Home Kinh bộ bắc truyền Niết Bàn và Pháp Hoa Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375 - Kinh ại Bt Niết Bn Tập II p.22e
03 | 09 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375 - Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22e PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Niết Bàn và Pháp Hoa
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 22a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22e
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22f
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23e
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 25
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 26
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 27
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 28
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.29
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II H.Hướng
Tất cả các trang

Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II

XXII/ PHẨM QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI HAI (tiếp theo)

(Hán bộ quyển 25)

Thế nào là Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ bảy?

Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát này nghĩ rằng: Pháp gì có thể làm nhơn duyên gần với Đại Niết bàn? Bồ tát này liền biết có bốn điều: Làm nhơn duyên gần, nếu rời bốn pháp này thời không thể được Đại Niết bàn: Vì thế nếu nói rằng siêng tu tất cả khổ hạnh mà được Đại Niết bàn, thời không đúng.

Đây là bốn điều: Một là gần gũi bạn lành; hai là chuyên tâm nghe pháp; ba là nhiếp niệm tư duy; bốn là tu hành đúng pháp.

Như có người mang bịnh: Hoặc nóng, hoặc lạnh, hư lao, các tà quỉ độc, người bịnh này, tìm đến lương y, lương y liền theo bịnh cho thuốc. Người bịnh này hết lòng y theo lời chỉ dẫn của lương y, uống thuốc đúng cách, bịnh được lành, thân được an. Người bịnh dụ cho Bồ tát. Lương y dụ cho thiện tri thức. Phương thuốc của lương y nói dụ cho kinh Đại thừa. Y theo lời chỉ dẫn của lương y dụ cho khéo suy nghĩ nghĩa lý của kinh Đại thừa. Hiệp thuốc uống đúng cách dụ cho tu hành đúng pháp. Bịnh lành dụ cho dứt hết phiền não. Thân an dụ cho đặng Niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

Ví như có Quốc Vương muốn cai trị đúng pháp, làm cho nhơn dân được an vui, nhà Vua hỏi cách cai trị nơi các quan. Các quan bèn đem cách thức của Tiên Vương tâu với Quốc Vương. Quốc Vương liền chí tâm tin tưởng thực hành theo, đúng như pháp cai trị nước nhà, làm cho cả nước không giặc cướp, nhơn dân an vui. Quốc Vương dụ cho Bồ tát, các quan dụ cho bạn lành. Cách thức cai trị của các quan tâu dụ cho mười hai bộ kinh. Quốc Vương hết lòng tin tưởng thực hành dụ cho Bồ tát nhiếp tâm tư duy nghĩa lý của mười hai bộ kinh. Quốc Vương cai trị đúng pháp dụ cho Bồ tát tu hành đúng theo sáu môn Ba la mật. Cả nước không giặc cướp dụ cho Bồ tát đã lìa phiền não kiết sử. Nhơn dân được an vui dụ cho Bồ tát chứng được Đại Niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

Như có người bị bịnh phong hủi, có trí thức bảo rằng: Nếu ông đến được bên núi Tu di thời bịnh có thể lành. Vì nơi đó có vị thuốc hay như cam lộ, uống được thuốc đó thời bịnh gì cũng lành. Người bịnh tin theo lời đi đến bên núi hái lấy thuốc cam lồ mà uống, tật bịnh liền hết, thân được an vui. Người bịnh dụ cho phàm phu. Trí thức dụ cho Đại Bồ tát. Tin theo lời bảo dụ cho bốn tâm vô lượng. Núi Tu di dụ tám Thánh đạo. Vị thuốc cam lồ dụ cho Phật tánh. Bịnh hủi được lành dụ lìa phiền não. Đặng an vui dụ đặng Niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

Ví như có người nuôi những đệ tử thông minh trí huệ, ngày đêm người này luôn dạy dỗ chẳng biết mỏi. Bồ tát cũng như vậy, tất cả chúng sanh hoặc tin, hoặc chẳng tin, Bồ tát luôn giáo hóa không biết nhàm mỏi.

Này Thiện nam tử! Thiện tri thức là nói chư Phật Bồ tát và hàng Thanh văn, Bích Chi Phật, cùng những người tin kinh Đại thừa. Thế nào gọi là thiện tri thức? Hàng thiện tri thức có thể chỉ dạy cho chúng sanh xa lìa mười điều ác, tu hành mười điều lành, do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại hàng thiện tri thức lời nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói, chính là tự mình chẳng sát sanh cũng bảo người chẳng sát sanh, nhẫn đến tự mình có chánh kiến, cũng đem chánh kiến dạy cho người.

Nếu có thể được như đây thời gọi là chơn thiệt thiện tri thức. Tự mình tu tập Bồ đề cũng có thể dạy người tu hành Bồ đề. Tự mình tu hành chánh tín, trì giới, bố thí, đa văn, trí huệ, cũng có thể dạy người như vậy, do đây nên gọi là thiện tri thức.

Này Thiện nam tử! Hàng thiện tri thức có thiện pháp. Những gì là thiện

pháp? Những việc của mình thực hành chẳng mong cầu tự vui, mà thường vì chúng sanh cầu an vui, thấy người khác có lỗi không rao nói, miệng thường tuyên nói những việc thuần thiện, do đây nên gọi là thiện tri thức.

Này Thiện nam tử! Như mặt trăng từ đêm mùng một đến đêm rằm lần lần thêm lớn đầy đủ. Cũng vậy, thiện tri thức làm cho những người học đạo lần lần xa lìa pháp ác, thêm lớn pháp lành. Nếu người gần gũi thiện tri thức, từ trước chưa có giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến nay bèn có đó, người chưa đầy đủ thời được thêm rộng, do vì gần gũi thiện tri thức. Sự gần gũi này làm cho người lại được rõ thấu nghĩa sâu của mười hai bộ kinh. Nếu có thể chăm nghe nghĩa sâu của mười hai bộ kinh thời gọi là thính pháp. Nghe kinh Đại thừa thời gọi là chơn thật thính pháp. Chơn thật thính pháp chính là nghe kinh Đại Niết bàn, nghe có Phật tánh, Như Lai rốt ráo chẳng nhập Niết bàn, do đây nên gọi là chuyên tâm thính pháp. Chuyên tâm thính pháp gọi là tám Thánh đạo, do tám Thánh đạo có thể dứt tham dục, sân khuể, ngu si, nên gọi là thính pháp. Xét về người thính pháp gọi là mười một pháp không, do pháp không này đối với tất cả pháp chẳng thấy có tướng mạo. Xét về người thính pháp gọi là sơ phát tâm nhẫn đến rốt ráo tâm Vô thượng Bồ đề, nhơn nơi sơ tâm mà đặng Đại Niết bàn, chẳng phải do nghe pháp mà đặng Đại Niết bàn. Chính là do tu tập nên chứng Đại Niết bàn. Như người bịnh dầu nghe lời chỉ dẫn của lương y cùng tên của món thuốc nhưng chẳng thể lành bịnh, phải do uống thuốc bịnh mới được lành. Dầu nghe mười hai nhơn duyên nhưng chẳng thể dứt được tất cả phiền não, cần phải nhiếp niệm khéo tư duy mới dứt được phiền não. Đây gọi là pháp nhiếp niệm tư duy thứ ba. Lại do nghĩa gì gọi là nhiếp niệm tư duy? Đây là nói ba môn Tam muội: Không Tam muội, vô tướng Tam muội, vô tác Tam muội. Không là đối với hai mươi lăm cõi chẳng thấy một cõi nào là có thật. Vô tác là đối với hai mươi lăm cõi chẳng mong cầu. Vô tướng là không có mười tướng, chính là không có sắc tướng, thinh tướng, hương tướng, vị tướng, xúc tướng, sanh tướng, trụ tướng, diệt tướng, nam tướng, nữ tướng. Tu tập ba môn Tam muội như vậy thời gọi là Bồ tát nhiếp niệm tư duy.

Thế nào gọi là tu hành đúng pháp? Chính là tu hành Đàn Ba la mật nhẫn đến Bát nhã Ba la mật, biết tướng chơn thật của ấm nhập giới, cũng biết Thanh văn, Duyên giác chư Phật đồng một đạo mà nhập Niết bàn, chính là thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng sanh già, bịnh, chết, chẳng đói khát, khổ não, chẳng thối chuyển chẳng hư mất.

Này Thiện nam tử! Người hiểu nghĩa sâu của Đại Niết bàn, thời biết chư Phật trọn chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Bực thiện tri thức chơn thật thứ nhứt là Bồ tát và chư Phật, vì bực này thường dùng ba pháp khéo điều ngự: Một là lời nói hoàn toàn dịu hòa, hai là hoàn toàn quở trách, ba là dịu hòa cùng quở trách. Do đây nên Bồ tát và chư Phật là bực thiện tri thức chơn thật. Phật và Bồ tát là bực đại lương y nên gọi là thiện tri thức, vì biết bịnh, biết thuốc, cho thuốc đúng bịnh.

Ví như lương y thông thạo tám môn trị bịnh xem bịnh có ba tướng: Phong, nhiệt, hàn. Người bịnh phong cho uống thuốc dầu tô, người bịnh nhiệt cho uống thuốc thạch mật, người bịnh hàn cho uống nước gừng. Do biết gốc bịnh cho thuốc được lành nên gọi là lương y. Cũng vậy, Chư Phật và Bồ tát biết phàm phu có ba thứ bịnh: Tham dục, sân khuể, ngu si. Người tham dục dạy quán tướng xương trắng, người sân khuể dạy quán từ bi, người ngu si dạy quán mười hai nhơn duyên. Do đây nên chư Phật và Bồ tát gọi là thiện tri thức.

Như thuyền chủ vì giỏi đưa người nên gọi là đại thuyền chủ. Cũng vậy, Chư Phật và Bồ tát đưa chúng sanh khỏi biển sanh tử nên gọi là thiện tri thức.

Này Thiện nam tử! Do Phật và Bồ tát làm cho chúng sanh được tu hành đầy đủ những căn lành. Ví như núi Tuyết là nơi sản xuất những cội gốc thuốc hay vi diệu. Cũng vậy, chư Phật và Bồ tát là chỗ xuất sanh tất cả căn lành, do đây nên gọi là thiện tri thức.

Trong núi Tuyết có vị hương dược tên là Ta Ha, người nào thấy thuốc này thời được sống lâu, không có bịnh khổ, bốn thứ độc không làm hại được. Người nào rờ đụng thuốc này thời sống lâu đủ một trăm hai mươi tuổi. Người nào nhớ thuốc này thời được trí túc mạng. Đó là do thế lực của vị thuốc này. Cũng vậy, chư Phật và Bồ tát, nếu ai được thấy thời tất cả phiền não đều trừ, bốn ma chẳng nhiễu loạn được. Người nào gần gũi chư Phật và Bồ tát, vì được nghe pháp, nên được trường thọ chẳng bị sanh tử. Người nào tưởng niệm chư Phật và Bồ tát thời được Vô thượng Bồ đề. Do đây nên chư Phật và Bồ tát gọi là thiện tri thức.

Như trong Hương Sơn có ao A Na Bà Đạp Đa, từ ao này thành nguồn bốn con sông lớn: Sông Hằng, sông Vân Đầu, sông Tư Đà, sông Bác Xoa. Người đời thường nói rằng: Nếu người có tội tắm nơi bốn con sông này thời tội đều tiêu diệt. Nên biết lời nói này là hư vọng chẳng thật. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới là chơn thật. Vì người nào được gần gũi thời tất cả tội chướng đều tiêu trừ. Do đây nên chư Phật và Bồ tát gọi là thiện tri thức.

Ví như trên mặt đất có bao nhiêu cỏ thuốc, rừng cây, trăm giống lúa, mía nho, các thứ bông trái. Gặp trời nắng hạn sắp khô chết, Nan Đà Long Vương vì xót thương chúng sanh nên ra khỏi biển lớn làm mưa xối xuống, nhờ đó tất cả cỏ cây bông trái đều được tươi tốt. Cũng vậy, tất cả chúng sanh có bao nhiêu căn lành sắp tiêu diệt, chư Phật và Bồ tát sanh lòng đại bi từ biển trí huệ rưới pháp cam lồ, làm cho chúng sanh được mười hai pháp lành. Do đây nên chư Phật và Bồ tát gọi là thiện tri thức.

Ví như lương y thông thạo tám môn trị bịnh, thấy những người bịnh thời lo chữa trị, không ngó đến dòng họ, đẹp xấu cũng không nghĩ đến châu báu, do đây nên người đời xưng tặng là đại lương y. Cũng vậy, chư Phật và Bồ tát thấy chúng sanh có bịnh phiền não, liền sanh lòng từ mẫn mà thuyết pháp, không ngó đến dòng họ đẹp xấu cùng của cải, chúng sanh được nghe pháp, phiền não liền trừ diệt. Do đây nên chư Phật và Bồ tát gọi là thiện tri thức. Do vì gần gũi thiện hữu nên được gần Đại Niết bàn.

Thế nào là Bồ tát nhờ nghe pháp mà đặng gần với Đại Niết bàn? Tất cả chúng sanh do nghe pháp mà có tín căn, vì có tín căn nên thích thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ, được quả Tu đà hoàn nhẫn đến quả Phật. Do đây nên biết rằng được những pháp lành đều là thế lực của sự nghe pháp.

Ví như Trưởng giả chỉ có một con trai, ông sai con đến nước khác buôn bán đổi chác. Ông chỉ rành đường sá, rồi lại dặn rằng: Nếu gặp dâm nữ thời con phải cẩn thận, chớ gần gũi, nếu thương yêu gần gũi thời mất tiền của và thân mạng cũng khó bảo toàn, cũng chớ giao du với người tệ ác. Người con kính thuận theo lời dạy của cha, thân tâm an ổn được nhiều của báu mang về.

Đại Bồ tát giáo hóa chúng sanh cũng như vậy, chỉ rành đường đạo cùng những pháp chướng ác. Nhờ nghe pháp mà chúng sanh xa lìa những điều ác, đầy đủ những pháp lành đây là do sự thính pháp mà được gần với Đại Niết bàn.

Ví như gương sáng soi rõ mặt người. Cũng vậy, người được nghe pháp thời thấy rõ pháp lành, pháp ác, do đây nên được gần Đại Niết bàn.

Ví như nhà tìm châu bảo chẳng biết đường sá, có người hiểu biết chỉ đường, bèn đến được chỗ châu báu. Cũng vậy, tất cả chúng sanh muốn đến chỗ lành để lấy Pháp bảo, chẳng biết phương pháp tu hành, nhờ Bồ tát chỉ dạy, chúng sanh tuân theo mà được đến chỗ lành đặng Pháp bảo Vô thượng Đại Niết bàn. Đây là do nghe pháp mà đặng gần với Đại Niết bàn.

Ví như voi say hung dữ, có nhà điều tượng dùng móc sắt móc rách da đầu, voi say liền điều thuận hết tâm hung dữ. Cũng vậy, tất cả chúng sanh do tham, sân, si nên muốn gây tạo nhiều tội ác, Bồ tát vì họ thuyết pháp, làm cho họ dứt hết tâm ác, do đây nên gần được Đại Niết bàn. Vì thế nên Như Lai ở trong các kinh bảo hàng đệ tử phải nhiếp tâm lóng nghe và lãnh thọ mười hai bộ kinh, tu bảy giác chi, lìa năm thứ cái chướng. Do tu tập bảy giác chi thời được gần Đại Niết bàn.

Do thính pháp mà Tu đà hoàn lìa những sự khủng bố:

Trưởng giả Tu Đạt Đa trước kia mang bịnh nặng, ông rất lo rầu sợ sệt. Sau khi được nghe Xá Lợi Phất nói bực Tu đà hoàn có bốn công đức, dùng mười thứ ví dụ để an ủi. Trưởng giả nghe rồi liền hết sợ sệt. Đây cũng là do thính pháp mà được gần Đại Niết bàn, vì được mở thông pháp nhãn.

Trong đời có ba người: Một là không con mắt, hai là một con mắt, ba là đủ hai mắt. Người không con mắt dụ cho thường chẳng được nghe pháp. Người một con mắt dụ cho được tạm thời nghe pháp mà tâm không được an trụ. Người đủ hai con mắt dụ cho chuyên tâm nghe pháp lãnh thọ và thực hành, do đây được gần Đại Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Ngày trước lúc ta ở thành Câu Thi Na, Xá Lợi Phất đương bịnh khổ. Ta sai A Nan đến thuyết pháp. Lúc đó Xá Lợi Phất nghe A Nan thuyết pháp, bèn bảo bốn người đệ tử khiêng giường bịnh đến chỗ Phật để nghe pháp. Do phước lực nghe Phật thuyết pháp nên Xá Lợi Phất được lành bịnh thân thể an ổn. Vì thế nên nghe chánh pháp thời được gần Đại Niết bàn.

Thế nào là Bồ tát do tư duy mà được gần Đại Niết bàn? Nhơn sự tư duy này mà tâm được giải thoát. Vì tất cả chúng sanh thường bị ngũ dục ràng buộc, do tư duy nên đều được giải thoát. Đây là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.

Tất cả chúng sanh thường bị thường, lạc, ngã, tịnh làm điên đảo. Do tư duy nên được thấy các pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Nhờ sự thấy này mà hết điên đảo. Đây cũng là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.

Tất cả pháp có bốn tướng: sanh tướng, lão tướng, bịnh tướng, diệt tướng. Do bốn tướng này làm cho phàm phu đến Tu đà hoàn bị nhiều sự khổ não. Nếu người có thể nhiếp niệm khéo tư duy, dầu gặp bốn tướng này nhưng chẳng bị khổ não. Đây cũng là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Tất cả pháp lành đều do tư duy mà được. Vì có người dầu trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp chuyên tâm thính pháp, nếu chẳng tư duy thời trọn không thể được Vô thượng Bồ đề. Đây cũng là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.

Nếu có chúng sanh tin Phật, Pháp, Tăng không biến đổi nên sanh lòng cung kính. Nên biết rằng đây là do năng lực của sự nhiếp niệm tư duy mới được dứt trừ tất cả phiền não. Đây cũng là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.

Thế nào là Bồ tát tu hành đúng chánh pháp? Này Thiện nam tử! Dứt những pháp ác tu các pháp lành thời gọi là Bồ tát tu hành đúng pháp. Lại thấy tất cả pháp trống rỗng không chỗ có, không thường, không lạc, không ngã, không tịnh, do sự thấy biết này nên thà bỏ thân mạng chẳng phạm cấm giới. Đây gọi là Bồ tát tu hành đúng pháp.

Tu có hai thứ: Chơn thật và chẳng thật. Chẳng biết tướng của Niết bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, tướng hư không v.v… đây gọi là chẳng thật. Nếu biết thời gọi là chơn thật.

Thế nào gọi là biết tướng của Niết bàn? Niết bàn có tám điều: Một là sạch hết, hai là tánh lành, ba là thật, bốn là chơn, năm là thường, sáu là lạc, bảy là ngã, tám là tịnh. Niết bàn lại có tám điều: Một là giải thoát, hai là tánh lành, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chơn, năm là vô thường, sáu là vô lạc, bảy là vô ngã, tám là vô tịnh.

Niết bàn lại có sáu tướng: Một là giải thoát, hai là tánh lành, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chơn, năm là an lạc, sáu là thanh tịnh.

Nếu chúng sanh y theo đạo thế tục mà dứt phiền não, thời Niết bàn đó có tám điều giải thoát chẳng chơn thật, vì là vô thường. Vì vô thường nên là không thật, vì không thật thời không chơn. Dầu dứt phiền não nhưng rồi sẽ khổ trở lại, do đây nên không có thường, lạc, ngã, tịnh, đây gọi là Niết bàn có tám điều giải thoát không thật.

Thanh văn Duyên giác vì dứt phiến não nên gọi là giải thoát nhưng chưa được Vô thượng Bồ đề, đây gọi là chẳng thật vì chẳng thật nên chẳng chơn. Đời vị lai sẽ được Vô thượng Bồ đề nên là vô thường. Vì được tám Thánh đạo vô lậu nên gọi là thanh tịnh an lạc, đây gọi là Niết bàn có sáu tướng.

Này Thiện nam tử! Nếu biết như vậy đó là biết Niết bàn, chẳng gọi là biết Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, hư không.

Phật tánh có sáu điều: Một là thường, hai là tịnh, ba là thật, bốn là thiện, năm là sẽ thấy, sáu là chơn. Phật tánh lại có bảy điều: Sáu điều như trên, bảy là có thể chứng, đây gọi là Bồ tát biết Phật tánh.

Như Lai chính là tướng giác ngộ, tướng lành, là thường, lạc, ngã, tịnh, là giải thoát chơn thật, dạy đạo có thể thấy được, đây gọi là Bồ tát biết tướng Như Lai.

Pháp là hoặc lành chẳng lành, hoặc thường chẳng thường, hoặc lạc chẳng lạc, hoặc ngã chẳng ngã, hoặc tịnh chẳng tịnh, hoặc tri chẳng tri, hoặc giải chẳng giải, hoặc chơn chẳng chơn, hoặc tu chẳng tu, hoặc sư chẳng phải sư, hoặc thật chẳng thật, đây gọi là Bồ tát biết pháp tướng.

Thế nào là Bồ tát biết Tăng tướng?

Tăng là thường, lạc, ngã, tịnh, là tướng đệ tử, tướng có thể thấy, là thiện, là chơn, chẳng thật, vì tất cả Thanh văn sẽ được thành Phật, vì tỏ ngộ chơn tánh nên gọi là chơn. Đây gọi là Bồ tát biết tướng của Tăng.

Thiệt tướng là: Hoặc thường, vô thường, hoặc lạc, vô lạc, hoặc ngã, vô ngã, hoặc tịnh, vô tịnh, hoặc thiện, bất thiện, hoặc có, hoặc không, hoặc Niết bàn, hoặc chẳng phải Niết bàn, hoặc giải thoát, hoặc chẳng phải giải thoát, hoặc tri, hoặc bất tri, hoặc đoạn, hoặc bất đoạn, hoặc chứng, hoặc chẳng chứng, hoặc tu, hoặc chẳng tu, hoặc thấy, hoặc chẳng thấy, đây gọi là thiệt tướng, chẳng phải là Niết bàn Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, hư không.

Đây gọi là Bồ tát nhơn tu kinh Đại Niết bàn này biết tướng sai khác của Niết bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thiệt tướng, hư không.

Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát tu kinh Đại Niết bàn chẳng thấy hư không, vì Phật và Bồ tát dầu có ngũ nhãn nhưng chẳng thấy, chỉ có huệ nhãn mới thấy được. Chỗ thấy của huệ nhãn là không có pháp thấy được nên gọi là thấy. Nếu là không có vật gọi là hư không, thời hư không ấy gọi là thật, do vì thật thời gọi là thường không, vì thường không nên không có lạc, ngã và tịnh.

Này Thiện nam tử! Trống không gọi là không có pháp, không có pháp gọi là trống không. Như trong đời chỗ không có vật gọi là trống không, tánh hư không cũng như vậy, vì không chỗ có nên gọi là hư không.

Này Thiện nam tử! Tánh chúng sanh cùng tánh hư không đều không có thiệt tánh. Như có người nói rằng: Trừ dứt những vật có rồi sau mới là không. Nhưng hư không này thiệt chẳng thể làm ra, vì là không chỗ có, đã không chỗ có nên biết là không có hư không. Tánh hư không này nếu có thể làm ra thời gọi là vô thường, nếu là vô thường thời chẳng gọi là hư không.

Này Thiện nam tử! Như người đời nói rằng hư không là không sắc chất, không cách ngại, là thường chẳng biến đổi, do đây nên trong đời gọi tánh hư không là đại chủng thứ năm. Nhưng hư không này thiệt ra không có tánh, do ánh sáng nên gọi là hư không, thật ra không có hư không. Như thế đế thiệt ra không có tánh vì thuận theo chúng sanh mà nói là có thế đế.

Này Thiện nam tử! Thể Niết bàn cũng không có chỗ trụ, chính nơi chư Phật dứt sạch phiền não mà gọi là Niết bàn. Niết bàn chính là thường, lạc, ngã, tịnh. Niết bàn dầu là lạc, nhưng chẳng phải là thọ lạc, bèn là sự vui tịch diệt vi diệu Vô thượng. Chư Phật có hai thứ vui: Một là tịch diệt lạc, hai là giác tri lạc. Thể thiệt tướng có ba thứ vui: Một là thọ lạc, hai là tịnh diệt lạc, ba là giác tri lạc. Phật tánh có một thứ vui, vì sẽ được thấy, lúc chứng Vô thượng Bồ đề thời gọi là Bồ đề lạc.

Cao Quý Đức Vương Bồ tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chỗ phiền não dứt là Niết bàn thời không phải. Vì xưa kia lúc Đức Như Lai mới thành Phật, đi đến bờ sông Ni Liên Thiền, Ma Vương cùng quyến thuộc đến chỗ Phật thưa rằng: Thời kỳ Niết bàn đã đến sao Thế Tôn chẳng nhập?”

Phật bảo Ma Vương: Nay ta chưa có hàng đa văn đệ tử giới hạnh tinh nghiêm. Trí huệ thông minh, có thể giáo hóa chúng sanh, nên ta chẳng nhập Niết bàn. Nếu nói rằng chỗ phiền não dứt là Niết bàn, Bồ tát từ vô lượng kiếp đã dứt phiền não, cớ sao chẳng đặng gọi là Niết bàn? Đều đồng dứt, cớ sao gọi riêng chư Phật có Niết bàn, còn Bồ tát thời không? Nếu dứt phiền não chẳng phải là Niết bàn cớ sao ngày trước đức Như Lai bảo ông Sanh Danh: Chính thân của Ta đây là Niết bàn.?

Lúc Như Lai ở nước Tỳ Xá Ly, Ma Vương lại đến thưa: Thế Tôn ngày trước nói rằng vì chưa có hàng đệ tử đa văn trì giới thông minh trí huệ có thể giáo hóa chúng sanh, nên Thế Tôn chẳng nhập Niết bàn. Nay đã đầy đủ cớ sao Thế Tôn chẳng nhập? Như Lai bảo Ma Vương: Sau đây ba tháng Ta sẽ nhập Niết bàn.

Bạch Thế Tôn! Giả sử diệt độ chẳng phải nhập Niết bàn, tại sao đức Như Lai lại hẹn ba tháng sẽ nhập Niết bàn?

Bạch Thế Tôn! Nếu dứt phiền não là Niết bàn, ngày trước lúc đức Như Lai ngồi nơi đạo tràng Bồ đề dứt hết phiền não bèn là Niết bàn, sao lại nói với Ma Vương sau ba tháng sẽ nhập Niết bàn?

Bạch Thế Tôn! Nếu lúc đó là Niết bàn, tại sao lại tuyên bố đến cuối đêm sẽ nhập Niết bàn?

Đức Như Lai là đấng thành thiệt, cớ sao lại nói những lời hư vọng như vậy?

Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ tát: “Này Thiện nam tử! Như Lai đã đặng tướng lưỡi rộng dài, phải biết rằng Như Lai từ vô lượng kiếp đã lìa vọng ngữ. Tất cả chư Phật và Bồ tát phàm có nói ra đều là lời thành thật chắc chắn không hư dối.

Này Thiện nam tử! Ngày trước Ma Ba Tuần thỉnh Phật nhập Niết bàn, mà Ma Vương chẳng biết tướng Niết bàn. Ý Ma Vương cho rằng chẳng giáo hóa chúng sanh yên lặng bất động đó là Niết bàn. Ví như người đời thấy có ai chẳng nói chẳng làm, bèn cho rằng người này như chết. Ý Ma Vương cũng như vậy.

Này Thiện nam tử! Như Lai chẳng nói Phật Pháp và chúng Tăng không có tướng sai khác. Chỉ nói thường trụ và thanh tịnh hai pháp này không sai khác. Phật cũng chẳng nói Phật cùng Phật tánh và Niết bàn không có tướng sai khác, chỉ nói thường hằng bất biến là không sai khác, Phật cũng chẳng nói Niết bàn và thiệt tướng không có tướng sai khác, chỉ nói thường trụ và thật chẳng biến đổi không có sai khác.

Này Thiện nam tử! Có lúc hàng Thanh văn đệ tử của Ta sanh sự tránh tụng, như các Tỳ kheo ở nước Câu Diêm Vi trái lời dạy của Phật phạm nhiều cấm giới, chẳng kính trọng Phật, Pháp, Tăng, giới luật Hòa thượng. Những Tỳ kheo ác này chẳng tin lời dạy của Phật. Vì những người này mà Ta bảo Ma Ba Tuần ông chớ lo rằng chậm. Sau ba tháng Ta sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Nhơn vì các Tỳ kheo ác này, khiến hàng Thanh văn chẳng thấy thân của Ta, chẳng nghe ta thuyết pháp, bèn cho rằng Như Lai nhập Niết bàn. Chỉ hàng Bồ tát thấy được thân ta, thường nghe ta thuyết pháp, nên chẳng cho rằng Phật nhập Niết bàn.

Dầu hàng Thanh văn nói rằng Như Lai nhập Niết bàn, nhưng thật ra ta chẳng nhập Niết bàn.

Nếu Thanh văn đệ tử của Ta nói rằng Như Lai nhập Niết bàn, phải biết người này chẳng phải đệ tử của Phật, là bè đảng của ma, là người tà kiến chẳng phải chánh kiến. Nếu nói Như Lai chẳng nhập Niết bàn, phải biết người này thiệt là đệ tử Phật, là người chánh kiến chẳng phải bè đảng của ma.

Này Thiện nam tử! Ta chẳng thấy trong hàng đệ tử có người nào cho rằng Như Lai chẳng giáo hóa chúng sanh yên lặng bất động gọi là Niết bàn.

Ví như Trưởng giả có đông con cái, đi đến xứ khác chưa trở về. Những người con đều cho rằng cha mình đã chết. Như Trưởng giả này thiệt chẳng chết, mà những người con điên đảo tưởng rằng chết. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử vì chẳng thấy Phật, bèn cho rằng Như Lai đã nhập Niết bàn trong rừng Ta La nơi thành Câu Thi Na, nhưng thật ra ta chẳng nhập Niết bàn, mà hàng Thanh văn tưởng là nhập Niết bàn.

Ví như ngọn đèn sáng, có người che kín đó, những kẻ không biết cho rằng đèn đã tắt, nhưng đèn sáng này thiệt chẳng tắt, vì không biết nên cho là tắt. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử dầu có huệ nhãn nhưng bị phiền não che đậy làm cho tâm điên đảo chẳng thấy được thân chơn thật của Phật, bèn tưởng là Phật diệt độ, nhưng thiệt ra ta chẳng diệt độ.

Như người sanh manh chẳng thấy mặt trời mặt trăng, chẳng biết ngày đêm sáng tối, vì chẳng biết bèn nói rằng không có mặt trời mặt trăng thiệt, do vì không thấy nên sanh tưởng điên đảo. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử, vì chẳng thấy Như Lai bèn cho rằng Phật nhập Niết bàn. Nhưng thật ra Như Lai chẳng nhập Niết bàn.

Ví như mây mù che khuất mặt trời mặt trăng, kẻ ngu si cho rằng không có mặt trời mặt trăng. Cũng vậy, Vì các phiền não che đôi mắt trí huệ nên hàng Thanh văn chẳng thấy Như Lai bèn cho rằng Như Lai nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Đây là đức Như Lai thị hiện Anh Nhi Hạnh chớ chẳng phải diệt độ.

Này Thiện nam tử! Như lúc mặt trời lặn, vì Hắc Sơn che khuất mặt trời, nên chúng sanh Diêm Phù Đề chẳng thấy, nhưng thật ra mặt trời không có lặn, vì không thấy nên chúng sanh tưởng là lặn. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử bị phiền não che ngăn chẳng thấy thân Phật, vì chẳng thấy nên cho rằng Như Lai nhập Niết bàn, nhưng thiệt ra Phật chẳng nhập Niết bàn.

Do đây nên Phật ở nước Tỳ Da Ly bảo Ma Ba Tuần: Sau ba tháng Ta sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Như Lai thấy trước rằng Ca Diếp Bồ tát sau ba tháng căn lành sẽ thành thục, cũng thấy núi Hương Sơn ông Tu Bạt Đà La an cư xong sẽ đến chỗ ta, nên Ta bảo Ma Ba Tuần sau ba tháng sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Có năm trăm lực sĩ mãn ba tháng cũng sẽ phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì họ nên Ta bảo ma Ba Tuần sau ba tháng Phật sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Bọn ông Thuần Đà năm trăm Lê Xa tử, và Am La nữ

Sau ba tháng thời đạo tâm Vô thượng sẽ thành thục, vì những người này nên Ta bảo ma Ba Tuần sau ba tháng Như Lai sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Ông Tu Na Sát Đa theo hàng ngoại đạo Ni Kiền Tử, ta vì ông thuyết pháp trọn mười hai năm, ông chẳng tin chẳng thọ, chẳng bỏ tà kiến, ta biết ác tâm tà kiến của ông sau ba tháng quyết định có thể dứt trừ, nên Ta bảo ma Ba Tuần sau ba tháng Phật sẽ nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Do nhơn duyên gì mà ngày trước ở bên sông Ni Liên, Ta bảo ma Ba Tuần vì chưa có hàng đệ tử đa văn trí huệ nên Phật chẳng nhập Niết bàn?

Lúc đó ta muốn chuyển pháp luân độ các ông Kiều Trần Như v.v…, cũng muốn độ các ông Da Xá, muốn độ bọn ông Úc Dà Trưởng giả, muốn độ Vua Tần Bà Ta La nước Ma Dà Đà cùng vô lượng nhơn thiên, muốn độ Thầy trò Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Dà Da Ca Diếp, cũng muốn độ các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v… Vì thế nên Ta bảo ma Ba Tuần: Như Lai chẳng nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Có Niết bàn chẳng phải là Đại Niết bàn. Chẳng thấy Phật tánh mà dứt phiền não thời gọi là Niết bàn chẳng phải Đại Niết bàn. Bởi chẳng thấy Phật tánh nên không có thường, ngã, chỉ có lạc và tịnh, do đây nên dầu dứt phiền não mà chẳng được gọi là Đại Niết bàn. Nếu thấy Phật tánh dứt phiền não thời gọi là Đại Niết bàn, vì thấy Phật tánh nên được gọi là thường, lạc, ngã, tịnh.

Này Thiện nam tử! “Niết” nghĩa là chẳng, “Bàn” nghĩa là dệt, nghĩa chẳng dệt gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là che, chẳng bị che bèn gọi là Niết bàn. Bàn lại có nghĩa là đi đến, chẳng đi chẳng đến gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là bất định, không bất định gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là mới cũ, không mới cũ gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là chướng ngại, không chướng ngại gọi là Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Có hàng đệ tử của phái Ưu Lâu Khư, phái Ca Tỳ La nói “Bàn” là danh tướng, không danh tướng gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là có; không có thời gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là hòa hiệp; không hòa hiệp gọi là Niết bàn. “Bàn” lại có nghĩa là khổ; không khổ gọi là Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Người dứt phiền não chẳng gọi là tu Niết bàn, chẳng sanh phiền não thời gọi là Niết bàn. Chư Phật Như Lai vĩnh viễn chẳng khởi phiền não nên gọi là Niết bàn. Có trí huệ ở nơi tất cả pháp không có chướng ngại thời gọi là Như Lai. Như Lai chẳng phải phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Đây gọi là Phật tánh.

Thân tâm trí huệ của Như Lai khắp đầy vô lượng vô biên, vô số cõi, không bị chướng ngại, đây gọi là hư không.

Như Lai thường trụ không có biến đổi, đây gọi là thật tướng.

Do nghĩa này nên Như Lai thiệt chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.

Đây gọi là Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ bảy.

Thế nào là Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tám?

Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn: Trừ dứt năm việc, xa lìa năm việc, thành tựu sáu việc, tu tập năm việc, giữ gìn một việc, gần gũi bốn việc, tin thuận nhứt thật, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát.

Trừ dứt năm việc, chính là trừ năm ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm thứ này hay làm chúng sanh sống chết nối mãi, chẳng rời gánh nặng chia lìa tụ họp, buộc ràng trong ba đời, không thể cầu tìm cho ra nghĩa lý; do những lẽ này nên gọi là “ẤM”.

Đại Bồ tát dầu thấy sắc ấm, nhưng chẳng thấy tướng của nó, vì trong mười món sắc suy tìm tánh của nó trọn không thể được, vì thuận theo thế tục mà gọi là “ẤM”.

Có một trăm lẻ tám thứ thọ, Bồ tát dầu thấy thọ ấm, nhưng vẫn không thấy tướng của thọ. Vì thọ dầu có một trăm lẻ tám, nhưng tất cả không có nghĩa lý quyết định thật.

Như sắc và thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Vì thấy rõ năm ấm là cội gốc sanh ra phiền não, nên Đại Bồ tát dùng phương tiện làm cho dứt.

Đại Bồ tát xa lìa năm việc, chính là xa lìa năm kiến chấp: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới thủ. Do năm kiến chấp này sanh ra sáu mươi hai thứ kiến chấp. Vì những thứ kiến chấp này mà sanh tử nối mãi chẳng dứt, nên Bồ tát ngăn ngừa không gần gũi.

Đại Bồ tát thành tựu sáu việc, chính là thành tựu sáu chánh niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niện Thiên, niệm Thí, niệm Giới.

Đại Bồ tát tu tập năm việc, chính là tu tập năm định: Tri định, tịch định, thân tâm thọ khoái lạc định, vô lạc định, Thủ Lăng Nghiêm định. Tu tập năm thứ định tâm này thời gần với Đại Niết bàn, vì thế nên Đại Bồ tát chuyên cần tu tập.

Bồ tát giữ gìn một việc, chính là giữ gìn tâm Bồ đề. Đại Bồ tát luôn siêng năng gìn giữ tâm Bồ đề, như người đời săn sóc đứa con một, như người chột mắt giữ gìn một mắt còn lại, như đi giữa rừng hoang vắng giữ gìn người dẫn đường. Do gìn giữ tâm Bồ đề mà được Vô thượng Bồ đề, do được Vô thượng Bồ đề nên có đủ thường, lạc, ngã và tịnh, chính là Đại Niết bàn do đây nên Bồ tát gìn giữ một tâm Bồ đề này.

Bồ tát gần gũi bốn việc, chính là gần bốn tâm vô lượng: Đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả: Do bốn tâm này có thể làm cho vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ đề, nên Bồ tát luôn gần gũi.

Bồ tát tin thuận nhứt thật, chính là rõ biết tất cả chúng sanh đều về nơi đạo duy nhứt, đạo duy nhứt này là Đại thừa: Nơi Đại thừa này, chư Phật và Bồ tát chia ra làm ba thừa để dụ dẫn chúng sanh.

Bồ tát tâm thiện giải thoát chính là đã dứt hẳn tham, sân, si.

Bồ tát huệ thiện giải thoát, chính là Đại Bồ tát rõ biết tất cả pháp không chướng ngại. Do huệ giải thoát nên những pháp từ xưa chưa nghe mà nay được nghe, từ xưa chưa thấy mà nay được thấy, từ xưa chưa đến mà nay được đến.

Cao Quý Đức Vương Bồ tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như lời Phật nói: “Tâm giải thoát”, xét ra không đúng nghĩa. Vì tâm vốn không hệ phược. Bổn tánh của tâm không bị tham, sân, si, hệ phược. Đã là vốn không hệ phược, sao lại nói là giải thoát?

Thế Tôn! Nếu bổn tánh của tâm chẳng bị tham kiết hệ phược, do nhơn duyên gì mà có thể hệ phược được tâm? Ví như vắt sừng, vì vốn không sữa nên dầu tốn nhiều công lực vẫn không do đâu có sữa chảy ra. Nếu vắt vú bò, tốn công ít mà được nhiều sữa. Cũng vậy, tâm vốn không tham, sao nay lại có. Nếu trước vốn không mà sau mới có, thời chư Phật và Bồ tát vốn không tham, nay đáng lẽ đều có.

Thế Tôn! Như thạch nữ vốn không con, dầu tốn nhiều công lực, nhiều nhơn duyên vẫn không thể có con. Cũng vậy, tâm vốn không tham, dầu gây tạo nhiều duyên, cũng không do đâu sanh được tham.

Thế Tôn! Như dùi cây ướt không thể được lửa. Cũng vậy, dầu dùi tìm nơi tâm vẫn không thể có tham. Tại sao tham kiết hệ phược được tâm.

Thế Tôn! Ví như ép cát không thể có dầu. Cũng vậy, dầu ép nơi tâm vẫn không có tham. Phải biết rằng tham cùng tâm, lý nghĩa của hai thứ riêng khác nhau. Thiết sử có tham, đâu nhiễm ô được tâm.

Thế Tôn! Ví như đem nọc cắm giữa hư không trọn không thể đứng cứng được. Cũng vậy, đem tham cắm vào tâm, trọn không thể hệ phược được tâm, dầu dùng nhiều nhơn duyên.

Thế Tôn! Nếu tâm vốn không tham mà lại gọi là giải thoát, thời chư Phật và Bồ tát sao chẳng nhổ gai trong hư không?

Thế Tôn! Tâm quá khứ không gọi là giải thoát. Tâm vị lai cũng không giải thoát; tâm hiện tại chẳng cùng chung với đạo; thế thời tâm nào gọi là được giải thoát?

Thế Tôn! Như ngọn đèn quá khứ không thể diệt tối; ngọn đèn vị lai cũng không thể diệt tối; ngọn đèn hiện tại lại không thể diệt tối; vì sáng cùng tối, hai thứ ấy không đồng thời có. Tâm cũng như vậy, sao lại nói rằng tâm được giải thoát?

Thế Tôn! Tham cũng là có. Nếu tham là không, thời lúc thấy người nữ lẽ ra chẳng sanh tham. Nếu do người nữ mà sanh tham, thời tham là có thật. Vì có tham nên đọa ba đường ác.

Thế Tôn! Như có kẻ thấy tượng vẽ người nữ cũng sanh tham, vì sanh tham nên thành có nhiều tội lỗi. Nếu vốn không tham, tại sao thấy tượng vẽ lại sanh tham? Nếu tâm không tham, tại sao Như Lai nói Bồ tát tâm được giải thoát? Nếu tâm có tham, sao lại phải chờ thấy người nữ rồi sau mới sanh. Người không thấy thời không sanh? Hiện tại tôi thấy có quả báo ác do tham gây ra, nên biết tham là có sân và si cũng như vậy.

Thế Tôn! Như chúng sanh có thân không ngã, mà phàm phu chấp có ngã; dầu chấp có ngã nhưng không vì thế mà đọa ba ác đạo. Tại sao người tham đối với không tướng nữ sanh tưởng là nữ mà phải đọa ba ác đạo?

Thế Tôn! Ví như dùi cây sanh lửa, nhưng tánh lửa này trong các duyên đều không có, cớ gì mà được sanh ra lửa?

Thế Tôn! Cũng vậy, trong sắc không có tham, trong thinh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều không có tham, tại sao nơi sắc v.v… lại sanh ra tham? Nếu trong các duyên đều không có tham, tại sao riêng chúng sanh có tham, mà chư Phật và Bồ tát không sanh tham?

Thế Tôn! Tâm cũng là bất định. Nếu tâm là nhứt định thời không có tham sân si. Nếu tâm đã là bất định, sao lại nói rằng tâm được giải thoát? Tham cũng là bất định, nếu đã là bất định, tại sao lại nhơn nơi tham mà sanh ra ba ác đạo? Kẻ tham cùng cảnh giới, cả hai đều bất định. Vì đồng chung duyên một cảnh sắc, hoặc sanh tham, hoặc sanh sân, hoặc sanh si. Nếu cả hai đều bất định, tại sao đức Như Lai nói rằng Bồ tát tu Đại Niết bàn thời tâm được giải thoát?



 
Author of this article: Thích Trí Tịnh

Show Other Articles Of This Author