Home Chư Kinh Giảng Giải Chú giải Kinh Bắc Truyền Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương - Php Hoa Kinh Thm Nghĩa Đề Cương Ph.20 -
10 | 09 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương - Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.20 - PDF. In Email
Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
Viết bởi Thích Từ Thông   
Chỉ mục bài viết
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.3 -
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.8 -
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.12 -
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.16 -
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.20 -
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.25 -
Tất cả các trang

Phẩm 20: Thường Bất Khinh Bồ Tát.

Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ tát Đắc Đại Thế:

“Ngươi nay nên biết, nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di trì kinh Pháp Hoa mà bị mắng nhiếc chê bai, thì người mắng nhiếc chê bai mắc tội báo rất lớn, còn người trì kinh được công đức thanh tịnh lục căn.

Này Đắc Đại Thế! Thuở xưa cách nay vô lượng vô biên số kiếp, có Phật hiệu Oai Âm Vương ra đời, nhằm thời kiếp Ly Suy, tại nước Đại Thành. Phật vì người cầu quả Thanh văn nói pháp Tứ đế; vì người cầu quả Bích chi Phật nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên; vì hàng Bồ tát cầu Vô thượng giác, nói pháp sáu Ba la mật dẫn dắt đến cứu cánh Phật tuệ.

Đắc Đại Thế! Phật Oai Âm Vương sống lâu 40 ức na do tha hằng sa kiếp! Chánh pháp của Phật trụ trong một số kiếp nhiều như vi trần của một thế gian! Thượng pháp trụ trong một số kiếp nhiều như vi trần của bốn châu. Sau khi Phật Oai Âm Vương diệt độ, Chánh Pháp, Tượng Pháp diệt hết có đức Phật khác ra đời, cũng có một hiệu là Oai Âm Vương. Sau đó, tuần tự, có hai muôn ức Phật ra đời cùng một danh hiệu.

Phật Oai Âm Vương đầu tiên diệt độ và sau lúc Chánh Pháp diệt hết trong thời Thượng pháp, các Tỳ kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Bấy giờ có một Bồ tát tên Thường Bất Khinh. Sở dĩ có tên này là vì mỗi khi gặp các hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Bồ tát lễ lạy khen ngợi: “Tôi rất kính quý vị, không dám khinh quý vị. Vì quý vị đều đi trên đường Bồ tát và sẽ được làm Phật.” Bồ tát Thường Bất Khinh không hề đọc kinh điển, chỉ thực hành việc lễ bái, thậm chí hễ xa thấy tứ chúng là lạy nói: “Tôi chẳng dám khinh quý vị, quý vị đều sẽ làm Phật.”

Trong tứ chúng có người lòng bất tịnh, giận mắng:

“Ông vô trí Tỳ kheo này ở đâu đến mà cứ nói tôi chẳng dám khinh quý vị, rồi lại thọ ký chúng tôi sẽ thành Phật; chúng tôi không dùng lời thọ ký bá láp đó đâu.”

Tuy trải qua nhiều năm bị mắng nhiếc, Bồ tát Thường Bất Khinh không giận hờn, cứ luôn nói: “Quý vị sẽ làm Phật.” Lắm khi bị đánh bằng gậy, bị ném gạch đá, Bồ tát chạy tránh ra xa, miệng vẫn nói: “Tôi chằng dám khinh quý vị, quý vị đều sẽ làm Phật.” Vì đó mà ông được gọi tên là Thường Bất Khinh.

Lúc Bồ tát Thường Bất Khinh sắp mệnh chung, trong hư không nghe trọn hai mươi ngàn muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa của Phật Oai Âm Vương đã nói thuở trước. Nghe xong Bồ tát thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi, vì người rộng nói kinh Pháp Hoa.

Lúc đó, những người trong tứ chúng trước kia đã khinh rẻ Bồ tát Thường Bất Khinh, nay thấy Bồ tát được sức thần thông, sức nhạo thuyết biện tài, sức đại thiện tịch và nghe Bồ tát thuyết pháp, đều tin phục và theo làm đệ tử.

Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa ngàn muôn chúng khiến không suy thoái trên đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những chúng ấy, sau khi mệnh chung, được gặp 2 ngàn ức Phật đồng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh trong hội Pháp Hoa. Nhờ nhân duyên đó, những chúng ấy lại gặp 2 ngàn Phật đồng hiệu Vân Tự Tại Đăng Vương ở trong pháp hội của các đức Phật có thọ trì, đọc tụng vì hàng tứ chúng nói kinh Pháp Hoa, do vậy mà sáu căn được thanh tịnh, thuyết pháp cho tứ chúng nghe mà không sợ sệt.

Này Đắc Đại Thế! Sau khi cúng dường cung kính, tôn trọng bao nhiêu đức Phật như thế và trồng các rễ lành, cuối cùng Bồ tát Thường Bất Khinh lại gặp ngàn muôn ức Phật ở trong pháp hội của chư Phật đó nói kinh Pháp Hoa. Do vậy mà thành tựu công đức vô biên và sẽ được thành Phật.

Này Đắc Đại Thế! Bồ tát Thường Bất Khinh thuở ấy đâu phải người nào lạ! Chính là thân ta hiện nay vậy. Nếu đời trước ta chẳng thọ trì, đọc tụng và giải nói cho người khác nghe kinh này, thì ta chẳng thể mau được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vì ta đã ở trong cõi nước của chư Phật, thọ trì, đọc tụng vì người khác nói kinh này, nên mau được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Này Đắc Đại Thế, những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thuở ấy, vì khinh tiện ta, nên trong hai trăm ức kiếp luôn luôn chẳng gặp Phật, chẳng gặp Pháp, chẳng thấy Tăng, ngàn kiếp ở Địa ngục chịu khổ não lớn. Hết tội rồi, lại gặp Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa cho đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Này Đắc Đại Thế! bốn chúng đã khinh khi Bồ tát Thường Bất Khinh nào phải ai lạ chính đó là những người hiện nay đều là bậc bất thối chuyển trên đường Chánh giác, tức là bọn 500 Bồ tát của Bạc đà bà la, bọn 500 Tỳ kheo của Sư tử nguyệt, bọn 500 Ưu bà tắc của Ni Tư Phật, đang ở trong pháp hội này.

Này Đắc Đại Thế! phải biết kinh Pháp Hoa này rất lợi ích cho các đại Bồ tát có thể giúp họ đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho nên sau khi Phật diệt độ, phải thường thọ trì, đọc tụng, giải nói.”

Đức Phật bèn đọc một bài kệ nhắc lại nghĩa trên.

THÂM NGHĨA

Thường Bất Khinh là danh hiệu do những Tỳ kheo và những người Tăng thượng mạn đặt, để tặng cho người với ác ý mỉa mai khinh thị. Nhưng với hệ giáo lý thuần viên độc diệu của Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ tát là một âm thanh réo gọi, thức tỉnh những ai còn mê mệt, mơ hồ về Tri Kiến Phật, và khả năng thành Phật của mình.

Trong tất cả thứ khinh, khinh khả năng thành Phật của mình là tai họa, là thiệt thòi lớn lao hơn hết. Chàng cùng tử sở dĩ đói khổ lang thang, chỉ vì không nhận biết ở vạt áo mình có hạt bảo châu vô giá.

Vấn đề khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Vấn đề Phật thọ ký tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật, đến đây càng thấy rõ, những vấn đề đó đã có từ thời Phật Oai Âm Vương mà người truyền bá tích cực cái chân lý đó, là Bồ tát Thường Bất Khinh vậy.

Phật Oai Âm Vương xuất thế độ sanh hai muôn ức Phật tiếp nối ra đời có cùng một hiệu Oai Âm Vương như vậy. Sự việc đó, nhằm nói lên cái ý:

Tâm trước tâm sau là một.

Chân lý trước, chân lý sau không khác.

Đề cập sự kiện Oai Âm Vương Phật ở phẩm 20 là một dấu hiệu chỉ dẫn hướng đi, để dẫn đến hành pháp, cách tu quán niệm “Diệu Âm” và “Quán Thế Âm” ở phẩm 24 và 25 sau này.

Vấn đề âm văn là vấn đề quan trọng bậc nhất, vì phù hợp căn cơ chúng sanh ở cõi Ta bà, sau khi so sánh 25 cách tu qua 18 giới và 7 đại, đúc kết thành quả, Bồ tát Văn Thù bạch Phật:

“Phật xuất Ta bà giới

Thử phương chân giáo thể

Thanh tịnh tại âm văn

Dục thủ tam ma đề

Thực tùng văn trung nhập”

Cách giáo hóa cõi này

Bén nhạy ở âm văn

Muốn được tam ma đề

Phải từ nghe mà nhập. (Kinh Thủ Lăng Nghiêm)

Oai Âm Vương Phật, phải được hiểu là Phật tâm, tiếng lòng trong trắng của con người, khi con người còn “oai quyền”, còn khả năng tự chủ. Phật xuất hiện ở kiếp Ly Suy, nghĩa là ở vào thời điểm mà tâm không có các suy tàn bệ rạc: Tham, Sân, Si, Mạn… Đó là thời điểm Phật Oai Âm Vương hiện ở lòng ta. Và cũng chính lúc đó là lúc Oai Âm Vương Phật ở nước “Đại Thành” viên mãn nhất.

Nếu là thời kỳ Chánh pháp, những Tỳ kheo tăng thượng mạn chưa có cơ hội thao túng hoành hành. Bồ tát Thường Bất Khinh ở vào thời kỳ tượng pháp bấy giờ tăng thượng mạn Tỳ kheo,… có thế lực lớn mới áp đảo người lành, chỉ vì cái tội nói lên sự thật:

“Tôi không dám khinh các Ngài

Vì các Ngài đều sẽ thành Phật.”

Tu nhơn thành Phật, cốt ở chỗ nhận thức chân lý rồi thực hiện những gì phù hợp quy luật của chân lý. Nhận thức rõ quặng vàng rồi đem đốt, nung nấu, lọc thì vàng ròng sẽ hiển hiện ra. Bồ tát Thường Bất Khinh là người thực hành chân lý chỉ dạy ở kinh, mà không chuyên đọc tụng kinh điển qua ngữ ngôn văn tự:

Tế Điên Hòa thượng nói:

“Tụng kinh giả minh Phật chi lý” (Tụng kinh cốt để hiểu lý Phật dạy cái gì)

Phải “sắp chết”, có khi cần phải chết thật cũng nên. Có chết đi cái cũ kỹ, cái hạn hẹp, cái ô trược để có cái mới mẻ hơn, cái to lớn hơn, cái thanh tịnh hơn. Bồ tát Thường Bất Khinh chỉ qua một cơn “sắp chết” mà thâm nhập Pháp Hoa Tam muội vượt hơn gấp 20 nghìn muôn ức lần. Qua một cơn “sắp chết” để rồi sống thêm hai muôn trăm ức na do tha tuổi, để vì người giảng nói Pháp Hoa. Đó là sự phủ định để tiến lên theo đường xoắn trôn ốc trong quá trình tu tập vậy.

Chánh nghĩa sẽ thắng mặc dù quá trình tranh đấu có gian khổ gay go. Chân lý sẽ thắng mặc dù bọn người tăng thượng mạn, bọn người lợi dưỡng, bọn người kiến thủ áp đảo lấn lướt một thời. Bồ tát Thường Bất Khinh thành công trong Giải thoát tự tại, trong đại thiện tịch của mình. Nhóm người tăng thượng mạn… cuối cùng quay về quy thuận phục tùng chân lý.

Chánh nghĩa sáng ngời, chân lý luôn luôn tỏ rạng. Bồ tát Thường Bất Khinh an nhiên tự tại giảng kinh Pháp Hoa ở pháp hội của hai muôn ức Phật cùng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Và trong pháp hội của hai nghìn Phật cùng hiệu Vân Tự Tại Vương. Nói trắng ra: Bồ tát Thường Bất Khinh đường hoàng tự tại giảng nói kinh Pháp Hoa hướng dẫn chúng sanh đi trên con đường Phật, dưới bầu vũ trụ thêng thang, trời quang mây sáng, từ kiếp này sang kiếp khác, để hoàn thành sứ giả Như Lai, bồi dưỡng mãi lên cái nhân thành Phật cho mình.

Những người mắng nhiếc đánh đập Bồ tát Thường Bất Khinh, nghìn kiếp ở Địa ngục A tỳ, hai trăm ức kiếp không gặp Phật Pháp Tăng. Đó là điều chí lý. Bởi vì họ không chịu sống trong chân lý, trong ánh sáng thì họ sống trong mê mờ, trong bóng tối vậy. Sống trong mê mờ, trong bóng tối thì họ sẽ chịu khổ dài dài trong Địa ngục A tỳ. Bởi vì A tỳ ngục có nghĩa là chỗ thọ khổ liên tục, không có lúc được xả hơi.

Không biết mình có Phật chất, không hiểu được Tri Kiến Phật của mình, thì đừng mong gì thấy Phật ở một nơi nào khác. Pháp và Tăng cũng vậy. Người Phật tử phải học kỹ ba pháp tự qui y:

- Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh thể giải đại đạo phát Vô thượng tâm

- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng Trí tuệ như hải.

- Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.

Hiểu rõ ý nghĩa tam tự quy y, ta cũng có gặp gỡ Phật Pháp Tăng thường xuyên trong đời sống hàng ngày của ta đó.

Xưa kia là Bồ tát Thường Bất Khinh, nay là Phật Thích Ca hiện tại. Xưa kia là những người tăng thượng mạn, Tỳ kheo và Cư sĩ, nay là nhóm ông Bạt đa la 500 Bồ tát. Nhóm ông Sư Tử Nguyệt 500 Tỳ kheo, nhóm ông Ni Tư Phật 500 Ưu bà tắc.

Qua câu chuyện “bổn sanh”, “bổn sự” đó, người Phật tử thấy rằng: Gieo giống sớm thì thu hoạch sớm. Chần chờ ương hạt thì trái chín muộn hơn. Nhưng có cái vinh hạnh ưu việt chung cho tất cả mọi người: Dù sớm, dù muộn hạt giống Phật của mỗi người không đời nào mất!

Người Phật tử phải luôn luôn đừng khinh mình (Thường Bất Khinh). Mỗi chúng ta phải là một Bồ tát Thường Bất Khinh đối với chúng ta. Ngày đêm ta nên tự nhủ: “Ngươi sẽ thành Phật.”

Phẩm 21: Như Lai Thần Lực.

Lúc bấy giờ, vô số Bồ tát đã từ đất vọt lên ở trước Phật, tất cả đều nhất tâm chấp tay, chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch rằng:

“Thế Tôn! Sau Phật diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở xứ nào mà phân thân Phật đã diệt độ hết. Bởi vì chúng con cũng muốn đọc, tụng, biên chép, giảng nói để cúng dường “Đại Pháp Chân Tịnh” này.”

Lúc ấy, trước mặt Văn Thù Sư Lợi và vô lượng Bồ tát xưa kia ở thế giới Ta bà, cùng các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và Thiên long Bát bộ, Thế Tôn hiện sức thần thông lớn: le lưỡi rộng dài tới cõi trời Phạm thế và các lỗ chân lông phóng ra vô số hào quang đủ màu, khắp soi mười phương thế giới. Các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, cũng làm như thế: le lưỡi rộng dài và phóng ra vô lượng hào quang.

Đức Phật Thích Ca và các đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn trăm ngàn năm, sau đó mới rút lưỡi vô và đồng thời tằng hắng, cùng chung khảy móng tay. Hai tiếng vang đó lang khắp mười phương thế giới của chư Phật, Đại địa rung động sáu cách. Trời, rồng, Dạ xoa… người và loài chẳng phải người,… nhờ sức thần Phật đều thấy cõi Ta bà vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức Phật ngồi trên tòa sư tử, dưới những cây báu, thấy Phật Thích Ca và Đa Bảo Như Lai ngồi trên tòa sư tử trong tháp báu. Lại thấy vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức Bồ tát và tứ chúng cung kính vây quanh đức Phật Thích Ca. Tất cả đều vui mừng như được cái chưa từng có.

Ngay lúc ấy, chư thiên trong hư không lớn tiếng xướng lên: “Cách đây vô lượng thế giới, có nước tên là Ta bà, nơi ấy có Phật hiệu Thích Ca, hiện đang vì các Đại Bồ tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Các ngươi nên vui theo trong thâm tâm, cũng nên lễ bái cúng dường Phật Thích Ca.”

Chúng sanh nghe tiếng trong hư không ấy rồi bèn chấp tay, quay về cõi Ta bà, cử thanh niệm:

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật!”

Rồi dùng các món hoa, hương, chuỗi ngọc, cờ, lọng, xa rải xuống thế giới Ta bà. Các vật rải đó, từ mười phương đến ví như mây đùn, biến thành một bức màn báu trùm khắp không gian, phía trên chư Phật. Bấy giờ, thế giới mười phương thông suốt với nhau, không gì ngăn ngại, quốc độ chư Phật trở thành “Pháp giới không hai.”

Lúc bấy giờ, Phật bảo các hàng Bồ tát bậc thượng hạnh rằng: “Sức thần thông của chư Phật vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn như thế. Nếu ta dùng sức thần thông ấy mà nói bày công đức của kinh Diệu Pháp Liên Hoa để lưu truyền về sau, thì dầu có trải qua vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức kiếp cũng chẳng nói hết. Tóm lại tất cả pháp của Như Lai, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả kho tàng bí yếu của Như Lai, tất cả những điều hết sức thâm sâu của Như Lai đều được tuyên bố, bày giải, nói rõ trong Diệu Pháp Liên Hoa. Cho nên, sau Như Lai diệt độ, các người phải một lòng thọ trì, đọc tụng biên chép, giảng nói và tu hành đúng theo lời nói trong kinh. Nơi nước nào mà có người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, tu hành đúng theo lời kinh, hoặc chỗ nào có quyển kinh Pháp Hoa, bất luận nơi đó là: vườn, rừng, dưới cội cây, phòng chư tăng, nhà người thế tục, chỗ thờ Phật, núi hoang, đồng trống thì nên dựng tháp cúng dường. Phải biết chỗ có kinh đó là: đạo tràng, là nơi chư Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là nơi chư Phật chuyển Pháp luân, là nơi chư Phật nhập Niết bàn.

Để lập lại nghĩa vừa nói, Thế Tôn nói một bài kệ.

THÂM NGHĨA

Như Lai thần lực là sức thần Như Lai

Nói “sức thần Như Lai” là nói cái sức nhiệm mầu huyền diệu sự Giác ngộ chân lý tận cùng, sự Giải thoát cứu cánh của con người đạt đến đỉnh cao Trí tuệ. Sức thần Như Lai là kết quả của Giới, của Định, của Tuệ mà mọi người đệ tử Phật ai cũng có thể tu hành và thành tựu được sức thần đó. Cho nên sức thần Như Lai không được hiểu lầm với “Sức thần của Như Lai.” Bởi vì, nếu là sức thần “của Như Lai” thì mọi người không hy vọng nhờ cậy được gì. Phật “biểu diễn” sức thần là nhằm nhắc nhở cho hành giả Pháp Hoa và đề cao về Tri Kiến Phật của những người “Nhập Phật tri kiến” là thế đấy. Đạt đến đỉnh cao của Trí tuệ, thể nhập “Phật tri kiến” dùng sức tri kiến này mà quán sát thế giới mười phương, thì Thánh phàm không còn gì ngăn cách, chúng sanh và Phật đều thấy suốt được nhau trong một pháp giới “nhất chân” “bất nhị.”

Bằng tri thức của con người, qua quá trình tu tập Giới Định Tuệ, con người có thể đạt đến sức thần Vô thượng. Thể hiện khả năng đó, Thế Tôn ở trước Bồ tát, Bát bộ, Thiên long và tứ chúng hiện sức thần. Bày tướng lưỡi rộng dày đến cõi trời Phạm Thế. Tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng, vô số hào quang đủ sắc màu, khắp soi tất cả thế giới mười phương chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, có cả vô lượng phân thân Phật Thích Ca và chư Phật vị lai đều hiển hiện đồng thời. Sức thần Như Lai là thế đấy.

Vô lượng hằng hà sa Bồ tát “tùng địa dũng xuất” phát nguyện thọ trì truyền bá kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, sau Phật diệt độ, điều phát nguyện đó rất chánh đáng. Thế tại sao Phật chẳng đề cập, chẳng nói năng gì?

Sự kiện này có thể hiểu qua 2 ý:

1. Theo tập quán thông lệ của Phật, khi có người tác bạch cúng dường hay thỉnh nguyện điều chi, nếu chấp nhận thì mặc nhiên không nói, không chấp nhận bấy giờ đức Phật mới nói lý do.

2. Chấp nhận bằng lối “mặc nhiên” ở đây còn có ý nghĩa sâu xa, tuy không nói mà nói rất nhiều. Rằng: “Bồ tát các ông chẳng những nên thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, tùy hỉ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng ngữ ngôn văn tự mà còn phải dẫn dắt chúng sanh đến chỗ ngôn vô ngôn ngôn, hành vô hành hạnh, nghĩa là nói bằng cách nói không lời, hành bằng cái hạnh vô hành nữa!

Lời nói của Như Lai là “chân chính”, là “thành thực” lời nói trước sau như một “lời nói không có ý xấu dối gạt” chúng sanh. Lời nói được đảm bảo bằng chân lý, có giá trị trùm khắp ba ngàn thế giới đại thiên. Như Lai hiện bày “tướng lưỡi rộng dài” (Quảng trường thiệt tướng là một trong 32 tướng tốt của đức Phật) để khẳng định với tất cả chúng sanh điều đó.

Hướng dẫn chúng sanh tu hành phương cách nào có kết quả tốt nhất:

Hãy tu cách quán niệm âm văn. Hãy niệm: Oai Âm Vương Phật, Diệu Âm Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát mà đức Phật sẽ dạy kỹ ở sau này.

Bởi vì:

Phật xuất Ta bà giới...

Thanh tịnh tại âm văn…

Phật Thích Ca và vô lượng vô số phân thân Phật, sau khi thu hoàn tướng lưỡi, cùng một lúc tằng hắng và khảy móng tay. Đó là cách trả lời, đồng thời là cách hướng dẫn cho vô lượng Bồ tát về công tác giáo hóa chúng sanh ở cõi Ta bà đó.

Chư Thiên và các hạng chúng sanh ở các cõi nước trong mười phương, hướng về cõi Ta bà tán thán Phật, tán thán Pháp Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa là rất đúng thời. Bởi vì sức thần Phật đến đây đã viên mãn. Từ Trí tuệ nhận thức thế giới, phiến diện có đối tượng “năng”, “sở” hiển nhiên, từ phóng hào quang soi sáng nhận thức thế giới toàn diện, “pháp giới nhất chân”, “bất nhị.” Đó là quá trình tiến triển, lên tột đỉnh của con đường xoắn trôn ốc rồi. Cho nên tất cả chư Thiên chấp tay hướng về cõi Ta bà niệm:

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật…”

Chỉ có kinh Pháp Hoa tuyên bày nói rõ tất cả thần lực Như Lai, tất cả tạng bí yếu Như Lai, tất cả việc sâu thẳm Như Lai. Cho nên, Bồ tát Thượng Hạnh… các ông phải thọ trì, đọc tụng, như thuyết mà tu hành. Đức Phật nói tiếp:

Chỗ nào có quyển kinh này nên dựng tháp cúng dường. Chỗ đó là đạo tràng, các đức Phật ở đó mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các đức Phật ở đó mà chuyển Pháp luân, các đức Phật ở đó mà nhập Niết bàn. Còn người nào tu học kinh này, thực hành đúng như lời kinh, nên chỉ người đó mà nói rằng:

“Ngài là Phật!”

Phẩm 22: Chúc Lụy.

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ pháp tòa đứng dậy, hiện sức thần lớn, dùng tay mặt xoa đầu vô lượng đại Bồ tát mà nói rằng:

Trong vô lượng trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp, ta đã tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó được này, nay đem giao cho các ngươi, các ngươi nên hết lòng truyền bá để đem lại sự ích lợi cho nhiều người.

Đức Phật ba phen xoa đầu các Bồ tát và ba phen lập lại câu nói trên.

Như Lai có Từ bi lớn, không tham tiếc cũng không có điều sợ sệt, năng cho chúng sanh Trí tuệ Phật, Trí tuệ Như Lai, Trí tuệ tự nhiên. Như Lai là đại thí chủ của tất cả chúng sanh, các ngươi nên thọ học theo pháp của Như Lai, chớ nên tham tiếc. Đời sau, nếu có trai lành gái thiện nào tin Trí tuệ Như Lai thì các ngươi nên vì những người ấy mà diễn nói Kinh Pháp Hoa, để họ nghe biết tu hành, thành tựu được Phật tuệ. Nếu gặp hạng chúng sanh không tin lãnh lời kinh, thì nên dùng pháp khác trong các giáo pháp thâm diệu của Như Lai mà chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng. Làm được như thế là các ngươi đã báo ân Phật rồi vậy.

Khi nghe Phật nói xong, các Đại Bồ tát đều cảm thấy sự vui mừng lan khắp thân thể. Lòng thêm cung kính, các Bồ tát nghiêng mình cúi đầu, chấp tay hướng Phật đồng bạch: Chúng con sẽ làm đầy đủ theo lời Thế Tôn dạy, kính xin Thế Tôn đừng lo nghĩ nữa!

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca truyền cho các phân thân Phật đã từ mười phương đến, đều trở về nước mình và nói rằng:

“Chư Phật mỗi vị tùy chỗ an trú của mình mà trở về bổn độ tháp của Phật Đa Bảo hoàn nguyên bản vị”

Trong lúc Phật nói, mười phương vô lượng phân tâm Phật đang ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu, cùng Phật Đa Bảo với vô biên vô số Bồ tát như Xá Lợi Phất… hàng Thanh văn, bốn chúng và tất cả thiên, nhân, A tu la, nghe lời Phật nói đều rất vui mừng.

THÂM NGHĨA

Chúc lụy có nghĩa là dặn dò, uỷ thác, là giao phó.

Trước khi chết, cha gọi các con dạy bảo những điều đạo đức cần có để sống ở đời. Trò sắp xa Thầy, Thầy truyền đạt cho những ngón nghề tâm huyết sâu xa trong học vấn… Ở đây Phật dặn dò uỷ thác cho các Bồ tát “Phật sự” trọng đại, để lợi lạc chúng sanh. Ý nghĩa chúc lụy đại để giống lời cha, lời Thầy dạy cho con, cho trò trước khi xa cách.

Bồ tát tâm nào cũng ở trong Phật tâm. Bồ tát hạnh nào cũng phát xuất từ Phật hạnh, cho nên Bồ tát dù đông vô lượng, nhưng vẫn ở trong “tầm tay” Phật mà thôi. Đó là ý nghĩa “Phật hiện sức thần lớn” xoa đảnh vô lượng Bồ tát.

Phật “chúc lụy” cho Bồ tát, những bậc thượng căn thượng trí nên hiểu đó là câu chuyện: “lòng dặn lòng”

Lời chúc lụy đầu tiên của Phật là uỷ thác: “Pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó được.” Các Bồ tát phải hết lòng lưu bố cho thêm nhiều, rộng.

Qua ba phen xoa đảnh vô lượng Bồ tát, Phật nói lên lời ủy thác lần hai: Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức A tăng kỳ kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó được này, nay đem phó chúc cho các ông. Bồ tát các ông phải thọ trì đọc tụng tuyên nói pháp này cho tất cả chúng sanh đều được nghe biết.

Nếu là pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì có gì thọ trì đọc tụng. Ở đây Phật 3 phen xoa đảnh Bồ tát dặn dò: Phải thọ trì đọc tụng mà truyền rộng thế có nghĩa là:

Pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một.

Giá trị kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa ngang bằng giá trị quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.

Các đại sự nhân duyên xuất thế của Phật nhằm: “mang đến cho” chúng sanh Trí tuệ Phật, Trí tuệ Như Lai, Trí tuệ tự nhiên, Như Lai có lòng Từ bi lớn, là thí chủ của tất cả chúng sanh, Như Lai không có lòng bỏn xẻn. Nếu có thiện nam tín nữ nào tin Trí tuệ Như Lai, Bồ tát các ông phải vì họ giảng nói kinh Pháp Hoa cho họ được nghe biết, nhằm khiến cho họ được Trí tuệ Phật.

Tuy vậy, cũng không nên cố chấp khư khư một mực. Nếu có chúng sanh chưa tin nổi Trí tuệ Phật thì có thể nói “Pháp Như Lai” sâu mầu khác, chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng. Làm được vậy là Bồ tát các ông, báo đáp thâm ân chư Phật.

Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin đức Thế Tôn chớ có lo. Các Bồ tát ân cần trịnh trọng nói ba lần như vậy. Điều đó có nghĩa là các Bồ tát đã hiểu kỹ rằng: Thế nào là đền đáp thâm ân chư Phật của một Bồ tát rồi. Đã biết vai trò nhiệm vụ một Bồ tát trưởng tử Phật, phải làm gì rồi. Đã biết giá trị kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa tầm vóc ngang bằng của Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi vậy.

Phật tử chúng ta thọ trì, đọc tụng, tu học Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đến đây đã biết được gì rồi nhỉ?

Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự.

Lúc bấy giờ Bồ tát Tú Vương Hoa bạch Phật:

“Thế Tôn! Làm thế nào mà Bồ tát Dược Vương du hành tự tại nơi thế giới Ta bà? Bồ tát Dược Vương có bao nhiêu ngàn muôn ức hạnh khổ khó làm? Nguyện Thế Tôn giải nói một ít cho Thiên long, Bát bộ, cho các hàng Bồ tát từ nước khác đến cùng hàng Thanh văn ở đây nghe, để tất cả đều được vui mừng.”

Phật đáp:

Trong quá khứ cách nay vô lượng hằng sa kiếp, có Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức. Ngài có 80 ức đại Bồ tát, 70 hằng sa đại Thanh văn, thọ 42 ngàn kiếp, chư Bồ tát cũng sống lâu như thế. Trong nước của đức Phật ấy không có Đàn bà, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A tu la… cũng chẳng có các khổ nạn. Đất bằng lưu ly, mặt phẳng như bàn tay, có trồng cây báu trên có màn báu bao trùm, tràng phan, hoa báu buông thòng. Khắp nước, bình báu, lò hương dẫy đầy. Cách mỗi cây khoảng một lằn tên có một đài bằng bảy báu. Dưới những cội cây ấy, có chư Bồ tát, Thanh văn ngồi. Trên mỗi đài trăm ức chư Thiên trỗi nhạc trời, hát múa cúng dường Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức nói kinh Pháp Hoa cho Bồ tát Nhất thiết Chúng sanh Hỉ kiến cùng các hàng Bồ tát, Thanh văn nghe.

Bồ tát Hỉ kiến ưa tu tập khổ hạnh, trong pháp của Phật Tịnh Minh Đức Tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mà mãn 12.000 năm, được Chánh định “Hiện nhất thiết sắc thân.” Bồ tát mới tự nói trong lòng: “Được Chánh định này là nhờ nghe kinh Pháp Hoa. Vậy ta nên cúng dường Phật Tinh Minh Đức và kinh Pháp Hoa.” Tức thời Bồ tát nhập định, trong hư không rưới các thứ hoa hương cõi trời cúng dường Phật.

Cúng dường xong, Bồ tát xuất định và tự nói trong lòng: “Tuy ta đã dùng thần lực cúng dường Phật, nhưng sao bằng lấy thân cúng dường.” Bồ tát liền uống các chất thơm, kế uống dầu làm bằng các thứ hoa thơm mãn 1.200 năm, rồi lấy dầu thơm thoa thân, dùng áo báu cõi trời quấn mình trước đức Phật Tịnh Minh Đức, rưới các thứ dầu thơm lên áo và dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân. Ánh sáng tỏa soi 80 ức hằng sa thế giới. Trong ánh sáng ấy, chư Phật đồng thời đều khen: “Lành thay! Lành thay! Như vậy mới thật là Tinh tấn, mới thật là cúng dường Pháp. Các lối cúng dường khác bằng hương hoa, chuỗi ngọc… đều chẳng bằng, thậm chí đem cả một nước thành quách, vợ con mà bố thí cũng chẳng bằng. Trong các lối bố thí, bố thí thân là bậc nhất.”

Nói xong, chư Phật im lặng. Lửa thân Bồ tát cháy trót 1.200 năm mới tắt.

Cúng dường Pháp xong và sau khi mạng chung, Bồ tát Hỉ Kiến phục sanh trong nước Phật Tịnh Minh Đức, tại nhà vua Tịnh Đức, phục sanh một cách bỗng nhiên, trong trạng thái ngồi kiết già. Hóa sanh xong bèn vì cha đọc bài kệ:

Đại Vương nay nên biết

Nhờ kinh hành nơi ấy

Tức thời đặng tất cả

Chánh định trong các thân

Sau cần cố gắng hơn

Nên bỏ thân yêu mến

Dâng cúng dường Thế Tôn

Để cầu tuệ Vô thượng.

Nói xong, thưa với vua cha: “Trước cúng dường Phật Tịnh Minh Đức, tôi “giải được tất cả Đà la ni của tiếng nói chúng sanh”, kế lại nghe vô số kệ của Kinh Pháp Hoa. Nay Phật Tịnh Minh Đức vẫn còn, tôi xin cúng dường nữa. Bồ tát bèn ngồi lên đài bảy báu, bay lên hư không, qua đến chỗ Phật Tịnh Minh Đức, làm lễ và đọc một bài kệ khen Phật:

Lạ lùng thay dung nhan

Mười phương soi ánh sáng

Tôi đã từng cúng dường

Nay lại còn thân kiến.

Nói kệ xong, Bồ tát Hỉ Kiến bạch Phật Tịnh Minh Đức rằng: “Thế Tôn còn trụ thế chứ?” Đức Phật bảo: “Giờ diệt độ đã đến, ngươi nên sắp đặt gường đi, ta trong đêm nay sẽ nhập Niết bàn.” Phật lại nói thêm: “Ta nay giao phó Phật – Pháp và Vô thượng giác cho ngươi, cho các Bồ tát và các Đại Đệ Tử. Ta cũng giao cho ngươi ba ngàn đại thiên thế giới, bảy báu, các cây báu, đài báu và chư thiên hầu hạ. Sau khi ta diệt độ, ta cũng giao cho ngươi tất cả Xá Lợi của ta, ngươi nên lưu bố khắp nơi để cho đông người được xây nhiều tháp cúng dường.” Đến cuối đêm, Phật Tịnh Minh Đức nhập Niết bàn.

Bồ tát Hỉ Kiến đã dùng gỗ chiên đàn làm giàn hỏa thiêu, thâu Xá Lợi đựng vào 84.000 bình báu, xây 84.000 ngọn tháp cao ba thế giới.

Bây giờ, Bồ tát lại tự nghĩ: Cúng dường Xá Lợi như thế chưa đủ. Bèn ở trước 84.000 ngọn tháp, đốt 2 cánh tay được trang nghiêm bằng trăm phước, suốt 72.000 năm, khiến vô số hạng cầu quả Thanh văn và vô lượng người phát tâm cầu Vô thượng giác đều đứng vững trong Chánh định “Hiện nhất thiết sắc thân.”

Các Bồ tát, Trời, Người, A tu la… thấy vậy đều sầu khổ buồn thương. Bồ tát trong đại chúng, bèn lập thệ: Ta bỏ 2 tay ắt sẽ được thân Phật. Nếu quả đúng như vậy, thì xin cho 2 tay ta tự nhiên trở lại, ấy là nhờ phước đức và Trí tuệ thuần hậu của Bồ tát.

Đức Phật Thích Ca hỏi Bồ tát Tú Vương Hoa: “Ý ngươi nghĩ sao? Bồ tát Hỉ Kiến thuở xưa đâu phải ai lạ, chính nay là Bồ tát Dược Vương đó. Ông ấy đã xả bỏ, bố thí, vô lượng số thân như thế. Này Tú Vương Hoa, ai phát tâm muốn được Đạo Vô thượng mà đốt ngón tay hay ngón chân cúng dường Tháp Phật, còn hơn người dùng nước, thành, vợ, con cùng trân bảo trong 3.000 đại thiên thế giới mà cúng dường. Còn ai dùng bảy báu trong khắp 3.000 đại thiên thế giới mà cúng dường Phật, Bồ tát, Duyên giác, La hán, cũng không có công đức bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa, chừng một bài kệ bốn câu.

Tú Vương Hoa, trong các dòng nước, biển là bậc nhất. Cũng thế, trong các kinh của Như Lai nói, kinh Pháp Hoa là sâu lớn hơn hết.

Trong các thứ núi, núi Tu di là bậc nhất. Trong các thứ kinh, Kinh Pháp Hoa là cao hơn hết.

Trong các tinh tú, mặc trăng là bậc nhất. Trong các kinh, Kinh Pháp Hoa là sáng soi hơn hết.

Như mặt trời năng trừ mọi thứ tối tăm. Kinh Pháp Hoa năng phá tất cả những tối tâm của cái chẳng lành.

Trong các hàng Tiểu vương, Đại đế là bậc nhất. Trong các thứ kinh, Kinh Pháp Hoa đáng tôn trọng hơn hết.

Như Đế Thích làm vua thống ngự 33 cõi trời, Kinh Pháp Hoa và vua các kinh.

Như Phạm Thiên là cha của tất cả chúng sanh. Kinh Pháp Hoa là cha của tất cả Hiền Thánh.

Trong hàng Phàm phu, Tứ Thánh, và Duyên giác là bậc nhất. Trong tất cả các kinh do Như Lai, Bồ tát, Thanh văn nói, Kinh Pháp Hoa là bậc nhất trong hàng chúng sanh.

Trong tất cả Thanh văn và Duyên giác, Bồ tát là bậc nhất. Trong tất cả các kinh, Kinh Pháp Hoa là bậc nhất.

Như Phật là vua các pháp, kinh này là vua của các kinh.

Tú Vương Hoa! Kinh này có thể cứu tất cả chúng sanh, làm cho chúng sanh xa rời các khổ não; Kinh này có thể cho chúng sanh nhiều lợi ích, làm thỏa mãn những mong cầu của chúng sanh, như ao nước trong có thể làm thỏa mãn người khát nước. Như người lạnh được lửa, như trần truồng được quần áo, như đi buôn gặp người dẫn mí, như con gặp mẹ, như muốn qua sông gặp thuyền, như bệnh gặp Thầy, như tối được đèn, như nghèo được báu, như dân được vua, như hàng hải gặp biển, như đuốc trừ tối. Kinh Pháp Hoa này cũng thế, có thể làm cho chúng sanh xa lìa mọi thứ thống khổ, mọi thứ bệnh tật, có thể cởi mở sự trói buộc của sanh tử.

Ai nghe được kinh này, hoặc tự mình chép, hoặc bảo người chép, thì được công đức nhiều cho đến nỗi Trí tuệ Như Lai cũng không ước tính được. Nếu chép kinh này mà còn dùng các thứ hoa hương, đèn dầu cúng dường, cũng được vô lượng công đức như thế.

Tú Vương Hoa! Ai nghe phẩm “Bồ tát Dược Vương Bổn Sự” này cũng được vô biên công đức. Nếu là đàn bà thì sau khi dứt báo thân, không còn trở lại làm đàn bà nữa. Năm trăm năm sau Phật diệt độ, người nữ nào nghe kinh này và tu hành đúng theo lời kinh dạy, khi mạng chung, được vãng sanh nơi thế giới thanh tịnh và an lạc.

Bây giờ, các đức Phật đồng khen: Hay thay! Lành thay! Này thiện nam tử, ngươi có thể trong pháp của Phật Thích Ca mà thọ trì, đọc tụng, suy gẫm Kinh Pháp Hoa và nói cho người khác nghe, ngươi đặng công đức vô lượng vô biên, lửa chẳng đốt được, nước chẳng làm trôi, phá được giặc ma, đánh bại quân sanh tử và diệt trừ các quân thù khác. Thiện nam tử, trăm ngàn đức Phật sẽ hộ trì ngươi, tất cả Trời, Người, không ai bằng ngươi, trừ Như Lai, không Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn nào có Trí tuệ bằng ngươi.

Ai nghe phẩm “Dược Vương Bổn Sự” này mà biết tùy hỉ khen ngợi, người đó trong đời hiện tại, miệng thường thoảng mùi thơm hoa sen, và các lỗ chân lông thường tiết mùi trầm.

Tú Vương Hoa, ta giao phó phẩm “Dược Vương Bổn Sự” cho ngươi: Năm trăm năm sau khi ta diệt độ, phải đem ra truyền bá nói rộng ở cõi Diêm phù đề và đem sức thần thông mà giữ gìn, vì đây là phương thuốc hay cho người bệnh thế gian, ai bệnh mà nghe được kinh này thì bệnh liền tiêu diệt, chẳng già, chẳng chết.

Thấy ai thọ trì kinh này, Tú Vương Hoa nên dùng hoa sen xanh đựng đầy hương bột rải trên người ấy và nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu quyết định sẽ trải cỏ ngồi nơi Đạo tràng, phá các ma quân, thổi ốc pháp, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng sanh ra khỏi sanh già bệnh chết ưu bi khổ não.

Lúc đức Phật nói phẩm “Dược Vương Bổn Sự” này có 84.000 Bồ tát được Đà la ni “Giải nhất thiết chúng sanh ngôn ngữ.”

Đức Phật Đa Bảo trong tháp báu khen Tú Vương Hoa Bồ tát: Lành thay! Lành thay! Tú Vương Hoa, ngươi thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn mới hỏi được đức Phật Thích Ca việc như thế, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

THÂM NGHĨA

Dược Vương Bồ tát Bổn Sự là sự tích xa xưa của Bồ tát Dược Vương. Mật ý của phẩm kinh này. Phật dạy cho chúng sanh về “một phương thuốc chúa.” Bởi vì chúng sanh cõi Ta bà lắm bệnh nguy nan. Trong đó bệnh Chấp ngã, Chấp pháp là thứ bệnh gốc sinh ra các bệnh.

- Theo các tiền bối, bắt đầu từ phẩm Dược Vương là phần - Nhật Phật Tri Kiến. Các phẩm trước, hướng dẫn cho hiểu kỹ (ngộ) về Phật tánh. Đến đây, chỉ cách thực hành, làm cho Phật tánh thể hiện để sống trong Phật tánh ấy (Nhật Phật tri kiến).

- Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến ở vào thời Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, cách đây vô lượng hằng sa số kiếp xa xưa, nhưng hiện nay là Bồ tát Dược Vương đệ tử Phật Thích Ca. Đó là một dữ kiện để tìm học hiểu về một phương thuốc chúa.

- Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Bồ tát là vị Bồ tát mà ai thấy cũng dễ thương cũng vui mừng.

Muốn thành tựu “phương thuốc chúa”, trước hết chúng ta phải là một Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến ấy.

- Tam muội: “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” của Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến được, là kết quả của quá trình tu học Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, Bồ tát dám làm những hạnh khó, Tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật ở thời Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai. Chính nhờ cái vốn liếng Diệu Pháp Liên Hoa đã tu học hồi xa xưa ấy, mà nay thành một phương thuốc chúa, một Bồ tát Dược Vương trong thời hiện tại.

“Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” có nghĩa là thứ Tam muội “tự tại vô ngại” trước mọi hạng người, mọi căn cơ, chủng tánh của mỗi hạng chúng sanh. Nói cách khác: thứ Tam muội “như như bất động” trước ngọai cảnh.

Phải cúng dường Phật, đem tất cả những thứ thơm tho nhất, quí giá nhất trong thứ thơm tho để cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai. Cúng dường cho thật nhiều cho thường xuyên bền bỉ. Chẳng những thế, còn cúng dường luôn cả thân mạng nữa. Uống tất cả những thơm tho quí nhất vào cơ thể, ướp tất cả những thơm tho quí nhất vào thân. Làm như vậy trải thời gian cả 1.200 năm để cho thân tâm trở thành một chất thơm tho. Sau đó tự đốt bằng sức nguyện thần thông để cúng Phật.

Cúng dường như thế là chân Tinh tấn là “cúng dường pháp.”

Cúng dường như thế có nghĩa là cúng dường bằng sự chuyển hóa chất lượng không thanh tịnh của thân tâm biến thành chất lượng thanh tịnh thơm tho, chất lượng Phật ở thân tâm mình.

- Đốt. Đốt đi. Đốt nữa. Đốt mãi, đốt với thời gian dài 1.200 năm hay lâu hơn nữa cũng nên. Bởi vì “cái bản ngã của con người khó mà diệt trừ trong một sớm một chiều.” Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến phải đốt đến 1.200 năm “cái ta”, “cái bản ngã” mới hết. Còn Phật tử chúng ta ngày nay, chưa được chúng sanh nào “Hỉ Kiến”, vậy phỏng độ mình phải đốt thêm bao nhiêu năm nữa mới biểu lộ sự hỉ kiến khi chúng sanh chiêm ngưỡng dung nhan.

Chết đi cái hoàn cảnh ô trược để sống lại trong hoàn cảnh trong sạch của nhà vua Tịnh Đức. Chết đi cái tứ đại thai sanh ô trược, để sống lại trong hóa sanh tinh khiết. Đó là tiến trình phát triển của sự vật từ giản đơn đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện lên hoàn thiện. Chúng luôn luôn phủ định lấy nhau. Bảo thủ là lạc hậu. Cố chấp là dẫm chân một chỗ.

- Trước giờ phút nhập Niết bàn, (đây là đức Phật thứ 4, nhập Niết bàn, sau khi nói Kinh Pháp Hoa xong) Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức phó thác tất cả Phật pháp, Bồ tát, Đệ tử, bảo thọ, bảo đài, thất bảo, Xá Lợi… cho Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến. Một đệ tử Bồ tát như thế, thảo nào Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức chẳng uỷ thác chúc luỵ tất cả Phật sự cho.

- Vào bàn tay Bồ tát thì nắm xương tàn (Xá Lợi) cũng làm nên Phật pháp rất nhiều, làm cho Phật pháp cao siêu vĩ đại. Phải làm được như thế thì sự cúng dường Xá Lợi mới có ý nghĩa. Công đức ở chỗ tuyên dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh, chớ tháp cao ba thế giới mà xây đến 84.000 ngôi, thì Bồ tát “vác dù đi quyên tởi” biết đến bao giờ thành tựu, mà thành tựu để được gì cho Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến.

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” (Hễ là vật chất thì hư huyễn tất cả. Chừng nào thấy được cái tánh “phi vật chất” của vật chất mới thấy được Như Lai Phật).

- Thiện tâm, thiện hạnh, thiện chí như thế mà Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến chưa tự mãn với công đức của mình. Trước 84.000 tháp Bồ tát nguyện đốt 2 tay “trăm phước” trang nghiêm mà người trí hiểu là đốt đi những cặp phạm trù đối đãi: Phải Trái. Ta Người. Thân Sơ. Thương Ghét. Tốt Xấu. Trọng Khinh. Lấy Bỏ. Hơn Thua. Sang Hèn. Trí Ngu. Thành Bại.

Đốt, Bồ tát đốt mãn 72.000 năm để cúng dường cho đến “cái ta” tàn rụi mới thôi.

- Nếu đốt để hủy diệt, đốt để cho tàn đời thì chẳng khác gì những kẻ thất tình thất chí đã làm, chẳng có gì ích lợi cho ai. Bồ tát đốt 2 tay Phải Trái để có 2 tay Phước đức, Trí tuệ. Đó là một hình thức cải tạo để mà xây dựng. Mà xây dựng cái mới, tất nhiên phải tốt đẹp hơn lên.

Cái tinh thần đó của Đại thừa Phật giáo nói lên tánh tích cực lạc quan tự tin khả năng hoán cải, chuyển hóa của chính con người, để đưa con người đến đỉnh cao của Giải thoát Giác ngộ.

- Tất cả tạng bí yếu của Như Lai đều gồm chứa ở Kinh Pháp Hoa. Cho nên, đối với sông ngòi, kinh rạch, Kinh Pháp Hoa là biển. Với gò nổng đồi cao, Kinh Pháp Hoa là núi. Với các tinh tú Kinh Pháp Hoa là trăng. Với các vua quan, Kinh Pháp Hoa là Chuyển Luân Thánh Vương. Với tam thập tam thiên, Kinh Pháp Hoa là Đế Thích. Với tứ quả Thanh văn, kinh Pháp Hoa là A la hán. Đối với các pháp, kinh Pháp Hoa là Phật.

Kinh này có thể cứu khổ tất cả chúng sanh. Nghe kinh này, người có bệnh, bệnh sẽ lành. Người sợ già, sợ chết sẽ không già không chết. Vì kinh này là Dược Vương là Phương Thuốc Chúa.

“Trường không túng sử song phi cốc

Cự hải hà phòng nhất điểm âu.”

(Ngại gì bọt sóng lô nhô biển

Vài áng mây thưa giữa khoảng không)

Tinh thần bất uý đó của Tuệ Trung Thượng sĩ, chắc chắn là phát xuất từ tư tưởng của Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa này.

Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Vãng Lai.

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca, từ nơi nhục kế phóng một đạo hào quang, rồi từ giữa đôi lông mày cũng phóng một đạo hào quang rực rỡ khắp soi một trăm tám muôn ức na do tha hằng sa thế giới chư Phật ở phương Đông. Xa hơn số thế giới này, có một thế giới tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Tại nước ấy, có Phật hiệu là Tinh Hoa Tú Vương Trí đang thuyết pháp cho vô lượng vô biên Bồ tát cung kính vây quanh nghe. Hào quang lông mày của đức Phật Thích Ca soi khắp nước Tịnh Quang.

Bây giờ trong nước Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có một Bồ tát tên là Diệu Âm, từ lâu đã trồng cội đức, cúng dường, gần gũi vô lượng chư Phật, cho nên đã thành tựu Trí tuệ rất sâu và được nhiều thứ Tam muội là: diệu tràng, Pháp Hoa, tịnh đức, túc vương trí, vô duyên, trí ẩn, giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn, tập nhất thế công đức, thanh tịnh, thần thông du hí, huệ cự, trang nghiêm vương, tịnh quang minh, tịnh tạng, bất cộng và nhật triền. Bồ tát Diệu Âm được trăm ngàn muôn ức hằng hà sa đại Tam muội như thế. Thân tắm trong ánh sáng đức Phật Thích Ca, Bồ tát Diệu Âm liền bạch với Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí: “Thế Tôn! Tôi sẽ sang thế giới Ta bà, lễ bái, gần gũi cúng dường Phật Thích Ca cùng ra mắt các Bồ tát Văn Thù, Dược Vương, Dũng Thí, Tú Hoa Vương, Thượng Hành Ý, Trang Nghiêm Vương và Dược Thượng.”

Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí nói với Bồ tát Diệu Âm: “Ngươi chẳng nên xem rẻ nước kia (thế giới Ta bà) mà tưởng là thấp kém. Này thiện nam tử, thế giới Ta bà cao thấp không bằng thẳng, dẫy đầy núi đất, núi đá và những nhơ xấu, thân Phật thấp nhỏ, hình các Bồ tát cũng nhỏ như vậy, còn thân người thì cao đến 42.000 do tuần, thân ta đến 680.000 vạn do tuần; thân ngươi mà còn đoan chánh bậc nhất. Như thế, được trăm ngàn muôn phước làm cho hết sức sáng rỡ. Vì vậy sang đến cõi Ta bà, chớ nên xem khinh đừng sanh lòng nghĩ tưởng rằng Phật, Bồ tát cùng nhân dân cõi nước này là thấp thỏi yếu đuối.

Bồ tát Diệu Âm bạch: Thế Tôn! Con nay qua cõi Ta bà là do sức thần Như Lai, do thần thông du hí của Như Lai, do công đức Trí tuệ, trang nghiêm của Như Lai.

Lúc ấy, Bồ tát Diệu Âm không rời khỏi chỗ ngồi, thân chẳng lay động, nhập Chánh định, dùng sức mạnh của Chánh định, tại núi Kỳ Xà Quật, cách chỗ Bồ tát ngồi không xa, hóa ra 84.000 hoa sen báu, cộng bằng vàng diêm phù đàn, cành bằng bạc, nguỵ bằng kim cương và đài bằng báu.

Bồ tát Văn Thù thấy vậy mới bạch với đức Thích Ca: “Thế Tôn! Do đâu mà có điềm tốt này?” Đức Phật đáp: Đó là điềm Bồ tát Diệu Âm, từ nước của Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí muốn cùng 84.000 Bồ tát đến cõi Ta bà, để cúng dường, gần gũi, lễ lạy ta và cũng muốn cúng dường nghe kinh Pháp Hoa.

Bồ tát Văn Thù bạch: Thế Tôn! Bồ tát đó trồng cội lành gì, tu công đức gì mà được sức đại thần thông như thế? Tu Tam muội gì? Cúi xin Thế Tôn nói cho chúng con biết tên Tam muội đó vì chúng con muốn tu Tam muội ấy để thấy được sắc tướng và oai nghi tiến, dừng tự tại của Bồ tát Diệu Âm. Khi Bồ tát tới, cúi xin Thế Tôn dùng sức thần thông làm cho chúng con thấy được Bồ tát. Đức Thích Ca đáp: Đức Đa Bảo Như Lai đã diệt độ từ lâu, sẽ vì các ngươi mà hiện bày thân tướng của Bồ tát Diệu Âm.

Tức thời Phật Đa Bảo bảo Bồ tát Diệu Âm: “Thiện nam tử! Hãy đến đây, Văn Thù muốn thấy thân của người đấy.”

Bấy giờ Bồ tát Diệu Âm, đang ẩn mặt ở nước kia, bèn cùng 84.000 Bồ tát đồng qua cõi Ta bà. Trải qua các nước, đâu đâu đất cũng chuyển động 6 cách, hoa sen bảy báu rưới như mưa, trăm ngàn nhạc trời chẳng trổi tự kêu, mắt của Bồ tát như cánh hoa sen xanh rộng lớn, diện mạo tốt đẹp hơn trăm ngàn muôn mặt trăng họp lại, thân sắc vàng ròng trang nghiêm bằng vô lượng công đức, oai đức rất thạnh, ánh sáng chói rực, đầy đủ các tướng như thân bền chắc của Na la diên.

Bồ tát Diệu Âm vào đài bảy báu, bay lên hư không cách đất bảy cây đa la và cùng chư Bồ tát vây quanh, đến núi Kỳ Xà Quật ở cõi Ta bà. Tới nơi rồi, Bồ tát xuống đài, lấy chuỗi ngọc giá trị trăm ngàn cúng dường đức Phật Thích Ca mà bạch rằng: Thế Tôn! Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí có lời hỏi thăm Thế Tôn ít bệnh, ít buồn, đi đứng thơ thới, và hoạt động trong sự an lạc không? Bốn đại có điều hòa chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sanh dễ độ chăng? Không có nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn, phải vậy chăng? Không còn điều bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính Sa môn, tà kiến, tâm chẳng lành, năng hàng phục các ma oán chăng? Đa Bảo Như Lai diệt độ từ lâu và trong tháp bảy báu, có đến nghe pháp chăng? Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí lại dặn tôi hỏi thăm Đa Bảo Như Lai có an ổn, ít buồn hay chịu đựng và ở lâu được chăng? Thế Tôn! Tôi muốn thấy thân Phật Đa Bảo, cúi xin Thế Tôn chỉ cho tôi được thấy.

Lúc đó, đức Phật Thích Ca nói với Phật Đa Bảo: Bồ tát Diệu Âm muốn ra mắt Ngài. Đức Phật Đa Bảo liền nói với Bồ tát Diệu Âm: Hay lắm! Hay lắm! Vì cúng dường Phật Thích Ca, cùng nghe kinh Pháp Hoa và thấy Văn Thù …ngươi đến cõi này!

Lúc bấy giờ, Bồ tát Hoa Đức bạch Phật Thích Ca: Thế Tôn! Bồ tát Diệu Âm trồng cội lành gì, tu công đức nào mà có sức thần thông như thế?

Đức Phật đáp: Thuở quá khứ có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương, nước tên là Hiện Nhất Thiết Thế Gian, kiếp tên Hỉ Kiến suốt 12.000 năm, Bồ tát Diệu Âm dùng 10.000 thứ kỹ nhạc cúng dường Phật Vân Lôi Âm cúng dâng 84.000 bát bảy báu. Do nhân duyên quả báo đó mà nay sanh tại nước của Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và có sức thần như thế. Này Hoa Đức, ngươi nghĩ sao? Diệu Âm Bồ tát thuở xưa đó, chính nay là Bồ tát Diệu Âm đây. Bồ tát Diệu Âm này đã từng cúng dường, gần gũi, vô lượng Phật, từ lâu vun trồng công đức, lại gặp hằng hà sa Phật. Này Hoa Đức, ngươi chỉ thấy thân hình của Diệu Âm ở tại đây, chẳng dè Bồ tát ấy hiện các thứ thân hình, nơi nơi đều vì chúng sanh mà nói kinh điển này. Diệu Âm có thể hiện thân Phạm Vương, Đế Thích, Tự tại thiên, Đại tự tại thiên, Thiên đại tướng quân, Tỳ Sa môn thiên vương, Chuyển luân Thánh vương, Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà la môn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc hiện thân vợ tể quan, hoặc hiện thân trai, gái, trời, rồng, Dạ xoa…người, cùng không phải loài người… mà nói kinh này. Bao nhiêu Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh và ở đâu có tai nạn, Diệu Âm đều có khả năng cứu giúp, thậm chí đến trong hậu cung vua chúa, Bồ tát cũng biến làm thân người nữ mà nói kinh này.

Hoa Đức, Bồ tát Diệu Âm này hay cứu hộ các chúng sanh trong cõi Ta bà, vì chúng sanh mà nói kinh Pháp Hoa, tuy vận dụng thần thông biến hóa như thế mà Trí tuệ sáng soi cõi Ta bà, khiến tất cả chúng sanh, mỗi mỗi đều được sự hiểu biết của mình, còn trong hằng hà sa thế giới mười phương cũng đều được như vậy. Nếu phải dùng hình Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát hay Phật để độ thoát chúng sanh thì Diệu Âm liền hiện ra hình ấy mà nói pháp. Thậm chí phải diệt độ để độ thoát chúng sanh thì cũng thị hiện diệt độ.

Bồ tát Hoa Đức bạch Phật: Thế Tôn! Bồ tát Diệu Âm ở trong Tam muội nào có thể biến hiện ở các nơi và trong nhiều thân hình như thế? Phật đáp: Tam muội đó gọi là: Hiện nhất thiết sắc thân.

Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ tát Vãng Lai này, 84.000 Bồ tát cùng đi với Bồ tát Diệu Âm đều được Tam muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân.

Khi Bồ tát Diệu Âm cúng dường đức Phật Thích Ca và tháp Đa Bảo xong rồi trở về nước mình, các nước của Bồ tát trải qua đều chấn động, trên các mưa hoa sen báu, nhạc trời tự trổi như lúc đi. Về đến nước rồi, Bồ tát cùng 84.000 Bồ tát vây quanh đến trước Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí bạch rằng: Thế Tôn! Con đến cõi Ta bà làm lợi ích cho chúng sanh, đã ra mắt lễ lạy, cúng dường đức Phật Thích Ca, ra mắt tháp Phật Đa Bảo lại gặp các Bồ tát Văn Thù, Dược Vương, Dũng Thí và cũng đã làm cho 84.000 Bồ tát này được Tam muội Hiện nhất thiết sắc thân.

Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ tát vãng lai này 42.000 người cõi nhân thiên được vô sanh pháp nhẫn, còn Bồ tát Hoa Đức được Pháp Hoa Tam muội.

THÂM NGHĨA

Diệu Âm là tiếng mầu nhiệm. Diệu Âm Bồ tát được biểu trưng cho tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh. Kinh nói Diệu Âm Bồ tát ở nước Nhất thiết tịnh quang trang nghiêm có nghĩa là Diệu Âm Bồ tát chỉ có mặt ở thế giới “Nhất thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm.” Cũng như tiếng lòng mầu nhiệm chỉ hiện hữu ở tâm hồn trong sáng và thanh tịnh, không có các phiền não cấu uế nhiễm ô.

Muốn tiếp cận, gặp gỡ liên hệ Diệu Âm, phải nhờ ánh sáng Phật soi rọi mới thấy và liên hệ được. Cũng như muốn “nghe” được tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh, phải có giác tri. Dùng ánh sáng Trí tuệ giác soi rọi vào tâm (hồi quan phản chiếu) mới “nghe” được tiếng mầu nhiệm của lòng trong sạch của mình. Nếu không dùng ánh sáng Trí tuệ hồi quan phản chiếu, thì tiếng mầu nhiệm của tâm dù có, cũng như không, vì người ta sẽ không bao giờ “nghe” được. Diệu Âm dù sẵn ở thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm nhưng nếu không có “ánh sáng Phật” soi rọi thì Bồ tát Diệu Âm không có điều kiện liên hệ tiếp cận với chúng sanh ở thế giới Ta bà và Diệu Âm Bồ tát có cũng như không có.

Diệu Âm Bồ tát được nhiều Tam muội, xét cho tột lý thì đó là chuyện tất nhiên. Bởi như ta đã hiểu, Diệu Âm Bồ tát là biểu trưng cho tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh thì còn có thứ Tam muội nào ngoài chân tâm thanh tịnh ấy? Cho nên kinh nói: “Bồ tát được trăm nghìn muôn ức hằng hà sa các đại Tam muội.”

Khi chưa có ánh sáng Phật soi đến thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm, thì hai thế giới cách xa tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi Phật. Nhưng khi Phật Thích Ca dùng “ánh sáng Phật” soi rọi thì thế giới Ta bà và thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm in tuồng như có một, chẳng còn cách trở bởi cự ly, cho nên Diệu Âm Bồ tát chỉ trong khoảng khắc đã tạn mặt với chúng sanh, Bồ tát và Phật ở cõi Ta bà.

Tiếng mầu nhiệm của chân tâm rất thâm sâu, xa thẳm đến nỗi dường như không có, nếu chúng sanh mê. Nhưng nó có thể đến rất nhanh, trong khoảng khắc với ta, nếu ta có giác chiếu.

Diệu Âm dù thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ, nhưng không nên sanh tưởng hạ liệt với Phật và Bồ tát ở thế giới Ta bà. Lời Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí dặn như thế. Bởi vì Phật, Phật đạo đồng. Bồ tát phải hiểu như thế, mọi đệ tử Phật phải hiểu như thế. Vả lại, Diệu Âm qua cõi Ta bà là do sức thần Như Lai, nếu không có sức thần Như Lai thì Diệu Âm cũng không có khả năng đến. Chính Bồ tát Diệu Âm đã hiểu như thế và sự thật là như thế. Bởi vì, nếu không có “giác tâm” hồi quang phản chiếu thì tiếng lòng mầu nhiệm không có cơ hội hiện ra.

Diệu Âm sắp đến cõi Ta bà, bấy giờ cõi Ta bà trở thành đẹp đẽ. 84.000 hoa sen báu mọc lên: cọng, cánh, nhụy, gương hạt toàn bằng vàng bạc, kim cương, chân thúc ca, các báu hòa hợp thành, để đón mời Bồ tát Diệu Âm và 84.000 Bồ tát tùy tùng sắp đến. Trên đường ngang qua, các cõi nước cũng đều có hiện tượng đẹp: Nhạc trời không trổi tự kêu, hoa sen báu tự rơi rải cúng dường Đại địa (Tâm Địa) rung động sáu cách…

Tiếng lòng mầu nhiệm đến, thì cõi lòng ta sẽ có hiện tượng hân hoan, đẹp đẽ, khinh an, thanh tịnh. Các tạp tưởng ô trược ẩn đi, những gì quý báu trong sạch, trang nghiêm, an lành sẽ đến ở lòng ta.

Phật Thích Ca biểu trưng “thỉ giác”

Phật Đa Bảo biểu trưng “bổn giác”

Phải vận dụng cả thỉ giác và bản giác mới có thể tận mặt, thấy được Diệu Âm. Chỉ có thỉ giác thôi, chưa đủ điều kiện tương kiến. Cho nên, Phật Thích Ca phải “mời” Phật Đa Bảo hiển bày thân tướng “Diệu Âm” cho Bồ tát Văn Thù và đại chúng Pháp Hoa hải hội thấy. Sự việc đó nhằm dạy cho Phật tử phải vận dụng bản giác và thỉ giác của mình, khi muốn tận mặt Diệu Âm, muốn “nghe” tiếng lòng mầu nhiệm.

Cũng như chư Bồ tát “Tùng Địa Dũng Xuất” ở phẩm thứ 15, qua nghi lễ tương kiến thông thường, Bồ tát Diệu Âm liền xin Phật Thích Ca được ra mắt Phật Đa Bảo. Vì bản giác, thỉ giác là mục tiêu đạt đến, là công tác hàng đầu đối với một Bồ tát vậy.

Những lời vấn an Phật, của Bồ tát Diệu Âm, được xem như tiếng nhắc nhở của Diệu Âm, của tiếng lòng mầu nhiệm.

- Ít bệnh, ít khổ, thơ thới an vui với việc làm trong cuộc sống hàng ngày.

- Điều hòa tứ đại (điều thân)

- Nhẫn nhục việc đời (điều tâm)

- Chế ngự dễ dàng tư tưởng (chúng sanh dễ độ)

- Không nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn.

- Không bất hiếu với cha mẹ.

- Không phỉ báng Sa môn.

- Không tà kiến chẳng lành.

- Hàng phục các oán thù khuấy nhiễu của ma.

- Kích khởi tâm biếng lười hay siêng năng nghe pháp.

- Hãy sống an ổn, sống kham nhẫn, đừng đau khổ, đừng bất mãn, đừng trốn tránh sự thực ở cõi đời.

Đó là những điều phát xuất từ Diệu Âm và phải được hiểu đó là Tiếng lòng mầu nhiệm của ta, nhắc nhở cho ta những điều “ngăn dứt” và những gì nên phát triển ở lòng mình.

Diệu Âm mà trở thành Diệu Âm Bồ tát là do nhiều đời cúng dường Phật Vân Lôi Âm. Cũng như vàng mà được thành vàng ròng là do trước đó đã nấu lọc quặng vàng. Tiếng lòng mầu nhiệm đến với ta là trước đó ta đã phải nghe những tiếng lòng tạp tưởng mà ta đã chế ngự dứt bỏ hết đi rồi.

Diệu Âm có thể hiện đủ các loại thân hình. Từ Phạm Vương, Đế Thích, Tự tại thiên, Đại tự tại thiên, thân vua lớn, vua nhỏ, thân Trưởng giả, Cư sĩ, quan quyền, Sa môn, Bà la môn… Thiên long Bát bộ, nhơn, phi nhơn… cho đến hậu cung của vua, Diệu Âm cũng hiện làm thân người nữ mà nói kinh Pháp Hoa.

Với chủng tánh lớn hơn, những người xuất ly tam giới, nếu cần thân Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật để độ được, thì Diệu Âm cũng tùy căn cơ mà hiện thân thuyết pháp hóa độ cho mỗi hạng người. Nếu cần sự hóa độ không lời, như đức Nhẫn nhục, hạnh làm gương. Diệu Âm vẫn có khả năng tùy nghi độ thoát.

Nói trắng ra là ở giai cấp nào, người ở giới nào, căn tánh nào, cũng sẵn có Diệu Âm. Chỉ khác nhau ở chỗ có biết khai thác hay không, để cho Tiếng mầu nhiệm của cõi lòng được hiện thực hay ẩn tàng mãi mãi để rồi mai một trong tâm khảm, dầy đặc vô minh u tối!

Là Bồ tát thì lấy sự độ sinh làm sự nghiệp. Cho nên cần có Tam muội “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân.” Phải “Hiện nhất thiết sắc thân” mới lợi ích chúng sanh nhiều được. Cho nên 84.000 Bồ tát tùy tùng và vô lượng Bồ tát vãng lai đều được “Hiện nhất thiết sắc thân” Tam muội.

Không có Tam muội “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” không hoàn thành vai trò và nhiệm vụ của một Bồ tát được.

Diệu Âm Bồ tát trở về thế giới Nhất thiết tịnh quang trang nghiêm. Thế là cõi Ta bà không còn rực rỡ nữa. Những điềm lành, hiện tượng tốt không còn.

Ôi! Nếu ta chẳng có khả năng cầm giữ Tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh ở với ta, thì cõi lòng của ta sẽ trở lại với bao nhiêu nhiệt não đau thương, với cuộc sống ê chề dục vọng…

Chúng ta hãy gắng mà “giữ mãi Diệu Âm” ở lại!



 
Author of this article: Thích Từ Thông

Show Other Articles Of This Author