22 | 11 | 2008
Kinh Pháp Hoa 0262 PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Niết Bàn và Pháp Hoa
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
Kinh Pháp Hoa 0262
Kinh Pháp Hoa Q. I
Kinh Pháp Hoa Q. II
Kinh Pháp Hoa Q. III
Kinh Pháp Hoa Q. IV
Kinh Pháp Hoa Q. V
Kinh Pháp Hoa Q. VI
Kinh Pháp Hoa Q. VII
Tất cả các trang

Tâm nguyện của Phật là tâm nguyện khắp độ chúng sanh đạt thành đạo quả giác ngộ. Bởi thế nên ngay quyển đầu của kinh về Phẩm Phương Tiện đã nói: "Phật ra đời là vì một nhơn duyên lớn duy nhất là khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật". Thế nghĩa là Phật rộng mở phương tiện pháp môn, chỉ bày chơn tâm Phật tánh để chúng sanh tin tưởng khả năng thánh thiện của mình mà tiến tu đến Phật quả.

Phương tiện của Phật là phương tiện huyền diệu được sanh trưởng và dinh dưỡng bởi trí tuệ từ bi hỷ xả lợi tha có khả năng đưa tất cả chúng sanh đồng chứng nhất thừa Phật quả. Ðức Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành, nếu chúng sanh tinh tấn nỗ lực tu hành thì cũng sẽ thành Phật như ta vậy. Nhưng chúng sanh đắm chìm trong ngũ dục lạc, nên tạo nhiều tội lỗi để rồi hiện thành căn tánh cao thấp, nghiệp duyên nặng nhẹ khác nhau. Ðức Phật lại phải từ đó mà lập ra có muôn ngàn phương tiện để hóa độ. Nghĩa là từ nhứt thượng thừa mà đức Phật đã phải phương tiện huyền khai làm thành ba thừa để rồi sau đó, khi căn tánh chúng sanh thuần thục Ngài lại dần dần đưa lên nhứt thừa Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Hai mươi tám phẩm Kinh Pháp Hoa chan chứa tâm hạnh của Phật và Ðại Bồ Tát, trải dài những con đường phương tiện giáo hóa thênh thang ngõ hầu mang chúng sanh từ phàm đến thánh, từ tam thừa Thinh Văn Duyên Giác và Bồ Tát đến quả vị nhứt thừa vô thượng Phật quả.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập

Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội . PL 2545. DL 2001

(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 9, Pháp Hoa bộ, số hiệu 262, bảy quyển, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Diêu Tần Cưu Ma La Thập dịch. Nguyên bản tiếng Việt không có mục lục, chúng tôi thêm phần mục lục. Ngoài ra có rất nhiều bản dịch toàn kinh cũng như dịch từng phẩm riêng rẻ trong tập 9 của CTTĐT.)

Mục Lục:

Nghi Khai Kinh

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Nhất

Gồm 2 phẩm:

1/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tựa” Thứ Nhất

2/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phương Tiện” Thứ Hai

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Hai

Gồm 2 phẩm:

3/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thí Dụ” Thứ Ba

4/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tín Giải” Thứ Tư

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Ba

Gồm 3 phẩm:

4/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Thảo Dụ” Thứ Năm

6/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thọ Ký” Thứ Sáu

7/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hóa Thành Dụ” Thứ Bảy

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Tư

Gồm 6 phẩm:

8/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký” Thứ Tám

9/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thụ Học Vô Học Nhân Ký” Thứ Chín

10/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư” Thứ Mười

11/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hiện Bửu Tháp” Thứ Mười Một

12/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðề Bà Ðạt Ða” Thứ Mười Hai

13/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Trì” Thứ Mười Ba

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Năm

Gồm 4 phẩm:

14/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “An Lạc Hạnh” Thứ Mười Bốn

15/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùng Ðịa Dũng Xuất” Thứ Mười Lăm

16/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thọ Lượng” Thứ Mười Sáu

17/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phân Biệt Công Ðức” Thứ Mười Bảy

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Sáu

Gồm 6 phẩm:

18/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùy Hỉ Công Ðức” Thứ Mười Tám

19/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư Công Ðức” Thứ Mười Chín

20/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thường Bất Khinh Bồ tát” Thứ Hai Mươi

21/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thần Lực” Thứ Hai Mươi Mốt

22/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Chúc Lụy” Thứ Hai Mươi Hai

23/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Vương Bồ tát Bổn Sự” Thứ Hai Mươi Ba

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Bảy

Gồm 5 phẩm:

24/ Phẩm “Diệu Âm” Thứ Hai Mươi Bốn

25/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn” Thứ Hai Mươi Lăm

26/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðà La Ni” Thứ Hai Mươi Sáu

27/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương bổn sự” Thứ Hai Mươi Bảy

28/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát” Thứ Hai Mươi Tám

Nghi Hồi Hướng

Nghi Khai Kinh

Nghi Thức Sám hối Trước Khi Tụng Kinh

(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải Sám hối, Sám hối tức là làm cho 3 nghiệp thanh tịnh)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật. (1 lạy)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp. (1 lạy)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

(Quì, tay cầm hương cúng dường phát nguyện)

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cõi

Cúng dường tất cả Phật.

Tôn Pháp, các Bồ tát,

Vô biên chúng Thanh văn

Và cả thảy Thánh hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô biên cõi,

Khắp xông các chúng sanh

Ðều phát lòng Bồ đề,

Xa lìa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo Vô thượng.

(cầm hương lạy 1 lạy)

(Ðứng chắp tay xướng)

Sắc thân Như Lai đẹp

Trong đời không ai bằng

Không sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô tận

Trí tuệ Phật cũng thế

Tất cả Pháp thường trụ

Cho nên con về nương.

Sức trí lớn nguyện lớn

Khắp độ chúng quần sanh

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sanh kia nước mát vui.

Con nay sạch ba nghiệp

Qui y và lễ tán

Nguyện cùng các chúng sanh

Ðồng sanh nước An Lạc.

Án phạ nhựt ra vật. (7 lần)

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

(Câu này thông cả 9 câu dưới, đều xướng ở đầu câu)

Thường tịch quang Tịnh độ

A Di Ðà Như Lai

Pháp thân mầu thanh tịnh

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Thật báo trang nghiêm độ

A Di Ðà Như Lai

Thân tướng hải vi trần

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Phương tiện thánh cư độ

A Di Ðà Như Lai

Thân trang nghiêm giải thoát

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

A Di Ðà Như Lai

Thân căn giới Đại thừa

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

A Di Ðà Như Lai

Thân hóa đến mười phương

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Giáo hạnh lý ba kinh

Tột nói bày ý chánh

Khắp pháp giới Tôn Pháp. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Quán thế Âm Bồ tát

Thân tử kim muôn ức

Khắp pháp giới Bồ tát. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Ðại Thế Chí Bồ tát

Thân trí sáng vô biên

Khắp pháp giới Bồ tát. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Thanh tịnh đại hải chúng

Thân hai nghiêm: Phước, trí

Khắp pháp giới Thánh chúng. (1 lạy)

(Ðứng chắp tay nguyện)

Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng (1) nên qui mạng (2) Sám hối(3)

(1 lạy quỳ chắp tay Sám hối)

Chí Tâm Sám hối:

Ðệ tử... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu soi tất cả lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.

Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chằng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhân duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6) trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi.

Kinh rằng: “Ðức Tỳ Lô Giá Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô minh, vì thế trong trí Bồ đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các đức Phật và A Di Ðà Thế Tôn mà pháp lồ (7) Sám hối làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.

Ðệ tử Sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh độ khắp với chúng sinh, đồng sanh về nước An Dưỡng.

Nguyện đức A Di Ðà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhân duyên Tịnh độ, đến giờ lâm chung, thân an niệm chánh, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A Di Ðà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Ðệ tử Sám hối phát nguyện rồi qui mạng đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Ðà Như Lai, biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) (lạy xong tiếp Nghi Thức tụng kinh )

Thích Nghĩa Sám Pháp

(1) Phiền não, nghiệp nhân, quả báo ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi: “Ba món chướng.”

(2) Ðem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng chính là nghĩa của hai chữ “Nam mô”.

(3) Nói đủ là Sám ma hối quá. “Sám ma” là tiếng Phạm, nghĩa là “hối quá”, tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.

(4) Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý: sáu căn, và ba nghiệp: thân, khẩu, ý.

(5) Giết cha, giết mẹ, giết thánh nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, gọi là năm tội Nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô gián nên gọi là tội Vô gián Địa ngục. Vô gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.

(6) A tu la, Súc sanh, Ngạ quỉ, Ðịa ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.

(7) Bày lộ tội lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú tàng (che giấu). Có phát lồ thời tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).

Nghi Thức Trì Tụng

Bài Tán Lư Hương:

Lò hương vừa nhen nhúm

Pháp giới đã được xông

Các Phật trong hải hội đều xa hay

Theo chỗ kết mây lành

Lòng thành mới ân cần

Các Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Chân Ngôn Tịnh Pháp Giới:

Án lam (7 lần)

(Trì chú này thì thân tâm, cảnh vật đều thanh tịnh)

Chân Ngôn Tịnh Khẩu Nghiệp:

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị Ta bà ha. (7 lần)

(Trì chú này thì hơi miệng trong sạch)

Chân Ngôn Tịnh Ba Nghiệp:

Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Trì chú này thì thân miệng lòng đều trong sạch)

Chân Ngôn Phổ Cúng Dường:

Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

(Trì chú này thì hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường cả mười phương)

Văn Phát Nguyện:

Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo. (3 lần)

Cúi lạy đấng Tam giới Tôn,

Qui mạng cùng mười phương Phật

Con nay phát nguyện rộng

Thọ trì kinh Pháp Hoa

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ (Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục)

Nếu có kẻ thấy nghe

Ðều phát lòng Bồ đề

Hết một báo thân này

Sanh qua cõi Cực Lạc.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

Bài Khai Kinh

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng

Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp

Con nay nghe thấy được thọ trì

Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai.

Bài Khen Ngợi Kinh

Hơn sáu muôn lời, thành bảy cuốn

Rộng chứa đựng vô biên nghĩa mầu

Trong cổ nước cam lộ rịn nhuần

Trong miệng chất đề hồ nhỏ mát

Bên răng ngọc trắng tuôn Xá lợi

Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang

Dầu cho tạo tội hơn núi cả

Chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)




Related news items: