vậy nên tôi chọn con đường đi ngang qua xứ Sikkim đến thành Kamba-Dzong, rồi sẽ đến Shigatsé và Lhassa. Ngày đầu đường dốc lắm, ngồi trên Ngựa không được, thêm nữa trời mưa mới vừa dứt cho nên đường lầy rất khó đi. Anh chàng La-ten khuân cái máy chụp ảnh, nặng quá nên vấp té rất đau. Tôi sợ cái máy hư, nhưng chỉ sửa lại một chút là tốt không sao cả. Xế chiều đến chân núi và tới cầu qua sông Ranjit, ở đây là biên giới của Sikkim và Ấn Độ (thuộc Anh). Đến giữa cầu có lính tuần xét giấy thông hành. Họ hỏi tôi có ký tên trong tờ cam kết người ta không cho phép tôi đi từ Sikkim vào xứ Népal, xứ Bhutan hay xứ Tây Tạng hay không? Tôi ra tuồng không hiểu câu nào. Ở những chỗ này, giả dại qua ải là kế rất hay! Họ thấy tôi không hiểu bèn bỏ qua. Tôi lấy làm vui mà được qua ải biên thùy. Thay vì ngừng nghỉ trong làng, cả nhóm đi luôn ra ngoài đồng vắng nhà cửa, rồi che trại mà nghỉ đêm. Nhiệt độ không ổn định. Sớm mai ra đi lạnh lắm, mặc năm ba lớp áo, đến chiều thì nóng nực cho đến muốn bỏ cả áo mà đi trần. Trưa nắng, người Ngựa đều mệt, bèn nghỉ tại làng Nam Chi. Tôi còn mặc đồ âu phục, dân chúng thấy vậy đến coi rất đông, lấy làm lạ lắm. Qua hôm sau, 12 tháng giêng, có lính hỏi giấy tới hai lần. Có lẽ người ta coi chừng tôi kỹ lắm. Giấy thông hành còn dùng được nên tôi đi đường không sao, nhưng là một triệu chứng không tốt. Tôi khởi sự chụp ảnh, càng đi thì cảnh càng đẹp. Cảnh nơi Kinchinjonga thật đẹp, lại cao lắm, ấy là núi đứng về hàng thứ ba trên hoàn cầu, đỉnh núi chín ngàn mét khỏi mặt biển. Đi đến Damlang, đường chia làm hai ngã. Một ngã đi đến chùa lớn Pemayangtsé, một ngã đi về hướng thành Gantok, kinh đô xứ Sikkim. Mấy người tôi thuê ngỡ rằng tôi đi viếng chùa, còn tôi thì phải tách qua tay mặt, theo đường đi Gantok. Nhưng tôi nói với họ rằng sau sẽ ghé lại chùa Pemayangtsé, bây giờ phải đi vài ngày đến những chỗ lạ đặng quan sát cho rõ thêm. Đi được một ngày đường, mấy con La mệt lắm, làm cách gì cũng không bước tới. Một người giúp việc, anh chàng Syce bèn cho mỗi con uống một tô nước trà. Tôi rất ngạc nhiên thấy mấy con La khỏe lại và đi như thường. |


