|
Trang 1 của 10 ...Bản toát yếu này chỉ là những gì do tôi hiểu được qua lời kinh, vào một thời điểm nào đó mà thôi. Và tôi đã toát yếu để cho tự mình nhớ được chút ít những lời vàng ngọc của đức Thế Tôn, để tự tu tập cho bản thân mình. Bởi thế người đọc hoàn toàn không thể bỏ qua bản gốc của Hòa thượng Thích Minh Châu đã dày công phiên dịch. Nếu đọc toát yếu này mà bỏ qua Kinh gốc thì cũng như bỏ đại dương để lấy vài giọt nước muối.
Vậy, sau hết và trước hết, bản toát yếu này chỉ là một tập sách giúp trí nhớ cho những ai đã nhiều lần nghiền ngẫm Kinh Trung bộ, và có thể họ đã toát yếu một cách khác, thì sách này sẽ bổ túc cho trí nhớ của họ. Những người mới đọc Kinh Trung bộ lần đầu, thì qua toát yếu này sẽ nắm được vài ý để hướng dẫn mình trên đường tu tập chứ không chỉ là “chuyên ký danh ngôn” vì kỳ thực Phật không dạy điều gì nếu không phải để đưa người đến chuyển mê khai ngộ.
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển II
Dịch giả: Hòa thượng Thích Minh Châu
Tóm tắt & chú giải: Ni sư Thích Nữ Trí Hải
Bản Anh ngữ tóm tắt: Hòa thượng Nanamoli
Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2546 – DL. 2002
Mục Lục Quyển II
51. Kinh Kandaraka
52. Kinh Bát Thành
53. Kinh Hữu Học
54. Kinh Potaliya
55. Kinh Jivaka
56. Kinh Ưu Ba Ly
57. Kinh Hạnh Con Chó
58. Kinh Vương Tử Vô Úy
59. Kinh Nhiều Cảm Thọ
60. Kinh Không Gì Chuyển Hướng
61. Kinh Giáo Giới La Hầu La ở Am Bà La
62. Ðại Kinh Giáo Giới La Hầu La
63. Tiểu Kinh Malunkyaputta
64. Ðại Kinh Malunkyaputta
65. Kinh Bhaddali
66. Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy
67. Kinh Catuma
68. Kinh Nalakapana
69. Kinh Gulissani
70. Kinh Kitagiri
71. Kinh Vacchagotta Về Tam Minh
72. Kinh Vacchagotta Về Lửa
73. Ðại Kinh Vacchagotta
74. Kinh Trường Trảo
75. Kinh Magandiya
76. Kinh Sandaka
77. Ðại Kinh Sakuludayi
78. Kinh Samanamandika
79. Tiểu Kinh Sakuludayi
80. Kinh Vekhanassa
81. Kinh Ghatikara
82. Kinh Ratthapala
83. Kinh Makhadeva
84. Kinh Madhura
85. Kinh Vương Tử Bồ Đề
86. Kinh Angulimala
87. Kinh Ái Sanh
88. Kinh Bahitika
89. Kinh Pháp Trang Nghiêm
90. Kinh Kannakatthala
91. Kinh Brahmayu
92. Kinh Sela
93. Kinh Assalayana
94. Kinh Ghotamukha
95. Kinh Canki
96. Kinh Esukari
97. Kinh Dhananjani
98. Kinh Vasettha
99. Kinh Subha
100. Kinh Sangarava
Tri Ân
Kính lễ Đức Như Lai, bậc A La Hán Chính Đẳng Giác.
Kính lễ Hòa thượng (Thượng) Minh (Hạ) Châu phiên dịch Nikàya.
Kính lễ Đại đức Nanamoli và Bodhi cùng chư vị luận sư Nikàya mà con tham khảo.
Xin gia bị cho con diễn dịch không lạc xa Thánh ý.
Xin cho Pháp bảo này ai được đọc sẽ xa lìa kiến chấp, phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nguyện cho con được như Phật, “vị hữu tình sinh ra đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho nhân loại và chư thiên”.
Mỗi kinh gồm năm phần:
I. Toát yếu bằng Anh ngữ của Nanamoli và dịch.
II. Tóm tắt.
III. Chú giải theo luận giải kinh Trung bộ, bản Anh ngữ của hai Đại đức Nanamoli và Bodhi.
IV. Pháp số liên hệ.
V. Kệ học thuộc lòng.
Ghi Chú Quan Trọng
Ba tập toát yếu kinh Trung bộ I, II và III này, tôi đã làm ít nhất ba lần, và mỗi lần đều làm sau khi đã đọc kỹ bản dịch của Hòa thượng. Thế nhưng mỗi lần tôi đều toát yếu một cách khác, nhất là sau khi được đọc bản phiên dịch và chú thích bằng Anh ngữ của Đại đức Nanamoli và Mahabodhi. Như vậy đủ biết, những lời Phật dạy như núi cao, biển cả, mà sự học hiểu của mình chỉ như một cái xẻng đào đất hay cái muỗng múc canh, mỗi lúc chỉ lấy được một ít và rất phiến diện. Bởi thế mà Hòa thượng thường dạy, Ngài không bao giờ “giải thích” lời Phật dạy, mà chỉ cố gắng dịch cho đúng nguyên văn của Người xưa dù có tối nghĩa đến đâu. Đấy là cái đức khiêm cung của Ngài, trong vô số đức tính mà tôi ngưỡng mộ.
Mình là ai mà dám toát yếu lời Phật dạy? Lỡ mình để tuột mất cái điểm cốt yếu trong lời Ngài dạy thì sao? Như vậy sẽ mang tội lớn với Phật, với Thầy, Tổ. Bởi vậy, ngày càng tôi càng miễn cưỡng trong việc phổ biến ba tập toát yếu này, vì sợ công ít mà tội nhiều. Khi làm xong tập thứ hai, đem khoe Thầy Chơn Thiện, Thầy phán rằng: “Kinh không bao giờ nên tóm tắt”. Tôi giật mình, và bỏ dở công việc gần hai năm trời, mặc dù đã gần xong tập cuối, đến kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Sau đó, anh Hồ Hồng Phước ở Luân Đôn, người thường gửi cho tôi những sách Phật học bằng Anh ngữ mới xuất bản tại nước ngoài, thúc giục tôi gởi sang tiếp vì có người đã hào hứng in ra biếu không hai tập đầu. Thế là tôi lại hăng hái tiếp tục!
Mỗi kinh do Tôn giả Ananda trùng tuyên đều bắt đầu với câu “Tôi nghe như vầy”, mà không nói “Đức Phật đã dạy như vầy” điều ấy rất đáng bắt chước. Vì tôi là ai mà dám làm phát ngôn nhân cho Phật? Lỡ Phật nói một đường, tôi nghe một nẻo thì sao? Cho nên đây chỉ là theo như tôi được nghe, chứ không phải theo như lời Phật dạy.
Bản toát yếu này cũng thế, đây chỉ là những gì do tôi hiểu được qua lời kinh, vào một thời điểm nào đó mà thôi. Và tôi đã toát yếu để cho tự mình nhớ được chút ít những lời vàng ngọc của đức Thế Tôn, để tự tu tập cho bản thân mình. Bởi thế người đọc hoàn toàn không thể bỏ qua bản gốc của Hòa thượng Thích Minh Châu đã dày công phiên dịch. Nếu đọc toát yếu này mà bỏ qua Kinh gốc thì cũng như bỏ đại dương để lấy vài giọt nước muối.
Vậy, sau hết và trước hết, bản toát yếu này chỉ là một tập sách giúp trí nhớ cho những ai đã nhiều lần nghiền ngẫm Kinh Trung bộ, và có thể họ đã toát yếu một cách khác, thì sách này sẽ bổ túc cho trí nhớ của họ. Những người mới đọc Kinh Trung bộ lần đầu, thì qua toát yếu này sẽ nắm được vài ý để hướng dẫn mình trên đường tu tập chứ không chỉ là “chuyên ký danh ngôn” vì kỳ thực Phật không dạy điều gì nếu không phải để đưa người đến chuyển mê khai ngộ.
Xin dâng lên Hòa thượng lòng tri ân vô bờ bến.
Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 51: Kinh Kandaraka
I. Toát Yếu
Kandaraka Sutta - To Kandaraka.
The Buddha discusses four kinds of persons found in the world - the one who torments himself, the one who torments others, the one who torments both himself and others, and the one who torments neither but lives a truly holy life.
Kinh Nói Cho Kandaraka.
Phật bàn đến bốn hạng người được tìm thấy trên đời: hạng người tự hành khổ, hạng người hành khổ người, hạng vừa tự hành khổ vừa hành khổ người, hạng không tự hành khổ, không hành khổ người mà lại sống một đời thực Thánh thiện.
II. Tóm Tắt
Du sĩ Kandaraka cùng Cư sĩ Pessa con trai người huấn luyện voi, đến yết kiến Phật. Quan sát sự thanh tịnh của chúng Tỳ kheo (1), du sĩ ca tụng Phật khéo hướng dẫn, và hỏi chư Phật trong quá khứ, tương lai có được những chúng Tỳ kheo thanh tịnh như hiện nay không (2). Phật xác nhận là có, trong chúng Tỳ kheo này, có vị là A la hán lậu tận, việc tu hành đã thành mãn; có vị là bậc Hữu học khéo kiên trì giới luật, luôn an trú Bốn niệm xứ (3) để nhiếp phục tham ưu ở đời.
Pessa công nhận sự vi diệu của pháp tu này, vì thỉnh thoảng ông cũng tu quán bốn niệm xứ (4). Ông tán thán Phật đã thấu hiểu về hạnh phúc và bất hạnh của chúng sinh. Với tư cách người huấn luyện voi, Pessa nhận xét rằng con voi có khi cũng quỷ quyệt nhưng không bằng người; con người quả thực rắc rối hơn loài thú (5), miệng nói khác, lòng nghĩ khác. Phật dạy thật có như vậy, và đề cập bốn hạng người (6) sống ở đời: hạng tự hành khổ, hạng làm khổ người, hạng làm khổ cả hai, hạng không làm khổ mình không làm khổ người, tự ngã trú vào Phạm thể (7).
Phật hỏi trong bốn hạng, Pessa thích ý hạng nào. Cư sĩ trả lời ba hạng đầu không đáng thích ý, chỉ có hạng thứ tư làm ông khoái. Nói xong ông từ giã Phật vì còn bận nhiều công việc.
Khi Pessa bỏ đi, Phật bảo chúng Tỳ kheo rằng, giá mà Pessa ở lại thêm chốc lát, ông sẽ được lợi ích lớn, tuy vậy ông cũng đã khá được ích lợi từ cuộc luận đàm ngắn ngủi ấy (8). Kế đến Phật giảng rộng cho chúng Tỳ kheo về 4 hạng người:
hạng tự hành mình là những kẻ tu khổ hạnh (9) không đưa đến giải thoát.
hạng làm khổ kẻ khác là người hành những nghề nghiệp gây đau khổ cho người và vật.
hạng tự làm khổ và làm khổ người là kẻ theo ác giới (10).
hạng không làm khổ mình không làm khổ người là những vị xuất gia thành tựu giới, từ bỏ các nghiệp ác của thân, lời, hộ trì căn, tu 4 niệm xứ, chứng 4 Thiền và 3 minh, thành bậc A la hán (11).
III. Chú Giải
1. Kinh sớ: Vì tôn trọng Phật và theo luật, Tỳ kheo không nói chuyện với nhau cũng không dám ho mỗi khi Phật thuyết pháp. Thân không giao động, tâm không xao lãng, họ ngồi vây quanh đức Thế Tôn như những cụm mây vây quanh đỉnh núi Tu di. Du sĩ Kandaraka có lẽ thầm so sánh hội chúng Tỳ kheo này với các hội chúng du sĩ được mô tả trong kinh 76.
2. Theo kinh sớ, Kandaraka không có tri kiến về chư Phật quá khứ vị lai. Ông chỉ nói lên lời này để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với chúng Tỳ kheo thanh tịnh, khéo được hướng dẫn. Nhưng Phật thì xác nhận lời của du sĩ trên căn bản thắng trí của Ngài.
3. Bốn niệm xứ được đưa vào đây để chỉ rõ nguyên nhân uy nghi tịch tịnh của Tăng chúng. Xem kinh số 10.
4. "Chúng con cũng vậy, khi có cơ hội, chúng con cũng tu tập tứ niệm xứ; chúng con không hoàn toàn xao lãng Thiền định."
5. Lời này ngụ ý rằng con vật đôi khi cũng láu cá và lừa bịp, nhưng sự khôn lanh của nó rất giới hạn, trong khi sự khôn lanh của con người thì vô cùng tận.
6. Luận giải thích đoạn này được nói để tiếp theo lời Pessa rằng đức Thế Tôn biết rõ gì là an lạc gì là nguy hiểm cho hữu tình; vì Phật hiển thị 3 hạng người đầu hành xử đưa đến lợi lạc. Ðoạn này cũng có thể liên hệ đến lời ca tụng của du sĩ đối với Tăng chúng; vì Phật sẽ hiển thị 3 lối Ngài không huấn luyện chúng Tỳ kheo, và 1 lối theo đó chư Phật quá khứ hiện tại vị lai đều huấn luyện chúng Tỳ kheo.
7. Vị "không tự hành khổ, không làm khổ người, tự ngã trú vào Phạm thể "cảm thọ lạc thọ của các Thiền, đạo, quả, và Niết bàn. Phạm thể ở đây có nghĩa là Thánh thiện hay thù thắng.
8. Pessa đáng lẽ chứng quả Dự lưu, nhưng anh đã rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy khi Phật chưa giảng xong bài Pháp. Tuy vậy anh cũng nhận được 2 lợi lạc: thêm lòng tin đối với Tăng chúng, và hiểu thêm về Bốn niệm xứ.
9. Ðoạn kinh về "tự hành khổ "nói chi tiết về những khổ hạnh mà nhiều người đương thời Phật đang tu tập, và chính Phật cũng đã từng tu trong thời gian nỗ lực đạt giác ngộ. Xem kinh 12.
10. Ðoạn kinh về "tự làm khổ và làm khổ người "mô tả sự tu tập của người tự hành hạ mình với hy vọng được phước, bằng cách lập tế đàn trong đó nhiều con vật bị giết, nhiều kẻ làm công bị áp bức.
11. Ðoạn kinh về hạng "không tự hành khổ, không làm khổ người "lại sống Thánh thiện, cảm thọ thuần lạc thọ, ám chỉ bậc A la hán. Ðể hiển thị vị ấy không tự hành mình cũng không làm khổ người, đức Phật mô tả con đường tu tập của vị ấy để chứng quả.
IV. Pháp Số Liên Hệ
Ba nghiệp, ba minh, bốn chân lý, bốn niệm xứ, bốn hạng người, bốn Thiền, năm triền cái.
V. Kệ Học Thuộc Lòng
Bạn Kan-da-ra-ka
Cùng Cư sĩ Pessa
Làm nghề huấn luyện voi
Cùng đến yết kiến Phật.
Du sĩ ca tụng Phật
Khéo hướng dẫn chư Tăng
Hỏi quá khứ vị lai
Chúng được như vậy chăng?
Phật dạy: "Cả ba thời
Chư Phật cùng một Pháp
Tỳ kheo tu pháp này
Có vị thành La hán.
Hoặc thành bậc Hữu học,
Khéo kiên trì giới luật,
An trú Bốn niệm xứ
Ðể nhiếp phục tham ưu."
Pessa tiếp lời Phật:
- Thế Tôn khéo trình bày
Pháp Bốn niệm xứ này
Con thỉnh thoảng tu tập.
Con quán thân nơi thân
Quán thọ nơi cảm thọ
Quán tâm ngay nơi tâm
Quán pháp nơi các pháp.
Chánh niệm và tỉnh giác
Ðể nhiếp phục tham ưu.
Thế Tôn quả thấu suốt
Vui khổ của hữu tình.
Cởi mở thay, loài thú
Rắc rối thay loài người
Sống rối ren xảo quyệt
Lòng với miệng khác nhau.
"Kẻ tự hành, hành người
Kẻ làm khổ cả hai,
Kẻ không làm ai khổ,
Ngươi thích ý hạng nào?"
- Bạch Phật, ba hạng đầu
Không làm con thích ý
Chỉ có hạng thứ tư
Làm con thấy khoái ý.
Biết chán khổ, ưa vui
Sao lại tự hành mình?
Và hành hạ kẻ khác?
Hoặc hành xác cả hai?
Hạng không khổ mình, người
Quả làm con thích ý.
Rồi Pessa cáo từ
Vì bận nhiều công việc.
Phật dạy chúng Tỳ kheo:
"Nếu nán lại chốc lát
Kẻ huấn luyện voi ấy
Sẽ được nhiều lợi lạc.
Có kẻ tu khổ hạnh
Về cách ăn mặc ở
Ðều theo lối khổ sở
Ðây là tự hành mình.
Có hạng làm nghề ác
Sát sinh và trộm cắp
Hoặc tra tấn dã man
Là hành hạ người khác.
Làm khổ mình lẫn người
Là kẻ có tà kiến
Giết vô số sinh loài
Cùng phá hoại cây cối.
Mong tẩy sạch tội lỗi
Chúng dựng những tế đàn
Làm khổ người và vật
Bản thân cũng gian nan.
Không làm khổ mình, người
Xuất gia thành tựu giới,
Từ bỏ 10 nghiệp ác
Hộ trì 5 giác quan
Tu tập 4 niệm xứ
Chứng 4 Thiền 3 minh
Ðạt Vô thượng an ổn
Ðệ tử Phật, người này."
Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 52: Bát Thành
(Atthakanagarasuttam)
I. Toát Yếu
Atthakanàgara Sutta - The man from Atthakanagara
The venerable Ànanda teaches eleven "dơrs to the Deathless "by which a bhikkhu can attain the supreme security from bondage.
Người Từ Thành Bát.
Tôn giả Ànanda dạy 11 "cửa bất tử”, qua cửa này một Tỳ kheo có thể đạt đến Vô thượng an ổn khỏi trói buộc.
II. Tóm Tắt
Gia chủ Dasama đến gặp Tôn giả Ànanda hỏi về pháp môn độc nhất mà nếu tinh tấn tu hành, sẽ khiến tâm chưa giải thoát được hoàn toàn giải thoát, lậu hoặc chưa trừ hoàn toàn được đoạn trừ, đạt Vô thượng an ổn. Tôn giả giảng, đó là pháp môn ly dục, ly bất thiện pháp, chứng trú sơ Thiền với 5 Thiền chi, lần lượt chứng đến tứ Thiền chỉ còn xả niệm thanh tịnh; an trú bốn phạm trú: biến mãn 10 phương với Từ tâm giải thoát, Bi tâm giải thoát, Hỉ tâm giải thoát, Xả tâm giải thoát; tu tập ba trong bốn Không định là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ.
Mười một quả vị ấy đều thuộc hữu vi, do suy tư tác thành. Nếu khi đắc một Thiền chứng nào, hành giả tuệ tri "cái này thuộc hữu vi, do suy tư tác thành, nên vô thường, bị hoại diệt", vị ấy sẽ tận trừ lậu hoặc. Nhưng nếu lậu hoặc chưa đoạn, do tham luyến pháp này, do hoan hỉ pháp này, vị ấy diệt trừ năm hạ phần kết sử, được hóa sinh vào cõi trời Ngũ tịnh cư, khỏi trở lui đời này. Như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn giảng. Nếu Tỳ kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm tinh tấn hành trì pháp ấy, thì tâm được giải thoát, lậu hoặc được trừ diệt, Vô thượng an ổn được chứng đạt.
Khi nghe Tôn giả A Nanda nói vậy, gia chủ Dasama bạch: "Bạch Tôn giả, như người đi tìm một kho tàng lại được 11 kho; con đi tìm một pháp môn bất tử mà được nghe 11 pháp môn. Như ngôi nhà cháy có 11 cửa, chỉ do một cửa người ta cũng có thể thoát ra an toàn. Cũng vậy chỉ với một cửa bất tử trong 11 cửa này, con có thể đạt an toàn cho con." Rồi gia chủ cúng dường A Nanda và chúng Tăng.
III. Chú Giải
1. Lời Dasama nói "tâm chưa giải thoát được hoàn toàn giải thoát, lậu hoặc chưa trừ hoàn toàn được đoạn trừ, đạt Vô thượng an ổn "ám chỉ quả vị A la hán.
2. "Thuộc hữu vi, do suy tư tác thành "thường được sử dụng liên kết, chứng tỏ một trạng thái có điều kiện, mà tư tâm sở hay ý hành (volition) là yếu tố chính.
3. Một phương pháp phát triển tuệ quán từ một Thiền tịnh chỉ: Sau khi đắc 1 Thiền chứng, hành giả xuất khỏi Thiền ấy và quán sát trạng thái này là pháp duyên sinh - được phát sinh nhờ điều kiện - yếu tố chính là tư tâm sở hay ý hành. Trên căn bản này, vị ấy xác quyết tính vô thường của nó, rồi quán sát Thiền ấy bằng tuệ thâm nhập 3 đặc tính vô thường khổ vô ngã. Xem thêm kinh 64, một phương pháp hơi khác với phương pháp này để phát triển tuệ giác trên căn bản các Thiền chứng.
4. "Do tham luyến pháp này, hoan hỉ pháp này "có nghĩa là dục tham đối với tịnh chỉ và tuệ quán. Nếu hành giả có thể từ bỏ tất cả dục tham đối với chỉ và quán, vị ấy trở thành một A la hán; nếu không thể từ bỏ dục tham, vị ấy không thể trở thành một A la hán; vị ấy thành một vị Bất hoàn và được tái sinh vào cõi Tịnh cư thiên.
5. Mười một cửa bất tử là 4 Thiền, 4 phạm trú, và 3 Thiền chứng Vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, được dùng làm cơ sở để phát triển tuệ quán đạt đến A la hán quả. Phi tưởng phi phi tưởng xứ không được đề cập ở đây, vì nó quá vi tế không thể làm đối tượng cho tuệ quán.
IV. Pháp Số Liên Hệ
Bốn Thiền, bốn phạm trú hay bốn vô lượng, năm triền cái, năm Thiền chi.
V. Kệ Học Thuộc Lòng
Gia chủ Dasama
Ðến Thầy A Nanda
Xin giảng pháp độc nhất
Do Thế Tôn giảng dạy
"Khiến tâm được giải thoát
Lậu hoặc được đoạn trừ
An ổn khỏi trói buộc
Nếu tinh cần gắng tu.
Ly dục, ly bất thiện,
Chứng và trú sơ Thiền
Thấy Thiền này hữu vi
Do suy tư tác thành
Tu chứng cả bốn Thiền
Vẫn thấy nó hữu vi
Không tham đắm Thiền này
Ðạt lậu tận, giải thoát.
Tu đến bốn vô lượng
Nhập Không vô biên xứ,
Ðến Thức vô biên xứ,
Cùng Vô sở hữu xứ
Vẫn thấy là hữu vi
Do suy tư tác thành
Không tham đắm Ðịnh này
Ðạt lậu tận, giải thoát
Nếu tham luyến, hoan hỉ
Với một Thiền định nào
Vị ấy sẽ hóa sinh
Vào cõi Tịnh cư thiên
Do vì đã đoạn trừ
Năm hạ phần kết sử
Nhập Niết bàn tại đấy
Khỏi trở lui đời này."
Gia chủ Dasama
Bạch Thầy A Nanda:
Như tìm một kho tàng
Ðược mười một kho báu
Con tìm cửa bất tử
Lại được mười một cửa;
Như nhà lửa bốc cháy
Có mười một lối ra
Ở đây cũng như vậy
Bốn Thiền và ba không
Cùng bốn tâm vô lượng
Cửa giải thoát an toàn."
Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 53: Hữu Học
I. Toát Yếu
Sekha Sutta - The Disciple in Higher Training.
At the Buddha’s request the venerable Ànanda gives a discourse on the practices undertaken by a disciple in higher training.
Ðệ tử trên đạo lộ hữu học.
Phật bảo Tôn giả A Nanda giảng về các pháp tu của một bậc hữu học.
II. Tóm Tắt
Những gia chủ dòng họ Sakya thỉnh Phật và chư Tăng đến khánh thành một ngôi giảng đường (1) ở Kapilavastu. Sau khi thuyết pháp, Phật nằm xuống nghỉ và bảo Tôn giả A Nanda giảng Hữu học đạo.
Tôn giả giảng về sáu giai đoạn tác thành một bậc Hữu học như sau:
1. Thành tựu giới;
2. Giữ gìn tâm ý khi sáu căn tiếp xúc sáu trần;
3. Tiết độ ăn uống;
4. Chú tâm cảnh giác hay chánh niệm tỉnh giác trong bốn uy nghi;
5. Thành tựu bảy diệu pháp là tín, tàm, quý (2), tấn, văn, niệm (3), tuệ (4).
6. Lạc trú bốn Thiền một cách không khó khăn mệt nhọc.
Khi thành tựu được sáu phép ấy, vị Thánh đệ tử được gọi là đi trên đường Hữu học, có trứng không bị hư thối, có khả năng phá vỡ vỏ vô minh để đạt Vô thượng an ổn khỏi các trói buộc.
Khi chứng tứ Thiền với xả niệm thanh tịnh (5), Thánh đệ tử được túc mạng minh, nhớ các đời trước của mình với đại cương và chi tiết, như phá vỡ lớp vỏ đầu tiên. Vị ấy với thiên nhãn thấy được sống chết và nghiệp quả của chúng sinh, như phá lớp vỏ thứ hai. Vị ấy đoạn trừ tất cả lậu hoặc, chứng đạt an trú ngay hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (6), như phá lớp vỏ thứ ba. Như gà ấp trứng, nếu ấp ủ đúng mức thì dù không ước mong gì, cũng sẽ có lúc gà con mổ vỏ chui ra.
Thành tựu giới, hộ trì căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, đầy đủ bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm (7), sáu thứ này thuộc về Hạnh đức của vị ấy. Ba minh thuộc về Trí đức vị ấy.
Rồi Tôn giả nhắc lại bài kệ của phạm thiên Sa Nankumàra:
Chúng sinh tin giai cấp,
Vương tộc là tối thượng,
Vị minh hạnh cụ túc,
Tối thắng trên nhân thiên (8).
III. Chú Giải
1. Người ta tin rằng trước khi sử dụng ngôi nhà mới xây, nếu mời 1 vị tu cao đến ở trước dù chỉ 1 đêm, sẽ được phước. Niềm tin này vẫn còn tiếp diễn tại các xứ Phật giáo ngày nay, nên những Phật tử xây nhà mới thường mời các Tỳ kheo đến tụng kinh cầu an trước khi dọn vào ở.
2. Tàm và quý thường đi đôi, được Phật gọi là vị "hộ trì thế gian "vì nó là nền tảng của đạo đức. Tàm có đặc tính biết tự trọng, ghê tởm điều xấu xa, quý là quan tâm đến dư luận, sợ làm điều quấy.
3. Kinh giải thích danh từ sati, niệm, bằng cách nhắc đến ý nghĩa nguyên thủy của nó là ký ức. Tương quan giữa 2 nghĩa của niệm - ký ức và chú ý - có thể nói như sau: sự chú ý sâu sắc đối với những hình dáng hiện tại là nền tảng để có ký ức chính xác về quá khứ. Luận nhắc đến niệm ở đây để ám chỉ nó là pháp đầu tiên trong 7 yếu tố của giác ngộ.
4. Theo Kinh sớ, tuệ ở đây là trí sinh diệt thuộc đạo, có thể thâm nhập sự sinh diệt của 5 uẩn. Trí thuộc đạo được gọi là thâm nhập bởi vì nó chọc thủng và nhổ tận cái khối tham sân si; Trí thuộc tuệ quán được gọi là thâm nhập vì nó tạm thời chọc thủng tham sân si, và vì nó đưa đến sự thâm nhập bằng đạo lộ.
5. Ðây nói về Thiền thứ 4, nền tảng của 3 loại trí tiếp theo.
6. Ở điểm này, vị ấy chấm dứt làm bậc hữu học và thành bậc A la hán.
7. Những pháp này là 15 yếu tố truyền thống làm nên Hạnh. Trong toàn thể quá trình tu tập, Hạnh đi đôi với Minh là 3 loại trí. "Minh hạnh túc "chỉ chư Phật và A la hán.
8. Câu này được Phật xác nhận trong kinh Truờng bộ III. Phạm thiên SA Nankumàra, "trẻ mãi "theo sớ, là 1 thanh niên đã đắc Thiền, khi chết tái sinh vào Phạm Thiên giới mà vẫn giữ sắc đẹp đã có trong hiện hữu cõi người. Xem Trường bộ, Kinh 18.
IV. Pháp Số Liên Hệ
Ba minh, bốn Thiền, sáu căn, bảy Thánh tài.
V. Kệ Học Thuộc Lòng
Tôn giả A Nanda
Giảng sáu pháp tác thành
Một bậc Thánh Hữu học
Cho bộ tộc Sakya:
Một là thành tựu giới;
Hai gìn giữ sáu căn
Ba tiết độ ăn uống;
Bốn chú tâm cảnh giác
Ðề phòng ô nhiễm khởi.
Năm, tu bảy Thánh tài:
Tín, tàm, quý, tấn, văn,
Chánh niệm và tuệ quán.
Sáu lạc trú bốn Thiền
Không khó khăn mệt nhọc.
Thành tựu sáu pháp ấy,
Là một vị Hữu học,
Có trứng không bị thối,
Có khả năng phá vỡ
Các lớp vỏ vô minh
Ðạt Vô thượng an ổn.
Bốn Thiền, túc mạng trí
Là phá vỏ đầu tiên
Thiên nhãn Sinh tử trí
Như phá vỏ thứ hai.
Ðoạn trừ hết lậu hoặc,
Chứng trú ngay hiện tại,
Tâm và tuệ giải thoát,
Là lớp vỏ thứ ba.
Như gà mái ấp trứng
Khi ấp ủ đến thời
Dù không có mong ước
Gà con cũng chui ra.
Sáu yếu tố đầu tiên
Giữ giới đến bốn Thiền
Là thuộc về Hạnh đức
Ba minh thuộc Trí đức.
Chúng sanh tin giai cấp,
Vương tộc là tối thượng,
Vị minh hạnh cụ túc,
Tối thắng cõi trời, người.
Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 54: Potaliya
I. Toát Yếu
Potaliya Sutta - To Potaliya.
The Buddha teaches a presumptuous interlocutor the meaning of the "cutting off affairs" in his discipline. The sutta offers a striking series of similes on the dangers in sensual pleasures.
Giảng cho Potaliya.
Giảng cho Potaliya về những nguy hiểm của dục lạc.
II. Tóm Tắt
Gia chủ Potaliya đến viếng Phật, bất mãn khi nghe Phật gọi mình là gia chủ, vì ông đã giao phó tục sự cho con cái, sống với tối thiểu đồ ăn mặc. Phật giảng cho ông rõ thế nào là đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh, ấy là từ bỏ:
1. sát sinh
2. lấy của không cho,
3. nói dối,
4. hai lưỡi,
5. tham dục,
6. sân hận hủy báng,
7. phẫn não,
8. quá mạn;
Do thấy rõ chúng là kiết sử, là triền cái (1), có thể gây ra những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não; trong khi đối với người đã từ bỏ chúng (2) thì những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não không còn.
Phật dạy thêm, tuy vậy đó chưa phải là sự đoạn tận toàn diện các tục sự. Ðoạn trừ toàn diện là thấy rõ dục (3) như khúc xương, như miếng thịt nơi miệng chim kên, như đuốc ngược gió, như hố than hừng, như mộng, như vật mượn, như cây có nhiều quả chín… khổ nhiều não nhiều, nguy hiểm càng nhiều hơn. Do thấy như vậy, mọi chấp thủ tài vật được đoạn tận, vị ấy tu xả (4), chứng ba minh. Potaliya tự nhận còn rất xa với sự đoạn tận ấy, tự nhận lâu nay đã lầm tưởng là thù thắng những gì chưa phải thù thắng. Ông ca tụng Phật đã gợi nơi ông lòng ái kính Sa môn, và xin quy y.
III. Chú Giải
1. Kết sử là trói buộc và sai khiến; triền cái là cột trói và ngăn che. Mặc dù sát sinh không gồm trong 10 kết sử và 5 triền cái, nó được xem là trói buộc vì buộc người ta vào vòng tái sinh, và triền cái vì nó ngăn sự an lạc chân thật.
2. Sát sinh và lấy của không cho phải từ bỏ nhờ thân giới; nói dối và nói lời ác được từ bỏ nhờ ngữ giới; tham sân kiêu mạn, bỏ nhờ ý giới.
3. Những ví dụ về nguy hiểm của dục được nói đến trong kinh 22, mặc dù kinh này không khai triển về 3 ví dụ cuối.
4. Theo Luận giải, "xả căn cứ dị biệt" là xả liên hệ đến 5 dục; "xả căn cứ đồng nhất" là xả ở Thiền thứ 4.
IV. Pháp Số Liên Hệ
V. Kệ Học Thuộc Lòng
Gia chủ Potaliya
Phẫn nộ và bất mãn
Khi nghe Phật gọi mình
Với danh từ gia chủ
Người phó thác tục sự
Cho những con cái ông,
Và sống rất đạm bạc
Với tối thiểu cần dùng.
Phật giảng đoạn tục sự
Trong giới luật bậc Thánh
Là từ bỏ tám pháp
Tai hại và trói buộc:
Sát sinh và trộm cắp
Nói dối và đâm thọc
Tham dục và sân báng,
Phẫn nộ và kiêu căng
Muốn tận trừ tục sự
Cần thấy rõ dục lạc
Chỉ như khúc xương khô
Như miếng thịt chim tha
Như đuốc cầm ngược gió
Như hố đỏ than hừng,
Như một giấc chiêm bao
Như vật mượn phải trả
Như cây có nhiều quả…
Cần phải thấy như vậy
Dục khổ nhiều não nhiều,
Nguy hiểm càng nhiều hơn.
Do thấy được như vậy,
Tận trừ mọi chấp thủ
Chứng bốn Thiền, ba minh
Ðạt lậu tận, giải thoát.
Gia chủ Potaliya
Tự nhận còn cách xa
Lâu nay tưởng thù thắng
Những pháp chưa thù thắng.
Rồi ông ca tụng Phật
Ðã gợi lên nơi ông
Lòng ái kính Sa môn
Và quy y Tam bảo.
|