| Kinh Đại Bảo Tích, Thích Trị Tịnh, Lời nói đầu, Mục lục toàn tập |
|
|
|
| Kinh bộ bắc truyền - Kinh Đại Bảo Tích | |
| Viết bởi Thích Trí Tịnh | |
|
Mục lục-lời nói đầu, Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, Chương 5, Chương 6, Chương 7, Chương 8, Chương 9, Chương 10, Chương 11, Chương 12, Chương 13-15, Chương 16, Chương 17, Chương 18, Chương 19-22, Chương 23-25, Chương 26-35, Chương 36-40, Chương 41-48, Chương 49-51 Chương 52-54, Chương 55-56, Chương 57-59, Chương 60 hết Kinh Đại Bảo TíchViệt dịch: Hòa thượng Thích Trí Tịnh(Trọn bộ 9 tập)Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành – PL. 2538 – DL. 1994(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập 11, Đại Bảo Tích Bộ , số hiệu 0278 , 120 quyển, Đại Bảo Tích Kinh, Đường Bồ Đề Lưu Chi dịch dịch. Kinh Đại bảo Tích chúng tôi dò theo bộ mới tái bản gồm 9 tập. Để tiện gởi lên mạng chúng tôi gởi riêng từng chương, các bạn có thể hạ tải bộ nguyên thủy font vni và bộ bốn tập chúng tôi đã dò tại http://daitangkinhvietnam.org/hatai/kinhdaibaotich Nhân đây xin chân thành cảm ơn một người ẩn danh đã gởi tặng. bttdtkvn) Mục Lục Toàn TậpLời Nói Đầu Của Dịch GiảNghi Thức Trì Tụng Mục Lục Tập I Chương I: Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi - Thứ Nhứt Chương II: Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm - Thứ Hai Phẩm Vô Thượng Đà La Ni – Thứ Nhứt Phẩm Xuất Ly Đà La Ni – Thứ Hai Phẩm Thanh Tịnh Đà La Ni – Thứ Ba Chương III: Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ - Thứ Ba Chương IV: Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử - Thứ Tư Chương V: Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai - Thứ Năm Mục Lục Tập II Chương VI: Pháp Hội Bất Động Như Lai - Thứ Sáu Phẩm Thọ Ký Trang Nghiêm – Thứ Nhứt Phẩm Phật Sát Trang Nghiêm – Thứ Hai Phẩm Thanh Văn Chúng – Thứ Ba Phẩm Bồ Tát Chúng – Thứ Tư Phẩm Niết Bàn Công Đức Trang Nghiêm – Thứ Năm Phẩm Nhơn Duyên Vãng Sanh – Thứ Sáu Chương VII: Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm - Thứ Bảy Chương VIII: Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt- Thứ Tám Chương IX: Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp - Thứ Chín Chương X: Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn - Thứ Mười Chương XI: Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh - Thứ Mười Một Mục Lục Tập IIi Chương XII: Pháp Hội Bồ Tát Tạng - Thứ Mười Hai Phẩm Khai Hóa Trưởng Giả - Thứ Nhất Phẩm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký - Thứ Hai Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát - Thứ Ba Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh - Thứ Tư Phẩm Tứ Vô Lượng - Thứ Năm Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa - Thứ Sáu Phẩm Thi La Ba La Mật - Thứ Bảy Phẩm Sằn Đề Ba La Mật - Thứ Tám Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật - Thứ Chín Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật - Thứ Mười Phẩm Bát Nhã Ba La Mật - Thứ Mười Một Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký - Thứ Mười Hai Mục Lục Tập Iv Chương XIII: Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thai - Thứ Mười Ba Chương XIV: Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng - Thứ Mười Bốn Chương XV: Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký - Thứ Mười Lăm Chương XVI: Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt - Thứ Mười Sáu Phẩm Tự - Thứ Nhất Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật – Thứ Hai Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký – Thứ Ba Phẩm Bổn Sự - Thứ Tư Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký – Thứ Năm Phẩm Long Nữ Thọ Ký – Thứ Sáu Phẩm Long Vương Thọ Ký – Thứ Bảy Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký – Thứ Tám Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký – Thứ Chín Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký – Thứ Mười Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký – Thứ Mười Một Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Hai Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký – Thứ Mười Ba Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Bốn Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Lăm Phẩm Đâu Suất Đà Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Sáu Phẩm Hóa Lạc Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Bảy Phẩm Tha Hóa Tự Tại Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Tám Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký – Thứ Mười Chín Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký – Thứ Hai Mươi Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký – Thứ Hai Mươi Mốt Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký – Thứ Hai Mươi Hai Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ - Thứ Hai Mươi Ba Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo – Thứ Hai Mươi Bốn Phẩm Lục Giới Sai Biệt – Thứ Hai Mươi Lăm Phẩm Tứ Chuyển Luân Vương – Thứ Hai Mươi Sáu Mục Lục Tập V Chương XVII: Pháp Hội Phú Lâu Na - Thứ Mười Bảy Phẩm Bồ Tát Hạnh – Thứ Nhứt Phẩm Đa Văn – Thứ Hai Phẩm Bất Thối – Thứ Ba Phẩm Cụ Thiện Căn – Thứ Tư Phẩm Thần Thông Lực – Thứ Năm Phẩm Đại Bi – Thứ Sáu Phẩm Đáp Nạn – Thứ Bảy Phẩm Phú Lâu Na – Thứ Tám Chương XVIII: Pháp Hội Hộ Quốc Bồ Tát - Thứ Mười Tám Chương XIX: Pháp Hội Úc Già Trưởng Giả - Thứ Mười Chín Chương XX: Pháp Hội Vô Tận Phục Tạng - Thứ Hai Mươi Chương XXI: Pháp Hội Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La - Thứ Hai Mươi Mốt Chương XXII: Pháp Hội Đại Thần Biến - Thứ Hai Mươi Hai Chương XXIII: Pháp Hội Ma Ha Ca Diếp - Thứ Hai Mươi Ba Chương XXIV: Pháp Hội Ưu Ba Ly - Thứ Hai Mươi Bốn Chương XXV: Pháp Hội Phát Thắng Chí Nguyện - Thứ Hai Mươi Lăm Mục Lục Tập VI Chương XXVI: Pháp Hội Thiện Tý Bồ Tát - Thứ Hai Mươi Sáu Chương XXVII: Pháp Hội Thiện Thuận Bồ Tát - Thứ Hai Mươi Bảy Chương XXVIII: Pháp Hội Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả - Thứ Hai Mươi Tám Chương XXIX: Pháp Hội Ưu Đà Diên Vương - Thứ Hai Mươi Chín Chương XXX: Pháp Hội Diệu Huệ Đồng Nữ - Thứ Ba Mươi Chương XXXI: Pháp Hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di - Thứ Ba Mươi Mốt Chương XXXII: Pháp Hội Vô Úy Đức Bồ Tát - Thứ Ba Mươi Hai Chương XXXIII: Pháp Hội Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện - Thứ Ba Mươi Ba Phẩm Tự - Thứ Nhất Phẩm Thanh Văn – Thứ Hai Phẩm Bồ Tát – Thứ Ba Phẩm Bồ Tát Hạnh – Thứ Tư Phẩm Thọ Ký – Thứ Năm Chương XXXIV: Pháp Hội Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát - Thứ Ba Mươi Bốn Chương XXXV: Pháp Hội Thiện Đức Thiên Tử - Thứ Ba Mươi Lăm Chương XXXVI: Pháp Hội Thiện Trụ Ý Thiên Tử - Thứ Ba Mươi Sáu Phẩm Duyên Khởi – Thứ Nhất Phẩm Khai Thiệt Nghĩa – Thứ Hai Phẩm Văn Thù Thần Biến – Thứ Ba Phẩm Phá Ma – Thứ Tư Phẩm Bồ Tát Thân Hành – Thứ Năm Phẩm Phá Bồ Tát Tướng – Thứ Sáu Phẩm Phá Nhị Thừa Tướng – Thứ Bảy Phẩm Phá Phàm Phu Tướng – Thứ Tám Phẩm Thần Thông Chứng Thuyết - Thứ Chín Phẩm Xưng Tán Phó Pháp – Thứ Mười Chương XXXVII: Pháp Hội A Xà Thế Vương Tử - Thứ Ba Mươi Bảy Chương XXXVIII: Pháp Hội Đại Thừa Phương Tiện - Thứ Ba Mươi Tám Chương XXXIX: Pháp Hội Hiền Hộ Trưởng Giả - Thứ Ba Mươi Chín Chương XL: Pháp Hội Tịnh Tín Đồng Nữ - Thứ Bốn Mươi Mục Lục Tập VII Chương XLI: Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp - Thứ Bốn Mươi Mốt Chương XLII: Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn - Thứ Bốn Mươi Hai Chương XLIII: Pháp Hội Phổ Minh Bồ Tát - Thứ Bốn Mươi Ba Chương XLIV: Pháp Hội Bửu Lương Tụ - Thứ Bốn Mươi Bốn Phẩm Sa Môn – Thứ Nhứt Phẩm Tỳ Kheo – Thứ Hai Phẩm Chiên Đà La Sa Môn – Thứ Ba Phẩm Doanh Sự Tỳ Kheo – Thứ Tư Phẩm A Lan Nhã Tỳ Kheo – Thứ Năm Phẩm Tỳ Kheo Khất Thực – Thứ Sáu Phẩm Phấn Tảo Y Tỳ Kheo – Thứ Bảy Chương XLV: Pháp Hội Vô Tận Huệ Bồ Tát - Thứ Bốn Mươi Lăm Chương LVI: Pháp Hội Văn Thù Thuyết Bát Nhã - Thứ Bốn Mươi Sáu Chương XLVII: Pháp Hội Bửu Kế Bồ Tát - Thứ Bốn Mươi Bảy Chương XLVIII: Pháp Hội Thắng Man Phu Nhơn - Thứ Bốn Mươi Tám Chương XLIV: Pháp Hội Quảng Bác Tiên Nhơn - Thứ Bốn Mươi Chín Chương L: Pháp Hội Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm - Thứ Năm Mươi Chương LI: Pháp Hội Tự Tại Vương Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Mốt Mục Lục Tập VIII Chương LII: Pháp Hội Bửu Nữ - Thứ Năm Mươi Hai Chương LIII: Pháp Hội Bất Thuấn Bồ Tát – Thứ Năm Mươi Ba Chương LIV: Pháp Hội Hải Huệ Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Bốn Chương LV: Pháp Hội Hư Không Tạng Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Lăm Chương LVI: Pháp Hội Vô Ngôn Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Sáu Mục Lục Tập IX Chương LVII: Pháp Hội Bất Khả Thuyết Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Bảy Chương LVIII: Pháp Hội Bửu Tràng - Thứ Năm Mươi Tám Chương LIX: Pháp Hội Hư Không Mục - Thứ Năm Mươi Chín Chương LX: Pháp Hội Nhựt Mật Bồ Tát - Thứ Sáu Mươi Chương LXI: Pháp Hội Vô Tận Ý Bồ Tát - Thứ Sáu Mươi Mốt Chương LXII: Pháp Hội Quán Vô Lượng Thọ Phật - Thứ Sáu Mươi Hai. LỜI GHI NHẬN SAU KINH CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢTrong khế kinh, Đức Phật nói: "Chỉ vì một đại sự nhơn duyên mà Đức Phật xuất hiện thế gian, đó là muốn mọi người, mọi chúng sanh đều thành Phật đồng như Đức Phật”. Lời Đức Phật thật đơn giản, mà ý nghĩa thật tột cùng sâu rộng. Trong lời đó có nghĩa cứu cánh bình đẳng. Phật và chúng sanh không có sai khác. Còn có nghĩa là hiện tại mỗi chúng sanh đều có đủ tánh đức đồng như Phật. Cũng có nghĩa là nếu chúng sanh có lòng tin thanh tịnh, y giáo phụng hành thì quyết sẽ thành Phật, như trong Đại thừa Kinh thường có câu, chính Đức Phật dạy: "Các người là Phật sẽ thành, còn chư Phật là Phật đã thành”. Vì thấy rõ tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật nên Đức Phật ra đời, dùng thân khẩu truyền cho đời những phương cách, nhập pháp môn làm điều kiện cụ thể để bước lên đường Phật, để rồi đến quả Phật. Những phương pháp cụ thể đó gọi là Phật Pháp. Vì các chúng sanh căn không đồng nhau, tánh không đồng nhau, ý thích cùng sự mong muốn v.v... cũng không đồng nhau, nên Đức Phật phải theo cơ mà dạy rất nhiều pháp môn, nên phải dùng từ "Vô lượng pháp môn”. Dầu là vô lượng nhưng nếu mỗi chúng sanh y theo một pháp môn, đúng với tâm tánh thích muốn của chính mình rồi, quyết tâm hiểu rõ hành trì thật đúng thật bền, thật sâu, thì nhất định đạt thành đạo quả. Như trên nói: “Mọi chúng sanh đều có đủ đức tánh đồng như Phật chỉ vì điên đảo vọng tưởng hư vọng phân biệt, dục tham phiền não che chướng nên những tánh đức trong sáng sẵn có ấy không hiện thật”. Tất cả pháp môn của Đức Phật dạy, những phương pháp mà Đức Phật lúc hành đạo đã thật hành, đã hiểu rõ, đã kinh nghiệm và do đó đã đạt kết quả cứu cánh, nay đem truyền dạy lại cho mọi người, đều nhằm vào việc phải trừ những đảo tưởng phân biệt, dục tham phiền não, để cho tánh đức sẵn có phát hiện tác dụng. Vì đó là sẵn có nên Đức Phật tự nói: "Ta không có một chút pháp gì để thành Vô thượng Bồ đề cả”. Phật pháp là phương tiện đưa người vào đạo, là liều thuốc chữa trị bịnh hư vọng phiền não, là cách thức rửa lau những đảo tưởng như lau bụi trên mặt gương, mà tuyệt đối không có chút gì là có, là được, vì đạo là tánh đức sẵn đủ vậy. Phật pháp vô lượng môn cô đọng lại trong ba môn vô lậu: Giới, Định và Huệ. Vô lậu giới để phòng ngừa, để ngăn đảo vọng. Vô lậu định để chận đứng, để đối trừ "đảo vọng”. Vô lậu huệ dứt sạch đảo vọng. Và tùy theo giai đoạn mà đảo vọng từng phần được dứt trừ, thì tánh đức sẵn có của hành giả cũng từng phần thể hiện, đó là các bực Hiền, các bực Thánh, các bực Bồ tát. Cho đến lúc tất cả đảo vọng sạch trọn vẹn, thì tánh đức thể hiện trọn vẹn, đó là quả Phật, là thành Phật. Trong bộ Kinh Đại Bảo Tích này, nội dung không ngoài những điều đã nêu ở trên, dầu là rất nhiều, rất rộng. Trong thập niên năm mươi, tôi được đọc tụng bộ Kinh này từ bổn sách của Bắc bộ Việt Mãi đến năm 1979 mới hoàn thành bộ Việt văn, và đến nay ngót mười năm mới có đủ duyên để được đem ra ấn hành lần đầu tiên. Mong rằng sự ấn loát và lưu hành đều tốt đẹp như ý muốn. Cầu nguyện tất cả mọi người, mọi thí chủ, hoặc thiện chí hoặc công sức hoặc tịnh tài, đều tròn đầy phước lạc. Viết tại chùa Vạn Đức, Thủ Đức Mùa An Cư, ngày Phật Lịch 2531 Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Phụ chú: Bộ Đại Bửu Tích kinh này vào những năm 1987-1988-1989 được ấn hành lần đầu tiên. Vì sự sơ sót của ban ấn loát nên có rất nhiều sai sót chẳng những chư độc giả không hài lòng mà mỗi khi nhớ đến lòng tôi luôn ray rứt. May mắn thay vào đầu năm nay có cư sĩ Bảo Đăng phát tâm Bồ đề khởi sướng tái bản, đem nguyên bản thảo chụp ảnh giao cho ban ấn loát để mong khỏi sai sót trong lần in lại này. Tôi mò mẫm với đôi mắt đã bệnh lòa chép lại lời nói đầu và thêm phần phụ chú đây trong niềm vui mừng vô hạn với lần tái bản đúng y nguyên bản thảo mà tôi đã mấy năm mong muốn. Cầu nguyện cho người phát khởi cũng như toàn ban ấn loát, tất cả thí chủ được vô lượng công đức Pháp Thí. Chùa Vạn Đức, ngày rằm tháng sáu Qúi Dậu 1993 Hòa Thượng Thích Trí Tịnh LỜI GHI NHẬN SAU KINH CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCHTôi từ bé đôi mắt đã bịnh yếu lại thêm càng ngày càng cận. Lúc tôi cầm viết ghi mấy dòng này là lúc đôi mắt đã bịnh nhiều suốt hơn một năm, kể từ đầu tháng Tám năm ngoái, năm Mậu Thìn (1988), nay nhìn chữ chỉ thấy lờ mờ. Hồi nhớ lại từ ngày vào đạo, theo nghĩa thế tục, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, luôn luôn lấy việc học kinh, tụng kinh, niệm Phật, dạy kinh, giảng kinh và phiên dịch kinh từ Hán tạng ra Việt văn làm chánh hạnh của đời mình. Năm 1947, bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh đầu tiên được ấn hành, kế đến là Phổ Hiền Hạnh Nguyện, bộ Tam Bảo, bộ kinh Địa Tạng Bổn Nguyện v.v... Đến năm 1953 bộ Đường Về Cực Lạc hai tập được ra đời, do bộ này mà hai năm sau, năm 1955, hội Cực Lạc Liên Hữu được thành lập, lấy chùa Vạn Đức ở Thủ Đức làm trung tâm và ngày mùng Sáu tháng Tám, ngày khánh lễ Tổ Huệ Viễn là ngày đại hội thường niên. Nhớ lại biết bao đạo tình đạo nghĩa của bao nhiêu Hòa thượng, Thượng tọa, Ni sư, Đại đức, Sư cô, bao nhiêu Tăng Ni cùng các Đạo hữu Cư sĩ từ các tỉnh miền Nam nước Việt, có cả các vị từ Nam Vang (Cambodge) cũng về dự đại hội, tiếng niệm hồng danh đức Phật, sổ ghi công đức niệm Phật được lan rộng gần xa... Tôi ghi vài dòng trên đây là có ý ghi lại ảnh hưởng của bộ Đường về Cực Lạc. Rồi các năm sau, những bộ kinh khác do tôi phiên dịch được tiếp tục ấn hành, như là bộ kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh Đại Bát Niết Bàn, bộ kinh Đại Bát Nhã. Những năm 1970, tôi dịch xong bộ kinh Đại Bửu Tích, và mãi đến năm 1987 mới được bắt đầu ấn hành. Vì những năm trước đó điều kiện ấn hành không được thuận lợi, nên cũng làm uể oải tinh thần dịch kinh, nên tôi không sốt sắng phiên dịch thêm, để thời gian quí báu tuần tự trôi qua trong lúc tuổi già thật là điều đáng tiếc. Nhờ vào sự ấn hành bộ kinh Đại Bửu Tích, thúc đẩy tôi phấn khởi, nên trong ba tháng liền an cư năm 1988, tôi dịch xong bộ kinh Đại Tập, và nó được ấn hành tiếp nối bộ kinh Đại Bửu Tích, muốn được thuận lợi, tôi vẫn đề là kinh Đại Bửu Tích, Hán tạng bộ Hạ. Bộ kinh Đại Bửu Tích Hán văn được lưu hành từ xưa nay, vì thể theo ba môn Vô lậu học Giới Định Huệ, nên Ngài Bồ Đề Lưu Chí để pháp hội Tam Tụ Tịnh Giới ở đầu bộ kinh. Bộ Việt văn này, tôi thể theo Tam bảo Phật Pháp Tăng nên tôi để pháp hội Vô Lượng Thọ Phật khởi đầu, và cũng có ý muốn cho người đọc lúc mở kinh ra đã kết duyên với đức Phật A Di Đà, đức Phật đã được giới thiệu trong nhiều bộ kinh Đại thừa, và cũng là hồng danh mà phần lớn Phật tử ta luôn trì niệm. Nếu các pháp hữu muốn so với bộ Hán văn, chỉ giản đơn sửa tập I Việt văn thành tập II, và sửa tập Việt văn tập II thành tập I là hai bộ Hán và Việt ăn khớp nhau. Nội dung bộ Đại Bửu Tích Hán văn đến pháp hội Quảng Bác Tiên Nhơn là hết, nhưng hết với nửa chừng. Trong bộ Việt văn này, tôi sưu tầm trong Đại tạng, bổ sung phần cuối trọn vẹn cho pháp hội này. Và cũng từ Đại tạng tôi dịch thêm pháp hội Diệu Cát Tường Bồ Tát. Tiếp theo đó, nếu các pháp hữu thấy pháp hội nào có câu đức Phật ngự tại giữa khoảng cõi Dục và cõi Sắc trong Đại Bửu Phường Đình thì đó chính là kinh Đại Tập. Cũng từ trong Đại tạng, tôi phiên dịch thêm pháp hội Vô Tận Ý Bồ tát nối sau bộ kinh Đại Tập Hán văn đã lưu hành và để kết thúc toàn bộ kinh Đại Bửu Tích Việt văn, tôi đặt pháp hội Quán Vô Lượng Thọ Phật. Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chân thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại vài dòng này, chính tôi, phải chính tôi, không dám ngửng mặt tự xưng là Tỳ kheo chân chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới. Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ tát. Chùa Vạn Đức, ngày Trùng Cửu Năm Kỷ Tỵ ( THÍCH TRÍ TỊNH Cẩn chí. NGHI THỨC TRÌ TỤNGBÀI TÁN LƯ HƯƠNG Lư hương vừa ngún chiên đàn, Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa, Lòng con kính ngưỡng thiết tha, Ngửa mong chư Phật thương mà chứng minh. CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI: Án lam. (7 lần) CHƠN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP: Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta bà ha. (3 lần) CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP: Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám. (3 lần) CHƠN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần) BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN Lạy đấng Tam Giới Tôn, Quy mạng mười phương Phật, Nay con phát nguyện lớn, Trì tụng kinh Bảo Tích, Trên đền bốn ơn nặng, Dưới cứu khổ tam đồ, Nếu có ai thấy nghe, Đều phát Bồ đề tâm, Khi mãn báo thân này, Sanh qua cõi Cực Lạc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) BÀI KỆ KHAI KINH Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu Nay con nghe thấy chuyên trì tụng Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Nam Mô Đại Bảo Tích Hội Thượng Phật Bồ tát Ma Ha Tát. (3 lần)
|


