Home Chư Kinh Giảng Giải Chú giải Nikaya và A Hàm Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I
06 | 10 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I PDF. In Email
Chư Kinh Giảng Giải
Viết bởi Thích Nữ Trí Hải   
Chỉ mục bài viết
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.05-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.10-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.15-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.20-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.25-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.31-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.35-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.40-
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I.46-
Tất cả các trang

Ba tập toát yếu Kinh Trung Bộ I, II và III này, tôi đã làm ít nhất ba lần, và mỗi lần đều làm sau khi đã đọc kỹ bản dịch của Hòa thượng. Thế nhưng mỗi lần tôi đều toát yếu một cách khác, nhất là sau khi được đọc bản phiên dịch và chú thích bằng Anh ngữ của Đại đức Nanamoli và Mahabodhi.

Mình là ai mà dám toát yếu lời Phật dạy? Lỡ mình để tuột mất cái điểm cốt yếu trong lời Ngài dạy thì sao? Như vậy sẽ mang tội lớn với Phật, với Thầy, Tổ...

Bản toát yếu này cũng thế, đây chỉ là những gì do tôi hiểu được qua lời kinh, vào một thời điểm nào đó mà thôi. Và tôi đã toát yếu để cho tự mình nhớ được chút ít những lời vàng ngọc của đức Thế Tôn, để tự tu tập cho bản thân mình. Vậy, sau hết và trước hết, bản toát yếu này chỉ là một tập sách giúp trí nhớ cho những ai đã nhiều lần nghiền ngẫm Kinh Trung Bộ, và có thể họ đã toát yếu một cách khác, thì sách này sẽ bổ túc cho trí nhớ của họ. Những người mới đọc Kinh Trung Bộ lần đầu, thì qua toát yếu này sẽ nắm được vài ý để hướng dẫn mình trên đường tu tập chứ không chỉ là “chuyên ký danh ngôn” vì kỳ thực Phật không dạy điều gì nếu không phải để đưa người đến chuyển mê khai ngộ.

Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển I
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển II
Toát yếu Kinh Trung Bộ Quyển III

Dịch giả: Hòa thượng Thích Minh Châu

Tóm tắt & chú giải: Ni sư Thích Nữ Trí Hải

Bản Anh ngữ tóm tắt: Hòa thượng Nanamoli

Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2546 – DL. 2002

(Bộ “Toát yếu Kinh Trung Bộ” này gồm 3 tập chia làm 3 quyển riêng biệt, ngoài bìa ghi “Kinh Trung Bộ quyển 1, 2, 3” không có chữ “Toát yếu.” Chữ “Toát yếu” chúng tôi y theo nội dung đặc tên đã tránh lầm lẫn với Trung Bộ Kinh, bttdtkvn.)

Mục Lục Quyển I

1. Kinh Pháp Môn Căn Bản

2. Kinh Tất Cả Lậu Hoặc

3. Kinh Thừa Tự Pháp

4. Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm

5. Kinh Không Uế Nhiễm

6. Kinh Ước Nguyện

7. Kinh Ví Dụ Tấm Vải

8. Kinh Ðoạn Giảm

9. Kinh Chánh Tri Kiến

10. Kinh Niệm Xứ

11. Tiểu Kinh Sư Tử Hống

12. Ðại Kinh Sư Tử Hống

13. Ðại Kinh Khổ Uẩn

14. Tiểu Kinh Khổ Uẩn

15. Kinh Tư Lượng

16. Kinh Tâm Hoang Vu

17. Kinh Khu Rừng

18. Kinh Mật Hoàn

19. Kinh Song Tầm

20. Kinh An Trú Tầm

21. Kinh Ví Dụ Cái Cưa

22. Kinh Ví Dụ Con Rắn

23. Kinh Gò Mối

24. Kinh Trạm Xe

25. Kinh Bẫy Mồi

26. Kinh Thánh Cầu

27. Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi

28. Ðại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi

29. Ðại Kinh Ví Dụ Lõi Cây

30. Tiểu Kinh Ví Dụ Lõi Cây

31. Tiểu Kinh Khu Rừng Sừng Bò

32. Ðại Kinh Khu Rừng Sừng Bò

33. Ðại Kinh Người Chăn Bò

34. Tiểu Kinh Người Chăn Bò

35. Tiểu Kinh Saccaka

36. Ðại Kinh Saccaka

37. Tiểu Kinh Ðoạn Tận Ái

38. Ðại Kinh Ðoạn Tận Ái

39. Ðại Kinh Xóm Ngựa

40. Tiểu Kinh Xóm Ngựa

41. Kinh Saleyyaka (Bà La Môn ở Sàla)

42. Kinh Veranjaka (Bà La Môn ở Veranja)

43. Ðại Kinh Phương Quảng

44. Tiểu Kinh Phương Quảng

45. Tiểu Kinh Pháp Hành

46. Ðại Kinh Pháp Hành

47. Kinh Tư Sát

48. Kinh Kosampiya

49. Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh

50. Kinh Hàng Phục Ác Ma

Tri Ân

Kính lễ Đức Như Lai, bậc A La Hán Chính Đẳng Giác.

Kính lễ Hòa thượng (Thượng) Minh (Hạ) Châu phiên dịch Nikàya.

Kính lễ Đại đức Nanamoli và Bodhi cùng chư vị luận sư Nikàya mà con tham khảo.

Xin gia bị cho con diễn dịch không lạc xa Thánh ý.

Xin cho Pháp bảo này ai được đọc sẽ xa lìa kiến chấp, phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nguyện cho con được như Phật, “vị hữu tình sinh ra đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho nhân loại và chư thiên”.

Mỗi kinh gồm năm phần:

I. Toát yếu bằng Anh ngữ của Nanamoli và dịch.

II. Tóm tắt.

III. Chú giải theo luận giải Kinh Trung Bộ, bản Anh ngữ của hai Đại đức Nanamoli và Bodhi.

IV. Pháp số liên hệ.

V. Kệ học thuộc lòng.

Ghi Chú Quan Trọng

Ba tập toát yếu Kinh Trung Bộ I, II và III này, tôi đã làm ít nhất ba lần, và mỗi lần đều làm sau khi đã đọc kỹ bản dịch của Hòa thượng. Thế nhưng mỗi lần tôi đều toát yếu một cách khác, nhất là sau khi được đọc bản phiên dịch và chú thích bằng Anh ngữ của Đại đức Nanamoli và Mahabodhi. Như vậy đủ biết, những lời Phật dạy như núi cao, biển cả, mà sự học hiểu của mình chỉ như một cái xẻng đào đất hay cái muỗng múc canh, mỗi lúc chỉ lấy được một ít và rất phiến diện. Bởi thế mà Hòa thượng thường dạy, Ngài không bao giờ “giải thích” lời Phật dạy, mà chỉ cố gắng dịch cho đúng nguyên văn của Người xưa dù có tối nghĩa đến đâu. Đấy là cái đức khiêm cung của Ngài, trong vô số đức tính mà tôi ngưỡng mộ.

Mình là ai mà dám toát yếu lời Phật dạy? Lỡ mình để tuột mất cái điểm cốt yếu trong lời Ngài dạy thì sao? Như vậy sẽ mang tội lớn với Phật, với Thầy, Tổ. Bởi vậy, ngày càng tôi càng miễn cưỡng trong việc phổ biến ba tập toát yếu này, vì sợ công ít mà tội nhiều. Khi làm xong tập thứ hai, đem khoe Thầy Chơn Thiện, Thầy phán rằng: “Kinh không bao giờ nên tóm tắt”. Tôi giật mình, và bỏ dở công việc gần hai năm trời, mặc dù đã gần xong tập cuối, đến kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Sau đó, anh Hồ Hồng Phước ở Luân Đôn, người thường gửi cho tôi những sách Phật học bằng Anh ngữ mới xuất bản tại nước ngoài, thúc giục tôi gởi sang tiếp vì có người đã hào hứng in ra biếu không hai tập đầu. Thế là tôi lại hăng hái tiếp tục!

Mỗi kinh do Tôn giả Ananda trùng tuyên đều bắt đầu với câu “Tôi nghe như vầy”, mà không nói “Đức Phật đã dạy như vầy” điều ấy rất đáng bắt chước. Vì tôi là ai mà dám làm phát ngôn nhân cho Phật? Lỡ Phật nói một đường, tôi nghe một nẻo thì sao? Cho nên đây chỉ là theo như tôi được nghe, chứ không phải theo như lời Phật dạy.

Bản toát yếu này cũng thế, đây chỉ là những gì do tôi hiểu được qua lời kinh, vào một thời điểm nào đó mà thôi. Và tôi đã toát yếu để cho tự mình nhớ được chút ít những lời vàng ngọc của đức Thế Tôn, để tự tu tập cho bản thân mình. Bởi thế người đọc hoàn toàn không thể bỏ qua bản gốc của Hòa thượng Thích Minh Châu đã dày công phiên dịch. Nếu đọc toát yếu này mà bỏ qua Kinh gốc thì cũng như bỏ đại dương để lấy vài giọt nước muối.

Vậy, sau hết và trước hết, bản toát yếu này chỉ là một tập sách giúp trí nhớ cho những ai đã nhiều lần nghiền ngẫm Kinh Trung Bộ, và có thể họ đã toát yếu một cách khác, thì sách này sẽ bổ túc cho trí nhớ của họ. Những người mới đọc Kinh Trung Bộ lần đầu, thì qua toát yếu này sẽ nắm được vài ý để hướng dẫn mình trên đường tu tập chứ không chỉ là “chuyên ký danh ngôn” vì kỳ thực Phật không dạy điều gì nếu không phải để đưa người đến chuyển mê khai ngộ.

Xin dâng lên Hòa thượng lòng tri ân vô bờ bến.

Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 1: Pháp Môn Căn Bản

I. Toát Yếu

Mùlapariyàya Sutta - The root of all things.

The Buddha analyses the cognitive processes of four types of individuals - the untaught ordinary person, the disciple in higher training, the arahant and the Tathàgata. This is one of the deepest and most difficult suttas in the Pali Canon, and it is therefore suggested that the earnest student read it only in a cursory manner on a first reading of the Majjhima Nikàya, returning to it for an in-depth study after completing the entire collection.

Gốc Rễ Của Vạn Pháp.

Phật phân tích tiến trình nhận thức của bốn hạng người: phàm phu chưa nghe pháp, bậc hữu học, A la hán và Như Lai. Kinh này là một trong những kinh sâu sắc và khó hiểu nhất trong tạng kinh Pali, bởi thế đề nghị người nào muốn học thực nghiêm túc sau thì khi đọc lướt qua lần đầu trọn 152 kinh hãy đọc trở lại kinh này.

II. Tóm Tắt

Gốc rễ của đau khổ là dục hỷ: ham muốn, vui thích đối với các pháp từ vật chất đến tinh thần, từ phàm đến Thánh, từ bốn đại đến hạng sinh vật, người, chư thiên, các cõi Thiền, và Niết bàn.

Về các pháp ấy, có những cách nhận thức khác nhau tùy theo trình độ tu học: lối nhận thức sai lầm của phàm phu gọi là tưởng tri, của người biết qua sách vở là thức tri, của bậc Thánh hữu học là thắng tri, của A la hán là tuệ tri. Và cuối cùng, cái biết của Phật là liễu tri.

Phàm phu tưởng tri các pháp, ví dụ địa đại, như sau:

1. Vị ấy nghĩ tự ngã là địa đại;

2. Nghĩ tự ngã ở trong địa đại;

3. Nghĩ tự ngã tách biệt với địa đại;

4. Nghĩ "địa đại là của ta."

Như thế là không liễu tri địa đại. Về các pháp khác cũng thế, bao gồm:

Chúng sinh, Chư thiên, Sinh chủ, Phạm thiên, Quang âm thiên, Biến tịnh thiên, Quảng quả thiên, Thắng giả, Không vô biên xứ cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, kiến văn giác tri, Ðồng nhất và sai biệt, Tất cả, Niết bàn.

Ðối với 4 đại và các pháp khác, các bậc hữu học không có thái độ tưởng tri của phàm phu, nghĩa là:

1. Vị ấy không nghĩ tự ngã là địa đại;

2. Không nghĩ tự ngã ở trong địa đại;

3. Không nghĩ tự ngã tách biệt với địa đại;

4. Không nghĩ "địa đại là của ta”, không dục hỷ địa đại.

Như thế gọi là thắng tri. Nhờ thắng tri các pháp, không dẫn đến tham, mạn và kiến, nên các bậc hữu học có khả năng liễu tri các pháp.

Các bậc A la hán đối với các pháp trên thắng tri một cách sâu xa, nghĩa là biết đúng thực chất vô thường khổ vô ngã của chúng, nên gọi là liễu tri các pháp. A la hán không dục hỷ Niết bàn vì đã liễu tri Niết bàn; hơn nữa, vì đã tận trừ tham, sân và si.

Ðức Như Lai không tưởng tri địa đại… Niết bàn như kiểu phàm phu, không dục hỷ các pháp, vì đã liễu tri dục hỷ là nguồn gốc của đau khổ. Lại nữa, nhờ liễu tri lý duyên khởi, Ngài đã tận trừ ái thủ vì biết nó sẽ đưa đến hữu, sinh và già chết.

III. Chú Giải

Tham, mạn, kiến: Khi một người do thấy, nghe… mà đâm ra tham luyến tái sinh làm một hạng chúng sinh nào đó, ấy gọi là "tham.” Khi người ấy tự xếp hạng mình là hơn, bằng hoặc thua kẻ khác, ấy là "mạn.” Và khi có quan điểm rằng chúng sinh là thường hoặc vô thường, đó gọi là "kiến.” Thái độ tưởng tri của phàm phu đưa đến tham, mạn, kiến như sau:

Nghĩ tự ngã ở trong địa đại (Ðịnh sở cách, Locative): dẫn đến "mạn"

Nghĩ tự ngã tách biệt với địa đại (Xuất xứ cách, Ablative): dẫn đến "kiến"

Nghĩ "địa đại là của ta" (Sở thuộc cách, Genitive), dục hỷ địa đại: dẫn đến "tham"

Chúng sinh, nghĩa là tất cả sinh vật dưới cõi trời Tứ thiên vương.

Chư thiên: sáu cõi trời dục giới.

Sinh chủ, ám chỉ Ma vương thống lĩnh tất cả sinh loài.

Phạm thiên hay Ðại phạm - Mahàbramhma, vị trời sinh ra trước nhất trong mỗi đại kiếp, thọ mạng ngang bằng với thọ mạng vũ trụ trong đại kiếp ấy. Các vị tu chứng sơ Thiền cũng tái sinh vào cõi này.

Quang âm thiên: cõi của nhị Thiền. Ở đây bao gồm cả trời Thiểu quang và Vô lượng quang.

Biến tịnh thiên: cõi của tam Thiền. Ở đây bao gồm trời Thiểu tịnh và Vô lượng tịnh.

Quảng quả thiên: cõi của tứ Thiền.

Thắng giả (Abhibhù) chỉ cõi trời Vô tưởng, vì ở đây không còn 4 uẩn vô sắc.

Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ là 4 cõi trời vô sắc.

Kiến văn giác tri: những gì được thấy, nghe, cảm giác và nhận thức, mà gọi là "tưởng tri " (sai lầm), là khi có chấp thủ "tôi " và "của tôi”, hoặc có phát sinh mạn, tham và kiến.

Ðồng nhất và sai biệt: những vị tu Thiền khi tâm đạt đến một cảnh giới duy nhất không biến đổi, thì chấp là "đồng nhất.” Những người không chứng đắc thì chấp có nhiều cảnh khác nhau. Loại tưởng tri "đồng nhất "sản sinh triết học nhất nguyên và Tôn giáo nhất thần, loại tưởng tri "sai biệt " sản sinh triết học đa nguyên, tín ngưỡng đa thần.

Tất cả: chỉ tất cả các pháp nói trên, gom chung lại thành một khối. Tưởng tri về tất cả có thể sản sinh các thuyết phiếm thần hoặc nhất thần, tùy theo tương quan giữa cái tôi và tất cả.

Niết bàn: chỉ 5 loại Niết bàn hiện tại, chủ trương của 62 tà kiến ngoại đạo được nói trong kinh Phạm Võng, Trường bộ: thụ hưởng các khoái lạc giác quan là Niết bàn, bốn cõi Thiền là Niết bàn. Mong cầu, hưởng thụ năm thứ này là tham, kiêu hãnh khi đạt được là mạn, xem loại Niết bàn ảo tưởng đó trường cửu, là kiến.

IV. Pháp Số Liên Hệ

Bốn đại: địa thủy hỏa phong.

Bốn Không định hay Bốn Vô sắc: Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng.

V. Kệ Học Thuộc Lòng

Gốc rễ của đau khổ

Là hỷ tham các pháp

Vật chất và tinh thần

Pháp phàm và pháp Thánh:

Bốn đại và ba cõi

Cùng "Niết bàn hiện tại.”

Sở dĩ có hỷ tham

Vì tưởng tri bốn đại

Cùng tất cả pháp khác

Là "tôi" và "của tôi.”

Nhờ liễu tri các pháp

Không "tôi”, không "của tôi"

Như Lai không dục hỷ

Bất cứ một pháp nào.

Phăng tận nguồn khổ đau:

Ái thủ đưa đến Hữu

Từ Hữu, có Sinh, Già

Bệnh, chết và sầu ưu.

Do liễu tri như vậy

Từ bỏ mọi ái dục

Tận trừ tham, mạn, kiến

Ðạt Vô thượng an ổn.

Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 2: Tất Cả Lậu Hoặc

I. Toát Yếu

Sàbbàsava Sutta - All the taints.

The Buddha teaches the Bhikkhus seven methods for restraining and abandoning the taints, the fundamental defilements that maintain bondage to the round of birth and death.

Tất Cả Nhiễm Ô.

Phật dạy các Tỳ kheo bảy phương pháp để chế ngự và từ bỏ ô nhiễm, tức những phiền não căn bản cứ tiếp tục trói buộc con người vào chu kỳ sinh tử.

II. Tóm Tắt

Có hai cách tác ý các pháp (hay để tâm suy tư về một việc gì): Như lý và không như lý. Như lý là khi tác ý, lậu hoặc chưa sinh không sinh, đã sinh được trừ diệt. Không như lý tác ý là khiến cho lậu hoặc chưa sinh phát sinh ra, lậu hoặc đã sinh thì tăng trưởng.

Bảy cách đoạn trừ là: bằng tri kiến, bằng phòng hộ, bằng thọ dụng, bằng kham nhẫn, bằng tránh né, bằng trừ diệt, bằng tu tập.

III. Chú Giải

Lậu hoặc hay ô nhiễm gồm ba loại: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Loại 1 trói buộc con người vào khoái lạc giác quan, loại 2 vào tư tưởng quan niệm, và loại 3 vào sinh tử luân hồi nói chung.

Ðoạn trừ bằng Tri kiến là không để ý chuyện không đáng để ý, và chỉ tác ý những gì cần tác ý. Pháp của Như Lai dạy là cốt cho người biết tác ý như lý và thấy rõ những gì không đáng tác ý. Không đáng tác ý là những vấn đề liên hệ đến bản ngã trong quá khứ, hiện tại, vị lai, nguồn gốc của sáu tà kiến như sau:

1. "Ta có tự ngã" - "self exists for me": thuyết duy linh, thuộc thường kiến.

2. "Ta không có tự ngã " - "no self exists for me": thuyết duy vật, cho chỉ có thể xác, chết là hết.

3. "Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã " - "I perceive self with self": chấp "ngã " gồm cả hai, linh hồn và thể xác.

4. "Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã " - "I perceive not-self with self": chấp "ngã " chỉ là phần hồn.

5. "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã " - "I perceive self with not-self": chấp "ngã " chỉ là phần xác.

6. "Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú không chuyển biến": "It is this self of mine that speaks and feels and experiences here and there the result of good and bad actions; but this self of mine is permanent… no subject to change" Một dạng hoàn toàn chấp hữu, chấp thường.

Bị trói buộc bởi những tà kiến ấy, phàm phu không thoát khỏi sinh già chết sầu bi khổ ưu não. Ngược lại, Thánh đệ tử nhờ tác ý như lý "đây là khổ " đây là nguyên nhân khổ "đây là khổ diệt " "đây là con đường đưa đến diệt khổ "… mà ba kiết sử được trừ diệt là thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Ðấy gọi là đoạn trừ bằng tri kiến.

Ðoạn trừ bằng phòng hộ là giữ gìn chính niệm khi sáu căn tiếp xúc sáu trần.

Ðoạn trừ bằng thọ dụng là biết đủ đối với bốn vật dụng ăn mặc ở bệnh.

Ðoạn trừ bằng kham nhẫn là hoan hỷ chịu đựng những cảm giác khó chịu về thân tâm.

Ðoạn trừ bằng tránh né là tránh những người, vật, nơi chốn nguy hiểm, có thể làm phát sinh phiền não.

Ðoạn trừ bằng trừ diệt là không chấp nhận cho dục niệm, sân niệm, hại niệm khởi lên, diệt trừ chúng ngay trong mầm mộng.

Ðoạn trừ bằng tu tập là thường tu tập bảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả. Trong bảy pháp, niệm hay chính niệm cần luôn luôn có, sáu pháp còn lại thuộc vào hai nhóm: trạch pháp tinh tấn hỷ thuộc "động", khinh an định xả thuộc "tĩnh.” Khi tâm lừ đừ, nên tu tập các pháp động, khi tâm quá hăng, nên tu các pháp tĩnh để châm chước, như thợ luyện vàng.

IV. Pháp Số Liên Hệ

Hai cách tác ý: như lý và phi như lý.

Hai nhẫn: nhẫn sự chịu khó về thân và về tâm.

Ba lậu hoặc: (lậu: lọt; hoặc: mê lầm) dục, hữu, vô minh.

Bốn vật dụng: về ăn mặc ở bệnh.

Sáu căn môn: mắt tai mũi lưỡi thân ý.

Bảy cách trừ hoặc: tri kiến, phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt, tu tập.

Bảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả.

V. Kệ Học Thuộc Lòng

Muốn tận trừ nhiễm ô

Phải biết rõ thấy rõ:

Biết tác ý như lý

Thấy gì "không như lý.”

"Như lý" là cách nghĩ

Khiến ô nhiễm không sinh

Lại có thể diệt trừ

Nhiễm ô đã sinh khởi.

Có bảy cách trừ mê:

Tri kiến và phòng hộ

Thọ dụng và kham nhẫn

Tránh né và trừ diệt

Giác chi là thứ bảy.

Ðoạn trừ nhờ phòng hộ

Là gìn giữ sáu căn

Tức giữ gìn cửa "ý"

Khi tiếp xúc sáu trần.

Ðoạn trừ bằng thọ dụng

Là biết đủ không tham

Bốn vật dụng cần dùng

Cốt vượt qua biển khổ.

Ðoạn trừ bằng kham nhẫn:

Những thống khổ khốc liệt

Do người, vật gây nên

Vui nhận không than oán.

Ðoạn trừ nhờ tránh né

Tránh mạo hiểm du hành

Tránh giao du bất đáng

Thì phiền não không sinh.

Ðoạn trừ bằng trừ diệt

Những ý xấu khởi lên

Liên hệ dục, sân, hại

Tỳ kheo phải dứt liền.

Tu tập bảy giác chi

Hướng ly tham, từ bỏ

Ðoạn trừ các ô nhiễm

Là diệt tận khổ đau.

Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 3: Thừa Tự Pháp

I. Toát Yếu

Dhammadàyàda Sutta - Heir in the dhamma.

The Buddha enjoins the Bhikkhus to be heirs in the Dhamma, not heirs in material things. The venerable Sàriputta then continues on the same theme by explaining how disciples should train themselves to become the Buddhás heir in the Dhamma.

Những Người Thừa Kế Chính Pháp.

Phật khuyến khích chư Tỳ kheo hãy là những người thừa hưởng gia tài Pháp của Ngài chứ không phải thừa hưởng của cải vật chất. Sau đó Tôn giả Xá Lợi Phất tiếp tục đề tài này bằng cách giải thích làm thế nào các đệ tử cần phải tu tập để trở thành những vị thừa kế của Phật trong lĩnh vực Pháp.

II. Tóm Tắt

Phật nói kinh này vì có nhiều Tỳ kheo khởi tâm ưa thích danh dự lợi dưỡng mà quên việc tu tập viễn ly. Ngài thường thao thức mong sao đệ tử Ngài sẽ là những người thừa kế Pháp thay vì thừa kế vật chất. Nếu đệ tử trở thành kẻ thừa kế vật chất thì cả Thầy lẫn trò đều mang tiếng. Người nào y theo lời Phật dạy mà hành trì, sống thiểu dục tri túc, thì dễ nuôi, đáng được kính nể.

Tiếp theo, Tôn giả Xá Lợi Phất triển khai lời dạy vắn tắt của Phật như sau. Có hai trường hợp: một là Đạo sư sống viễn ly mà đệ tử không học theo; hai là đệ tử học theo bậc Đạo sư sống viễn ly, gồm ba việc:

1. Thực hành viễn ly;

2. Từ bỏ những gì Phật dạy cần phải từ bỏ;

3. Không sống buông lung, lười biếng.

Tỳ kheo nào, dù thuộc hàng Thượng tọa thâm niên, hay Trung tọa, hay Hạ tọa mới tu, nếu làm ba việc ấy là đáng tán thán, làm ngược lại thì đáng quở trách.

Các pháp cần từ bỏ gồm 16:

Tham, sân, phẫn nộ, hiềm hận,

giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn,

man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột,

ngã mạn, tăng thượng, tự kiêu, phóng dật.

III. Chú Giải

Viễn ly gồm ba là: thân viễn ly, tức cư trú nơi núi rừng; tâm viễn ly là thiểu dục tri túc; hữu viễn ly là xa lìa tham đắm ba cõi.

Về 16 pháp, bản Anh ngữ:

- Greed, hate, anger, revenge

- contempt (khinh miệt), domineering attitude (thống trị), envy, avarice

- deceit, fraud, obstinacy, presumption

- conceit, arrogance, vanity, negligence.

Ðấy là những pháp mà bậc Đạo sư dạy đệ tử cần phải từ bỏ, vì chúng làm nên những người thừa tự tài vật. Từ bỏ chúng, đào luyện tám chính đạo thì sẽ thành những người thừa tự Pháp của Ngài, hướng đến Niết bàn tịch tịnh.

IV. Pháp Số Liên Hệ

Ba việc đáng quở trách nơi đệ tử: bậc Ðạo sư sống viễn ly, đệ tử không học theo; những gì Đạo sư dạy từ bỏ đệ tử không từ bỏ; sống dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng viễn ly.

Ba việc đáng tán thán là học theo bậc Ðạo sư, sống viễn ly; từ bỏ những gì Phật dạy từ bỏ; không lười biếng mà bỏ rơi gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu về viễn ly.

Ba viễn ly: thân, tâm và hữu.

Thánh đạo tám ngành: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tiến, Chánh niệm, Chánh định.

V. Kệ Học Thuộc Lòng

1. Ðệ tử thừa kế Pháp

Hơn thừa tự vật chất

Nếu chỉ thừa hưởng vật,

Làm mang tiếng cả Thầy.

2. Thừa tự Pháp nghĩa là

Những gì Phật dạy bỏ

Ðệ tử hãy từ bỏ,

Tức là mười sáu pháp:

tham lam và giận dữ

phẫn nộ và hiềm hận

giả dối và não hại

tật đố và xan lẫn

man trá và phản bội

ngoan mê và bồng bột

ngã mạn và tăng thượng

phóng dật và tự kiêu.

3. Từ bỏ mười sáu pháp

Ðào luyện tám Thánh đạo

Xứng kẻ thừa tự Pháp

Hưởng Niết bàn an vui.

Trung Bộ Kinh - Bài Kinh Số 4: Sợ Hãi Và Khiếp Đảm

I. Toát Yếu

Bhayabherava Sutta - Fear and dread.

The Buddha describes to a bradhmin the qualities required of a monk who wishes to live alone in the forest. He then relates an account of his own attempts to conquer fear when striving for enlightenment.

Phật mô tả cho một Bà la môn biết những đức tính cần thiết mà một Tỳ kheo phải hội đủ nếu muốn sống độc cư ở rừng núi. Rồi Ngài kể lại cách Ngài chinh phục sự sợ hãi khi Ngài đang còn nỗ lực để đạt giác ngộ.

II. Tóm Tắt

Bà la môn Janussoni đến thăm Phật trong rừng Kỳ Đà và ca tụng Phật đã giúp ích nhiều cho các Tỳ kheo, vì quả thực rất khó kham nhẫn đời sống ở rừng núi. Theo ông, rừng núi làm rối loạn tâm trí Tỳ kheo nào chưa chứng các Thiền. Phật xác nhận lời nói của Bà la môn, và dạy sở dĩ Tỳ kheo khó kham nhẫn đời sống viễn ly ở núi rừng, nổi lên sợ hãi, là vì còn có 16 ô nhiễm:

- không thanh tịnh thân, khẩu, ý, mạng;

- nhiều tham dục, sân hận ác ý, hôn trầm, trạo cử;

- hoài nghi, khen mình chê người, run rẩy sợ hãi, ham lợi;

- lười biếng, thất niệm, tán loạn, ngu đần.

Phật không có những lỗi như trên mà có những đức ngược lại, nên Ngài rất an ổn khi sống ở rừng núi. Phật cho biết lúc còn tu tập, vào những đêm không trăng, Ngài cố đến những nơi nổi tiếng nhiều ma để thử. Mỗi khi cơn sợ hãi nổi lên, Ngài vẫn giữ nguyên tư thế để diệt trừ nỗi sợ trong tâm. Ngài không làm như người ta thường làm mỗi khi bị khiếp đảm là đổi tư thế (như bỏ chạy), hoặc tưởng tượng đêm là ngày, vì Ngài cho đó là hành động si ám. Ngài là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng nhân loại và chư thiên.

Nhờ chân chính quán sát bản thân không lỗi, Ngài cảm thấy tự tin khi sống ở núi rừng, tinh tấn tu tập chứng bốn Thiền và ba minh. Canh một, Ngài chứng Túc mạng trí, nhớ được tất cả đời trước của mình; canh hai chứng Thiên nhãn minh, thấy sự sống chết của tất cả chúng sinh tùy theo hành nghiệp, gọi là Sinh tử trí hay Tùy nghiệp thú trí. Và cuối cùng canh ba Ngài chứng Lậu tận minh, hoàn toàn giải thoát, thành Phật.

Sau khi đạt thành chính giác, Phật vẫn cư trú trong rừng núi vì hai lý do: tự thân Ngài cảm thấy thoải mái, và vì lòng thương tưởng hậu lai (nêu gương).

III. Chú Giải

IV. Pháp Số Liên Hệ

Ba nghiệp: (hành động cố ý về) thân, lời, ý.

Ba minh (trí): túc mạng, sinh tử (còn gọi thiên nhãn minh, hay tùy nghiệp thú trí), lậu tận.

Ba độc: tham, sân, si.

Bốn Thiền

Bốn chân lý

Năm triền cái: tham dục, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi.

V. Kệ Học Thuộc Lòng

1. Muốn đắc các Thiền chứng

Và đoạn tận vô minh

Cần núi rừng nương ở

Với mười sáu điều kiện:

Thân, khẩu, ý, thanh tịnh

Cách sinh hoạt thanh tịnh,

Không tham, sân, ít ngủ,

Không trạo cử, hoài nghi

Không khen mình chê người,

Không sợ hãi, hám lợi;

Không lười biếng, thất niệm,

Không tán loạn, ngu đần.

2. Phật chân chính quán sát

Bản thân được như trên

Nên Ngài không sợ hãi

Khi độc cư rừng núi.

Nhờ tinh tấn hành Thiền

Ngài chứng được ba minh:

Canh một chứng túc mạng

Nhớ hết các đời trước

Ðại cương và chi tiết.

Canh hai chứng thiên nhãn

Sống chết và nghiệp báo

Của các hạng chúng sinh

Phật đều thấy tận tường.

Canh ba chứng lậu tận

Liễu tri cả bốn đế

Như tối diệt, sáng sinh.

Sau khi Ngài đắc đạo

Vì thương tưởng hậu lai

Vì hiện tại lạc trú

Phật vẫn ở núi rừng.