Home Kinh bộ bắc truyền Niết Bàn và Pháp Hoa Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375 - Kinh ại Bt Niết Bn Tập II p. 24b
03 | 09 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375 - Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24b PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Niết Bàn và Pháp Hoa
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập II 375
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 22a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22e
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.22f
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.23e
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24a
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24b
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24c
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 24d
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 25
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 26
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 27
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p. 28
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II p.29
Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II H.Hướng
Tất cả các trang

Kinh Ðại Bát Niết Bàn Tập II

XXIV/ PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BỐN (tiếp theo)

(Hán bộ quyển thứ 34)

Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Này Thiện nam tử! Bồ tát có hai hạng: Một là thật nghĩa, hai là giả danh.

Giả danh Bồ tát nghe tin Phật sau ba tháng sẽ nhập Niết bàn, đều sanh lòng thối thất mà nói rằng: Đức Như Lai còn là vô thường, tại sao chúng ta lại vì sự vô thường mà lại cần khổ trong vô lượng đời. Đức Như Lai thành tựu đầy đủ vô lượng công đức mà còn không thể phá hoại được tử ma, huống là bọn ta.

Này Thiện nam tử! Ta vì hạng Bồ tát này mà nói rằng Như Lai thường trụ không có biến đổi.

Các đệ tử của Ta nghe lời trên đây chẳng hiểu ý của Ta bèn xướng rằng đức Như Lai trọn chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.

Này Thiện nam tử! Có những chúng sanh chấp đoạn kiến bảo rằng tất cả chúng sanh sau khi thân thể chết mất, những nghiệp thiện, nghiệp ác không có người lãnh thọ. Ta vì những người này mà nói rằng quả báo lành cũng như quả báo ác thiệt có người lãnh thọ. Do đâu biết rằng có?

Như thuở quá khứ nơi thành Câu Thi Na có Thiện Kiến Vương: Lúc làm đồng tử trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi, thời kỳ làm Thái tử trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi, đến lúc lên ngôi Vua cũng trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi. Thiện Kiến Vương ngồi riêng một mình suy nghĩ rằng: Chúng sanh phước mỏng tuổi thọ ngắn ngủi, thường có bốn thứ oan gia theo dõi mà chúng sanh chẳng hay biết, mãi phóng dật. Ta nên xuất gia tu hành dứt tuyệt bốn thứ oan gia sanh, già, bệnh, chết. Nhà Vua sai quan xây nhà Thất bảo ở ngoài thành rồi bảo quần thần, hậu phi, các vương tử cùng tất cả quyến thuộc: Nay ta muốn xuất gia các người có bằng lòng không? Các đại thần cùng quyến thuộc đều bằng lòng. Thiện Kiến Vương đem theo một người hầu hạ qua ở nơi nhà Thất bảo tu tập từ tâm trải qua tám muôn bốn ngàn năm. Do sự tu tập từ tâm này nên sau đó trải qua tám muôn bốn ngàn đời thường làm Chuyển Luân Thánh Vương, ba mươi đời làm Thích Đề Hoàn Nhơn, vô lượng đời làm tiểu quốc vương.

Này Thiện nam tử! Thiện Kiến Vương thuở xưa đó chính là tiền thân của Ta. Các đệ tử của Ta nghe những lời trên đây chẳng hiểu được ý của Ta bèn nói rằng: Đức Như Lai quyết định nói có ngã và có ngã sở.

Lại một thời kỳ kia ta vì chúng sanh mà nói rằng ngã chính là tánh, nghĩa là những nhơn duyên trong thân ngoài cảnh, mười hai nhơn duyên, ngũ ấm, tâm, giới, công đức, hành nghiệp, tự tại thiên chính đây gọi là ngã. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có ngã.

Này Thiện nam tử! Ngày kia có một Tỳ kheo đến bạch rằng: Thế Tôn! Thế nào gọi là ngã, ai là ngã? Duyên gì mà có ngã? Ta bảo Tỳ kheo đó rằng: Này Tỳ kheo không có ngã không có ngã sở. Ngã đó chính là trước không mà nay có, có rồi trở lại không. Lúc nó sanh không từ đâu lại, lúc nó diệt cũng không đến đâu. Dầu có nghiệp quả mà không có tác giả, không có ai rời bỏ ngũ ấm cũng như không có ai thọ lấy ngũ ấm. Như lời ông hỏi thế nào là ngã? Ngã đó chính là thời kỳ vậy. Ai là ngã? Chính là nghiệp vậy. Duyên gì mà có ngã? Chính là ái vậy. Này Tỳ kheo! Như hai tay vổ nhau trong đó phát ra tiếng. Ngã cũng như vậy, chúng sanh, nghiệp, ái, do ba nhơn duyên này mà gọi đó là ngã. Này Tỳ kheo! Nơi tất cả chúng sanh, sắc chẳng phải là ngã, trong ngã không có sắc, trong sắc không có ngã, thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Này Tỳ kheo! Các ngoại đạo dầu nói là có ngã nhưng trọn chẳng lìa ngũ ấm. Không bao giờ có thể nói rằng riêng có ngã rời ngoài ngũ ấm. Tất cả chúng sanh, hành nghiệp như huyễn hóa như dương diệm. Này Tỳ kheo! Ngũ ấm đều là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh.

Này Thiện nam tử! Lúc ta giảng dạy những lời trên đây, có vô lượng Tỳ kheo quán ngũ ấm là vô ngã, là không ngã sở, mà chứng đặng quả A la hán.

Này Thiện nam tử! Các đệ tử của Ta nghe lời nói trên đây chẳng hiểu được ý của Ta cho rằng đức Như Lai quyết định nói vô ngã.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta lại nói rằng do ba sự hòa hiệp mà có thân: Cha mẹ, trung ấm. Hoặc có lúc Ta nói bực A na hàm nơi hiện thân nhập Niết bàn, hoặc nói nơi thân trung ấm nhập Niết bàn. Hoặc nói rằng thân căn của trung ấm minh mẫn sáng suốt đều do nơi hạnh nghiệp đời trước, như đề hồ trong sạch.

Này Thiện nam tử! Có lúc Ta nói rằng chúng sanh tệ ác thọ thân trung ấm xấu xí như vải bố thô. Chúng sanh thuần thiện thọ thân trung ấm tốt đẹp như lụa trắng. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có thân trung ấm.

Này Thiện nam tử! Ta lại vì những chúng sanh phạm tội nghịch mà nói rằng kẻ tạo tội ngũ nghịch sau khi chết thẳng vào Địa ngục A Tỳ.

Ta lại nói rằng Tỳ kheo Đàm Ma Lưu Chi, sau khi chết thẳng vào Địa ngục A Tỳ, nơi khỏang giữa không chỗ dừng ở.

Ta lại bảo Phạm Chí Độc Tử: Này Phạm Chí! Nếu có thân trung ấm thời có sáu sự có. Ta lại nói có chúng sanh cõi vô sắc không có thân trung ấm. Các đệ tử của Ta nghe lời trên đây chẳng hiểu được ý của Ta bèn nói rằng đức Phật quyết định nói không thân trung ấm.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta lại nói có thối thất. Nhơn nơi vô lượng sự giải đãi biếng trể, các Tỳ kheo chẳng tu hành đạo hạnh nên nói có năm điều thối thất: Một là thích nhiều việc, hai là thích nói việc đời, ba là ưa ngủ nghỉ, bốn là ưa gần người tại gia, năm là ưa thường dạo đi, do năm nhơn duyên này làm cho Tỳ kheo thối thất.

Nhơn duyên thối thất lại có hai thứ: Một là nội nhơn, hai là ngoại nhơn, bực A la hán dầu rời khỏi nội nhơn chẳng lìa ngoại nhơn. Do nhơn duyên ngoài nên sanh phiền não. Vì sanh phiền não thời thối thất.

Có Tỳ kheo tên là Cù Đàm, sáu phen thối thất, sanh lòng hổ thẹn lại tiến tu lần thứ bảy bèn được, được rồi sợ thối thất lấy dao tự đâm mình mà chết.

Ta lại nói có lúc giải thoát, hoặc nói sáu hạng A la hán. Các đệ tử của Ta nghe những lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có thối thất.

Này Thiện nam tử! Trong kinh lại nói như đã cháy thành than thời chẳng còn trở lại làm cây gỗ. Như bình đã bể thời không còn công dụng của bình. Phiền não cũng như vậy, A la hán đã dứt thời trọn chẳng có lại nữa.

Ta cũng nói chúng sanh nhơn duyên có phiền não do ba điều: Một là chưa dứt phiền não, hai là chẳng dứt nhơn duyên, ba là chẳng khéo suy nghĩ. Bực A la hán không có hai điều: Nghĩa là đã dứt phiền não và đã khéo suy nghĩ. Các đệ tử của Ta nghe lời này, chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói không thối thất.

Trong khế kinh Ta nói thân của Như Lai có hai thứ: Một là sanh thân, hai là pháp thân. Sanh thân là thân phương tiện ứng hóa. Thân này có thể nói là sanh già bịnh chết, cao thấp đen trắng, là đây là kia là học là vô học. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp hữu vi. Pháp thân là thường lạc ngã tịnh, lìa hẳn tất cả sanh già bịnh chết, chẳng phải trắng đen, chẳng phải cao thấp, chẳng phải đây kia, chẳng phải học vô học, Phật ra đời hoặc chẳng ra đời vẫn thường trụ chẳng động không biến đổi. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta, bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp vô vi.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta nói mười hai nhơn duyên: Từ vô minh sanh ra hành, từ hành sanh ra thức, từ thức sanh ra danh sắc, từ danh sắc sanh ra lục nhập, từ lục nhập sanh ra xúc, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, từ hữu sanh ra sanh, từ sanh thời có già chết buồn khổ. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn nói rằng đức Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định là hữu vi.

Lại một ngày kia Ta bảo các Tỳ kheo rằng mười hai nhơn duyên tánh tướng là thường trụ không luận có Phật hay không Phật. Có mười hai duyên chẳng từ duyên sanh, có từ duyên sanh chẳng phải mười hai duyên, có từ duyên sanh cũng là mười hai duyên, có chẳng phải duyên sanh mà cũng chẳng phải là mười hai duyên.

Có mười hai duyên chẳng phải là duyên sanh, chính là mười hai chi đời vị lai. Có từ duyên sanh mà chẳng phải là mười hai duyên chính là thân ngũ ấm của A la hán. Có từ duyên sanh cũng là mười hai duyên chính là thân ngũ ấm của phàm phu. Mười hai nhơn duyên chẳng phải là duyên sanh, chẳng phải mười hai duyên chính là hư không Niết bàn.

Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta, bèn cho rằng đức Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định là vô vi.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta nói tất cả chúng sanh tạo nghiệp thiện ác, lúc chết, tứ đại này liền hư hoại. Người tạo nghiệp thuần thiện tâm thức liền đi lên, người tạo nghiệp thuần ác tâm thức liền đi xuống. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng

hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết định là thường trụ.

Này Thiện nam tử! Một thuở kia Ta nói với Vua Tần Bà Ta La rằng: Này Đại vương! Sắc là vô thường vì từ nhơn vô thường mà sanh ra sắc. Nếu sắc đã từ nhơn vô thường mà sanh, người trí không bao giờ nói sắc là thường. Nếu sắc là thường lẽ ra chẳng hoại diệt sanh các khổ não. Nay thấy sắc hoại diệt nên biết rằng sắc là vô thường. Như sắc, thọ tưởng hành thức cũng như vậy.

Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết định đoạn diệt.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta nói hàng đệ tử lãnh thọ những hoa hương vàng bạc vật báu vợ con tôi tớ, tám vật bất tịnh chứng được chánh đạo, đã chứng được chánh đạo cũng chẳng rời bỏ những vật ấy. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục chẳng chướng ngại Thánh đạo.

Lại có lúc Ta nói người tại gia không thể chứng được chánh đạo. Hàng đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục quyết định chướng ngại chánh đạo.

Trong khế kinh Ta nói xa lìa phiền não chưa được giải thoát như cõi dục tu tập pháp thế đệ nhứt. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói pháp thế đệ nhứt chỉ là cõi dục.

Trong khế kinh Ta lại nói noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhứt pháp thuộc nơi sơ thiền đến tứ thiền. Với các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bốn pháp ấy thuộc nơi cõi sắc. Trong khế kinh Ta lại nói hàng ngoại đạo đã dứt được phiền não cõi tứ thiền tu tập noãn pháp đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhứt pháp, quán Tứ đế chứng quả A na hàm. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói thế đệ nhứt pháp thuộc nơi cõi vô sắc.

Trong khế kinh Ta từng nói trong bốn thứ bố thí có ba điều trong sạch: Một là thí chủ tin nhơn tin quả tin bố thí, người thọ chẳng tin nhơn, chẳng tin quả cùng bố thí, hai là thí chủ chẳng tin nhơn quả và bố thí, người thọ tin nhơn quả và bố thí; ba là thí chỉ và người thọ cả hai đều có lòng tin; bốn là thí chủ và người thọ cả hai đều chẳng tin. Bốn thứ bố thí trên đây ba hạng ban đầu là trong sạch. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bố thí chỉ thuộc nơi ý.

Có một lúc kia Ta lại nói rằng người bố thí lúc bố thí đem năm việc ra bố thí: Một là bố thí sắc, hai là bố thí sức lực, ba là bố thí an ổn, bốn là bố thí mạng sống, năm là bố thí biện tài, do nhơn duyên này nên thí chủ trở lại được năm quả báo. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Phật nói bố thí tức là năm ấm.

Có một lúc Ta nói rằng: Niết bàn tức là viễn ly, phiền não dứt hẳn không còn thừa sót, như đèn đã tắt, không còn pháp gì sanh trở lại, Niết bàn cũng như vậy.

Nói hư không đó tức là không chỗ có, như trong đời gọi chỗ không có là hư không, chẳng phải do trí dứt mới không chỗ có. Nếu hư không là có lẽ ra phải có nhơn duyên nếu đã có nhơn duyên lẽ ra phải có dứt diệt, bởi hư không vốn là không nên không có dứt diệt. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Phật nói không có ba pháp vô vi.

Một lúc kia Ta bảo Mục Kiền Liên rằng luận về Niết bàn tức là chương cú, tức là dấu vết, tức là chỗ rốt ráo, là chỗ vô sở úy, là bực đại sư, là đại quả, là trí rốt ráo, là đại nhẫn, là vô ngại Tam muội, là đại pháp giới, là cam lộ vị, là khó thấy biết. Này Mục Kiền Liên! Nếu nói rằng không Niết bàn, tại sao có người sanh lòng hủy báng Niết bàn lại phải đọa Địa ngục. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có Niết bàn.

Lại một lúc kia Ta bảo Mục Kiền Liên rằng nhãn căn chẳng bền chắc nhẫn đến thân cũng chẳng bền chắc. Vì chẳng bền chắc nên gọi là hư không. Ăn nuốt xuống rồi xoay chuyển tiêu hóa. Tất cả âm thanh đều gọi là hư không. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có hư không vô vi.

Ta lại bảo Mục Kiền Liên có người chưa được quả Tu đà hoàn, lúc trụ nơi nhẫn pháp, dứt vô lượng quả báo trong ba đường dữ, nên biết rằng chẳng phải trừ nơi trí mà dứt diệt. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta, bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có chẳng phải do trí mà dứt diệt. Lại một lúc kia Ta nói với Tỳ kheo Bạt Ba nếu Tỳ kheo quán nơi sắc: Hoặc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc gần hoặc xa, hoặc thô hoặc tế, những sắc như vậy chẳng phải là ngã chẳng phải ngã sở: Quán như vậy có thể dứt được lòng tham ái nơi sắc, - Bạt Ba bạch rằng: Thế nào gọi là sắc?

- Ta đáp: Tứ đại gọi rằng sắc, thọ tưởng hành thức bốn ấm này gọi là danh. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói sắc là tứ đại.

Này Thiện nam tử! Ta lại nói rằng như nhơn nơi mặt gương mà có bóng hình hiện ra, sắc cũng như vậy nhơn nơi tứ đại tạo thành. Chính là những thứ to, nhỏ, rít, trơn, xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, vắn, vuông, tròn, cong, ngay, nhẹ, nặng, lạnh, nóng, đói khát, khói, mây, bụi mù, đây gọi là những sắc do tứ đại tạo thành dường như vang bóng. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có tứ đại thời có sắc do tứ đại tạo thành, hoặc nói có tứ đại mà không có sắc.

Này Thiện nam tử! Trước kia Phương Tử Bồ đề nói rằng nếu có Tỳ kheo trì giới lúc phát tâm ác, nên biết rằng lúc đó mất giới Tỳ kheo. Ta nghe lời này bèn bảo rằng: Này Phương Tử! Giới có bảy thứ từ nơi thân và miệng mà có vô tác biểu sắc. Do nhơn duyên vô tác biểu sắc này nên dầu tâm của Tỳ kheo ở trong ác vô ký nhưng chẳng gọi là mất giới, vẫn còn gọi là trì giới. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Phật nói có vô tác biểu sắc.

Này Thiện nam tử! Trong các kinh khác ta có nói rằng giới chính là ngăn chế pháp ác, nếu chẳng làm ác đây gọi là trì giới. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn xướng rằng đức Như Lai quyết định nói không có vô tác biểu sắc.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh ta từng nói sắc ấm của Thánh nhơn nhẫn đến thức ấm đều là do vô minh sanh ra. Tất cả phàm phu cũng như vậy, từ vô minh sanh ra ái, nên biết rằng ái này chính là vô minh, từ ái sanh ra thủ, nên biết rằng thủ này chính là vô minh ái. Từ thủ sanh ra hữu, hữu này chính là vô minh ái thủ. Từ hữu sanh ra thọ, nên biết rằng thọ này chính là hành hữu. Từ nơi thọ sanh ra danh sắc, vô minh ái, thủ, hữu, hành, thọ, xúc, thức, lục nhập v.v… do đây nên thọ chính là mười hai chi. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói không có tâm sở.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh ta từng nói từ nơi nhãn, sắc, minh và ác dục, do bốn thứ này làm nhơn duyên sanh ra nhãn thức. Ác dục trong đây chính là vô minh, lúc dục cầu thời gọi là ái, do ái mà có thủ, thủ đây gọi là nghiệp, nghiệp làm duyên cho thức, thức làm duyên cho danh sắc, danh sắc làm duyên cho lục nhập, lục nhập làm duyên cho xúc, xúc làm duyên cho tưởng thọ ái, tín, tinh tấn định và huệ, những pháp này nhơn nơi xúc mà sanh nhưng chẳng phải là xúc. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có tâm sở.

Này Thiện nam tử! Hoặc có lúc Ta nói chỉ có một cõi, hoặc nói hai ba bốn năm sáu mười tám chín nhẫn đến hai mươi lăm cõi. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có năm cõi, hoặc nói có sáu cõi.

Này Thiện nam tử! Ngày trước lúc ở nơi rừng Ni Câu Đà tại thành Ca Tỳ La Vệ, Thích Ma Nam bạch với ta rằng: Thế Tôn sao gọi là Ưu bà tắc? Ta nói: Nếu có Thiện nam tử hoặc Thiện nữ nhơn nào căn thân đầy đủ thọ ba pháp quy y thời gọi là Ưu bà tắc. Thích Ma Nam lại hỏi: Thế Tôn sao gọi là nhứt phần Ưu bà tắc? Ta nói: Nếu thọ ba pháp quy y và thọ một giới thời gọi là nhứt phần Ưu bà tắc. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Ưu bà tắc được thọ từ phần.

Lại một lúc kia ta ở bên sông Hằng, Ca Chiên Diên đến bạch với ta rằng: Thế Tôn! Tôi giáo hoá chúng sanh khiến họ thọ pháp Bát quan trai: Hoặc một ngày, hoặc một đêm, hoặc một giờ, hoặc một niệm, những người này được thành trai pháp chăng? Ta nói: Này Ca Chiên Diên, những người này chỉ được điều lành mà chẳng được gọi là được trai pháp. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn nói rằng đức Như Lai nói pháp Bát quan trai thọ đủ mới được.

Trong khế kinh ta từng nói rằng nếu có Tỳ kheo đã phạm bốn tội trọng thời chẳng gọi là Tỳ kheo, gọi là phá Tỳ kheo, hư mất Tỳ kheo chẳng còn có thể sanh chủng tử pháp lành, như hột giống đã cháy chẳng còn mọc mầm sanh bông trái, như cây đa la nếu ngọn đã bị đứt thời chẳng còn sanh trái. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ kheo phạm giới trọng rồi bèn mất giới Tỳ kheo.

Trong khế kinh, ta vì Thuần Đà mà nói bốn hạng Tỳ kheo: Một là hạng rốt ráo đến chánh đạo, hai là hạng chỉ bày chánh đạo, ba là hạng lãnh thọ chánh đạo, bốn là hạng nhiễm ô chánh đạo. Người phạm bốn tội trọng là hạng nhiễm ô chánh đạo. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ kheo đã phạm bốn tội trọng chẳng mất giới.

Trong khế kinh Ta bảo các Tỳ kheo có nhứt thừa, nhứt đạo, nhứt hạnh, nhứt duyên, bốn pháp này có thể làm cho chúng sanh được đại tịch tịnh, dứt hẳn tất cả sự ràng buộc sầu khổ, khổ quả cùng khổ nhơn, làm cho tất cả chúng sanh đến nơi nhứt thừa. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu đà hoàn nhẫn đến A la hán đều được Phật đạo.

Này Thiện nam tử! Trong khế kinh Ta nói Tu đà hoàn bảy lần sanh qua lại trong nhơn gian cùng cõi trời, bèn chứng A la hán nhập Niết bàn. Tư đà hàm một lần sanh trong nhơn gian và cõi trời bèn nhập Niết bàn. A na hàm phàm có năm hạng: Hoặc có trung gian nhập Niết bàn nhẫn đến thượng lưu nhập Niết bàn. A la hán phàm có hai hạng: Một là hiện tại, hai là vị lai, hiện tại cũng dứt phiền não ngũ ấm, vị lai cũng dứt phiền não ngũ ấm. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu đà hoàn đến A la hán chẳng được Phật đạo.

Trong khế kinh ta từng nói Phật tánh đủ có sáu điều: Một là thường, hai là thật, ba là chơn, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu là có thể thấy. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.

Ta lại nói Phật tánh của chúng sanh như hư không. Hư không chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng phải nội ngoại, chẳng phải sắc thinh hương vị xúc, Phật tánh cũng như vậy. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.

Ta lại nói Phật tánh của chúng sanh dường như kho châu báu ẩn kín trong nhà của bần nữ, như Kim cang bảo châu ẩn trên trán của lực sĩ, như suối Cam Lộ của Chuyển Luân Thánh Vương. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.

Ta lại nói hàng Nhứt xiển đề phạm bốn tội trọng, hủy báng kinh điển Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch đều có Phật tánh. Những chúng sanh này đều không có pháp lành. Phật tánh là lành. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.

Ta lại nói chúng sanh chính là Phật tánh, vì nếu rời chúng sanh thời chẳng được Vô thượng Bồ đề. Do đây nên ta vì Vua Ba Tư Nặc mà nói ví dụ rờ voi: Như bọn người mù nói hình dạng của voi, dầu chẳng trúng nhưng đều chẳng rời ngoài voi. Chúng sanh nói sắc, nói thọ tưởng hành thức là Phật tánh cũng như vậy, dầu chẳng phải là Phật tánh nhưng chẳng phải rời Phật tánh. Như ta vì Vua Ba Tư Nặc mà nói ví dụ ống không hầu Phật tánh cũng như vậy. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn lập ra nhiều thuyết khác nhau, như người mù hỏi màu của sữa, Phật tánh cũng như vậy. Do cớ này, hoặc có người nói hàng Nhứt xiển đề phạm bốn tội trọng hủy báng kinh Đại thừa tạo tội ngũ nghịch đều có Phật tánh. Hoặc có người nói là không có Phật tánh.

Trong khế kinh nhiều lần Ta nói rằng một người xuất thế thời nhiều người được lợi ích. Trong một cõi nước không có hai Vua Chuyển Luân. Trong một thế giới không có hai đức Phật xuất thế. Một tứ thiên hạ không có tám Tứ Thiên Vương, nhẫn đến không có hai Tha Hoá Tự Tại Thiên. Ta nói từ Diêm Phù Đề, dưới đến Địa ngục A Tỳ, trên đến trời Sắc Cứu cánh. Các đệ tử của Ta nghe lời này chẳng hiểu ý của Ta bèn cho rằng đức Như Lai nói không có Phật mười phương. Thật ra trong các kinh Đại thừa Ta nói có thập phương chư Phật.

Này Thiện nam tử! Những điều tránh tụng như vậy là cảnh giới của chư Phật chẳng phải hàng Thanh văn Duyên giác biết được. Nếu người nào đối với những việc này sanh lòng nghi còn có thể phá hoại được vô lượng phiền não. Nếu người nào ở trong những việc này sanh lòng quyết định thời gọi là chấp trước.

Ca Diếp Bồ tát bạch Phật rằng: Thế nào là chấp trước?

- Này Thiện nam tử! Những người như vậy hoặc do người khác dạy bảo, hoặc nghe người khác nói, hoặc tự tìm kinh điển, với những điều ham thích chẳng thể buông bỏ đây gọi là chấp trước.

- Bạch Thế Tôn! Sự chấp trước này là thiện hay là bất thiện?

- Này Thiện nam tử! Sự chấp trước như vậy chẳng gọi là thiện, vì không thể phá hoại những lưới nghi.

- Bạch Thế Tôn! Những người này vốn tự chẳng nghi, sao lại nói rằng chẳng phá hoại lưới nghi?

- Này Thiện nam tử! Luận về người chẳng nghi chính là nghi.

- Bạch Thế Tôn! Nếu có người nói rằng bực Tu đà hoàn chẳng đọa ba ác đạo. Người này cũng nên gọi là chấp trước, là nghi.

- Này Thiện nam tử! Nên gọi là quyết định, mà chẳng được gọi là nghi. Tại sao vậy? Này Thiện nam tử! Như có người trước kia thấy cây thấy người, về sau đi ban đêm từ xa thấy gốc cây trụi, bèn nghi rằng đó là người hay là cây? Như người trước thấy Tỳ kheo và Phạm Chí, lúc sau đi đường từ xa thấy Tỳ kheo bèn nghi rằng đó là Sa môn hay là Phạm Chí? Như người trước thấy bò và trâu, lúc sau từ xa thấy bò, bèn nghi rằng đó là bò hay trâu?

Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh trước thấy hai vật về sau bèn sanh nghi, vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng.

Ta cũng chẳng nói rằng bực Tu đà hoàn có đọa ba đường ác hay chẳng đọa ba đường ác, cớ gì người này lại sanh lòng nghi!

- Bạch Thế Tôn! Như Phật nói phải trước có thấy rồi sau mới nghi. Nhưng có người lúc chưa thấy hai vật cũng lại sanh nghi. Như đối với Niết bàn. Như có người đi đường gặp dòng nước đục, trước kia chưa từng thấy mà cũng sanh nghi rằng dòng nước này sâu hay cạn.

- Này Thiện nam tử! Luận về Niết bàn chính là dứt khổ, chẳng phải là Niết bàn thời chính là khổ. Tất cả chúng sanh thấy có khổ cùng chẳng phải khổ. Như thấy đói khát, lạnh nóng, giận mừng, bịnh gầy, an ổn, trẻ, già, sống chết, trói buộc, cởi mở, ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, sau khi thấy những việc này, chúng sanh bèn nghi rằng sẽ có những gì xa lìa vĩnh viễn những sự khổ não này chăng? Do đây nên chúng sanh đối với Niết bàn mà sanh nghi.

Nếu ông cho rằng người đó từ trước đến nay chưa từng thấy dòng nước đục này sao lại sanh nghi. Lời nói này không đúng nghĩa, vì người đó ở nơi chỗ khác đã từng thấy rồi, nên ở nơi chỗ mới đến này mà sanh nghi.

- Bạch Thế Tôn! Người đó lúc trước thấy nước sâu cạn đã chẳng sanh nghi, nay cớ gì mà sanh nghi?

- Này Thiện nam tử! Vì trước kia chưa đi nên sanh nghi. Do đây nên Ta nói rằng vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng nên sanh nghi.

- Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói nghi chính là chấp trước, chấp trước chính là nghi, đây là người nào?

- Này Thiện nam tử! Là người dứt căn lành.

- Bạch Thế Tôn! Những hạng người nào có thể dứt căn lành.

- Này Thiện nam tử! Người thông minh lanh lợi có thể khéo phân biệt, nếu xa lìa bạn lành chẳng nghe chánh pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng thật hành đúng pháp, người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh này vì thiếu bốn điều trên mà tự suy nghĩ rằng: Không có vật bố thí, vì người thí là rời bỏ của cải, nếu bố thí mà có quả báo, thời thí chủ phải thường nghèo cùng, vì nhơn cùng quả giống nhau. Do suy nghĩ những việc như vậy nên người này nói rằng không nhơn không quả. Nếu nói không nhơn không quả như vậy thời gọi là dứt căn lành.

Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Thí chủ, người thọ và tài vật đều là vô thường biến đổi, nếu không biến đổi sao lại nói rằng đây là thí chủ, đây là người thọ, đây là của cải, nếu không người thọ sao lại được quả báo, do nghĩa này nên biết rằng không nhơn không quả. Nếu nói không nhơn không quả như vậy thời gọi là dứt căn lành.

Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Lúc thí chủ bố thí có năm sự bố thí: Người thọ thí khi lãnh được của cải rồi hoặc làm lành, hoặc làm điều chẳng lành, mà thí chủ này cũng chẳng mắc phải quả báo lành hay chẳng lành, như trong đời từ hột sanh ra trái, rồi từ trái trở lại có hột. Nhơn chính là thí chủ, quả chính là người thọ, mà người thọ này không thể đem điều thiện, điều bất thiện của mình đã làm khiến cho thí chủ được quả báo thiện cùng bất thiện, do nghĩa này nên không nhơn không quả. Nếu nói không nhơn không quả như vậy, nên biết người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Không có vật bố thí, vì vật bố thí là vô ký, đã là vô ký thời đâu có quả báo lành, không quả báo lành tức là vô ký, của vật nếu là vô ký nên biết rằng không có quả báo thiện ác, nên không có sự bố thí không nhơn không quả. Nếu nói rằng không nhơn không quả như vậy phải biết người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Người bố thí do nơi ý, ý này chẳng phải là sắc pháp, không thể thấy không đối tượng, đã chẳng phải là sắc pháp thời đâu có thể bố thí, do đây nên không có sự bố thí không nhơn không quả. Nếu nói không nhơn không quả như vậy, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh lại suy nghĩ rằng: Nếu thí chủ cúng thí cho tượng Phật, tượng chư Thiên cho cha mẹ đã qua đời, như vậy là có người thí mà không người thọ, nếu không người thọ thời lẽ ra không quả báo, nếu không quả báo thời là không nhơn, nếu đã không nhơn thời là không quả. Nếu nói không nhơn quả như vậy, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Không cha không mẹ. Nếu nói cha mẹ là nhơn sanh ra chúng sanh, đúng lý phải thường sanh không có đoạn tuyệt, vì nhơn là thường có, nhưng chẳng thường sanh, do đây nên biết rằng không có cha mẹ. Người này lại nghĩ rằng: Không cha không mẹ. Vì nếu thân chúng sanh do cha mẹ mà có, lẽ ra một người phải đủ cả hai căn nam nữ, nhưng sự thật không có đủ, do đây biết rằng chúng sanh chẳng phải do cha mẹ mà có. Người này lại nghĩ rằng chẳng phải do cha mẹ mà có ra chúng sanh, vì chính mắt họ thấy chúng sanh chẳng giống với cha mẹ, nghĩa là thân hình diện mạo tâm tánh đi đứng cử động chẳng giống với cha mẹ, nên cha mẹ chẳng phải là nhơn sanh ra chúng sanh. Người này lại nghĩ rằng trong đời có bốn thứ không có: Một là chưa sanh gọi là không có, như lúc còn là viên đất sét thời chưa có công dụng của cái bình; hai là đã diệt mất gọi là không có, như cái bình đã bể hư thời gọi là không có; ba là riêng khác nhau nên lẫn không có, như trong bò không có ngựa trong ngựa không có bò; bốn là rốt ráo gọi là không có, như sừng thỏ lông rùa. Cha mẹ cũng đồng như bốn thứ không có này. Nếu nói cha mẹ là nhơn có ra chúng sanh, lúc cha mẹ chết đứa con bất tất cũng chết, do đây nên cha mẹ chẳng phải là nhơn sanh ra chúng sanh. Người này lại nghĩ rằng: Nếu nói cha mẹ là nhơn sanh ra chúng sanh, lẽ ra nhơn nơi cha mẹ thường sanh ra chúng sanh, nhưng lại có hóa sanh và thấp sanh, do đây nên biết chẳng phải nhơn nơi cha mẹ sanh ra chúng sanh. Người này lại nghĩ rằng: Tự có chúng sanh chẳng phải nhơn nơi cha mẹ mà được sanh trưởng như chim công nghe tiếng sấm nổ mà có trứng, như chim thanh tước uống nước mắt của chim tước trống mà có trứng, như chim cộng mạng thấy chim trống múa bèn có trứng. Người này lúc suy nghĩ những điều trên đây nếu chẳng gặp được bực thiện tri thức khai thị, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Trong đời không có quả thiện ác, vì có những chúng sanh tu tập đủ mười điều lành, ưa thật hành bố thí siêng làm công đức, mà những người này cũng lại bị các bịnh tật nhóm trên thân, hoặc chết yểu, hoặc mất của, hoặc nhiều sự lo khổ. Cũng có những người tạo đủ mười điều dữ, tham lam bỏn xẻn tật đố giải đãi, mà lại mạnh khỏe sống lâu, hoặc giàu có không sầu khổ, do đây nên biết rằng không có quả thiện ác. Người này lại nghĩ rằng: Tôi cũng từng nghe các Thánh nhơn nói có người tu tập pháp lành khi chết bị đọa trong ba đường dữ. Có người làm điều ác khi chết sanh trong loài người trên trời, do đây nên biết rằng không quả thiện ác. Người này lại nghĩ rằng: Các Thánh nhơn nói hai thuyết: Hoặc nói sát sanh được quả báo lành, hoặc nói sát sanh mắc quả báo dữ. Thánh nhơn còn nói bất định, tại sao tôi lại nói quyết định, do đây nên biết không có quả thiện ác.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Trong đời không có Thánh nhơn, vì nếu nói là Thánh nhơn thời phải chứng được Thánh đạo. Tất cả chúng sanh lúc có đủ phiền não tu hành chánh đạo, nên biết rằng người này đồng thời đủ có phiền não và chánh đạo. Nếu đồng thời có thời chánh đạo chẳn g phá được kiết sử. Nếu không phiền não mà tu hành chánh đạo, thời chánh đạo ấy dùng làm gì? Do đây nên người đủ phiền não thời chánh đạo chẳng thể phá hoại được, người không phiền não thời chánh đạo lại vô dụng. Do đây nên biết trong đời không có bực Thánh nhơn.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Vô minh làm duyên cho hành, nhẫn đến sanh làm duyên cho lão tử, mười hai nhơn duyên này tất cả chúng sanh đồng có. Tám Thánh đạo tánh nó bình đẳng cũng như vậy, lúc một người được, thời tất cả người lẽ ra cũng được, lúc một người tu hành lẽ ra tất cả khổ đều diệt, vì phiền não bình đẳng. Mà nay chẳng đồng chứng đặng, do đây nên biết rằng không có chánh đạo.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Các Thánh nhơn đều có những pháp đồng với phàm phu, như là uống ăn, đi đứng ngồi nằm, ngủ nghỉ, vui cười, đói khát, lạnh nóng, lo buồn sợ sệt. Nếu đã đồng với phàm phu có những việc như vậy, nên biết rằng bực Thánh nhơn chẳng chứng được Thánh đạo, nếu đã được Thánh đạo lẽ ra phải dứt hẳn những việc như trên. Những việc như vậy nếu đã chẳng dứt, do đây nên biết rằng không Thánh đạo.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Thánh nhơn có thân thọ vui ngũ dục, cũng mắng nhiếc đánh đập người, cũng tật đố kiêu mạn thọ những sự khổ vui, tạo nghiệp thiện ác, do đây nên biết rằng không có Thánh nhơn. Nếu có chánh đạo lẽ ra đã dứt những việc này, nếu những việc này chẳng dứt nên biết rằng không có chánh đạo.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Người nhiều lòng từ mẫn gọi là Thánh nhơn. Do nhơn duyên gì gọi là Thánh nhơn? Nhơn nơi Thánh đạo mà gọi là Thánh nhơn. Nếu tánh của Thánh đạo là từ mẫn, thời nên thương xót tất cả chúng sanh, chẳng cần chờ tu hành rồi mới đặng. Nếu như không từ mẫn cớ sao Thánh nhơn chứng được Thánh đạo lại hay từ mẫn, do đây nên biết trong đời không có Thánh đạo.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Tất cả tứ đại chẳng từ nhơn duyên sanh. Chúng sanh đồng có tánh tứ đại này. Chẳng quán sát chúng sanh đáng đến bờ này, chẳng đáng đến bờ kia, nếu là có Thánh đạo, thời tánh của Thánh đạo lẽ ra cũng như vậy, nhưng nay chẳng phải như vậy, do đây nên biết rằng trong đời không có Thánh nhơn.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Nếu các bực Thánh nhơn có một Niết bàn thời nên biết rằng không có Thánh nhơn. Vì Niết bàn là bất khả đắc. Pháp thường trụ là bất khả đắc chẳng thể lấy chẳng thể bỏ. Nếu các bực Thánh nhơn có nhiều Niết bàn thời là vô thường, vì là pháp có thể đếm được. Niết bàn nếu là một, lúc một người được thời lẽ ra tất cả đều được. Nếu Niết bàn là nhiều thời là có chừng ngằn, nếu là có chừng ngằn thời đâu được gọi là thường trụ. Nếu nói rằng thể của Niết bàn là một, mà người giải thoát là nhiều, như một cây lọng là một mà cọng cánh lá nhiều, lời nói này chẳng đúng nghĩa, vì mỗi người chứng đặng chẳng phải tất cả người chứng đặng, bởi có chừng ngằn lẽ ra là vô thường nếu đã là vô thường thời đâu được gọi là Niết bàn. Nếu không có Niết bàn thời ai là bực Thánh nhơn? Do đây nên biết rằng không có Thánh nhơn.

Người thông minh này lại nghĩ rằng: Chánh đạo của Thánh nhơn chẳng phải do nhơn duyên mà được. Nếu chánh đạo của Thánh nhơn đã chẳng phải do nhơn duyên mà được, cớ sao tất cả chúng sanh chẳng làm Thánh nhơn. Nếu tất cả người chẳng phải là Thánh nhơn, thời biết rằng không có Thánh nhơn và không có Thánh đạo.

Người thông minh lại nghĩ rằng: Thánh nhơn nói có hai nhơn duyên được chánh kiến: Một là nghe người khác thuyết pháp, hai là tự mình tư duy. Hai nhơn duyên này đã từ duyên sanh, thời duyên này lại từ duyên khác mà sanh, xoay vần mãi như vậy thành ra có lỗi vô cùng. Nếu hai nhơn duyên này chẳng từ duyên sanh, thời tất cả chúng sanh do cớ gì mà chẳng đều được.

Lúc người thông minh này suy nghĩ những điều như trên thời có thể dứt mất căn lành.

Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào chấp chặt những điều không nhơn không quả như vậy người này có thể dứt mất năm căn: Tín, tấn, niệm, định và huệ. Người dứt mất căn lành chẳng phải là người hạ liệt, ngu độn, cũng chẳng phải chư thiên, chẳng phải ba ác đạo. Người phá Tăng cũng như vậy.

Ca Diếp Bồ tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Người như vậy, lúc nào sẽ có thể sanh căn lành trở lại.

- Này Thiện nam tử! Người này có hai lúc sanh căn lành trở lại: Lúc mới vào Địa ngục và lúc ra khỏi Địa ngục.

Này Thiện nam tử! Căn lành có ba thứ: Quá khứ, hiện tại và vị lai. Nếu là quá khứ thời tánh nó tự diệt, dầu nhơn diệt nhưng quả báo chưa thục nên chẳng gọi là dứt quả quá khứ. Vì dứt nhơn lành ba đời nên gọi là dứt mất.

- Bạch Thế Tôn! Nếu dứt nhơn lành ba đời mà gọi là mất căn lành, người dứt căn lành vẫn có Phật tánh, Phật tánh này là quá khứ, là hiện tại, là vị lai, hay là khắp cả ba đời? Nếu là quá khứ thế nào gọi là thường. Phật tánh là thường trụ nên biết rằng không phải là quá khứ. Nếu là vị lai thế nào gọi là thường? Cớ sao Phật nói rằng tất cả chúng sanh quyết định sẽ được? Nếu quyết định được thời sao lại nói rằng dứt mất? Nếu là hiện tại sao lại là thường? Cớ sao lại nói rằng quyết định có thể thấy?

Đức Như Lai cũng nói rằng Phật tánh cũng có sáu: Một là thường, hai là chơn, ba là thật, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu là có thể thấy. Nếu người dứt mất thiện căn mà có Phật tánh thời chẳng được gọi là dứt mất căn lành. Nếu không có Phật tánh sao lại nói rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nếu nói rằng Phật tánh cũng có, cũng dứt, thế nào đức Như Lai lại nói Phật tánh là thường trụ?

- Này Thiện nam tử! Đức Như Lai vì chúng sanh nên có ba thứ giải đáp: Một là đáp quyết định, hai là phân biệt mà đáp, ba là theo lời hỏi mà đáp, bốn là yên lặng mà đáp.

Thế nào là quyết định đáp? Nếu có ai hỏi rằng nghiệp ác cảm quả lành hay quả chẳng lành? Thời nên quyết định đáp rằng cảm quả chẳng lành. Hỏi thiện nghiệp cũng đáp như vậy. Nếu hỏi đức Như Lai có phải là bực Nhứt thiết trí chăng? Thời nên quyết định đáp rằng là bực Nhứt thiết trí. Nếu hỏi Phật pháp là thanh tịnh chăng? Thời nên quyết định đáp rằng là thanh tịnh. Nếu hỏi đệ tử của Phật có ăn ở đúng như pháp chăng? Thời nên quyết định đáp rằng có đúng như pháp mà ở. Đây gọi là quyết định đáp.

Thế nào là phân biệt mà đáp? - Như đức Phật giảng nói bốn chơn đế. - Thế nào là bốn? - Là khổ tập diệt đạo. - Sao gọi rằng Khổ đế? - Vì có tám điều khổ nên gọi là Khổ đế. - Thế nào là Tập đế? - Vì là nhơn của ngũ ấm nên gọi là Tập đế. - Thế nào là Diệt đế? - Vì đã dứt hẳn tham sân si nên gọi là Diệt đế. - Thế nào là Đạo đế? - Ba mươi bảy pháp trợ đạo gọi đó là Đạo đế. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Thế nào là theo lời hỏi mà đáp? Hỏi rằng đức Thế Tôn nói những pháp gì là vô thường? - Đáp rằng đức Như Lai nói pháp hữu vi là vô thường. Vô ngã cũng như vậy. - Hỏi rằng đức Thế Tôn vì những pháp gì mà nói tất cả đốt cháy? - Đáp rằng đức Như Lai vì tham, sân, si mà nói tất cả đốt cháy.

Này Thiện nam tử! Đức Như Lai có mười trí lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, Đại Từ Đại Bi, Thủ Lăng Nghiêm v.v… tám muôn ức môn Tam muội, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, năm trí ấn v.v… ba muôn năm ngàn môn Tam muội, Kim cang định v.v… bốn ngàn hai trăm môn Tam muội, vô lượng vô biên phương tiện Tam muội, những công đức trên đây là Phật tánh của Phật. Phật tánh này có bảy điều: Thường, lạc, ngã, tịnh, chơn, thật và thiện. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Này Thiện nam tử! Phật tánh của Bồ tát thân rốt sau có sáu điều: Thường, tịnh, chơn, thật, thiện và thiểu kiến. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Như trước kia ông hỏi: Người dứt mất căn lành có Phật tánh. Người này cũng có Phật tánh của Như Lai, cũng có Phật tánh của Bồ tát thân rốt sau. Hai Phật tánh này vì chướng ngại vị lai nên được gọi là không, vì rốt ráo sẽ được nên gọi là có. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Phật tánh của Như Lai chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai.

Phật tánh của Bồ tát thân rốt sau là hiện tại và vị lai: Vì có thể thấy phần ít nên gọi là hiện tại, vì chưa thấy đầy đủ nên gọi là vị lai.

Đức Như Lai lúc chưa chứng được Vô thượng Bồ đề, về nhơn Phật tánh cũng là quá khứ, hiện tại và vị lai. Về quả Phật tánh thời chẳng như vậy: Có là ba đời, có chẳng phải ba đời.

Phật tánh của Bồ tát thân rốt sau về nhơn cũng là ba đời, về quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Phật tánh của Cửu Trụ Bồ tát có sáu điều: Thường, thiện, chơn, thật, tịnh, khả kiến. Nhơn Phật tánh cũng là ba đời, quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà nói.

Bát Trụ Bồ tát xuống đến bực Lục Trụ, Phật tánh có năm điều: Chơn, thật, tịnh, thiện và khả kiến. Nhơn Phật tánh cũng là ba đời, quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Ngũ Trụ Bồ tát xuống đến bực Sơ Trụ, Phật tánh có năm điều: Chơn, thật, tịnh, khả kiến và thiện bất thiện.

Này Thiện nam tử! Năm thứ Phật tánh, sáu thứ Phật tánh, bảy thứ Phật tánh, người dứt mất căn lành quyết sẽ được nên gọi là có, đây gọi là phân biệt mà đáp.

Nếu nói rằng người dứt mất căn lành quyết định có Phật tánh quyết định không Phật tánh. Đây gọi là yên lặng mà đáp.

- Bạch Thế Tôn! Tôi nghe rằng chẳng đáp mới gọi là yên lặng mà đáp. Nay cớ gì đức Như Lai đáp mà lại gọi là yên lặng đáp?

- Này Thiện nam tử! Ta cũng chẳng nói ra, để đó chẳng giải đáp nên gọi là yên lặng mà đáp.

Này Thiện nam tử! Yên lặng đáp như vậy lại có hai thứ: Một là ngăn dứt, hai là chẳng chấp trước. Do nghĩa này nên được gọi là yên lặng đáp.



 
Author of this article: Thích Trí Tịnh

Show Other Articles Of This Author