| Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương - Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph.8 - |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | |||
| Viết bởi Thích Từ Thông | |||
|
Trang 3 của 7
Phẩm 8: Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Ký.Ông Phú Lâu Na sau khi nghe Phật nói về những phương tiện tùy cơ thuyết pháp… lại nghe Phật thọ ký cho các vị đệ tử lớn, lại nghe việc nhân duyên đời trước… và sức tự tại thần thông của chư Phật trong lòng hớn hở bèn quỳ gối đảnh lễ Phật và bạch rằng: “Như Lai Thế Tôn thật là hi hữu, làm việc khó làm, thuận theo tâm tánh của vô lượng chúng sanh mà thuyết pháp cứu vớt. Chúng con không thể dùng lời nói tuyên bày cho hết công đức của Thế Tôn. Nhưng xin Thế Tôn biết bổn nguyện trong thâm tâm của chúng con.” Phật bèn nhắc công phu tu hành của ông Phú Lâu Na ở các tiền kiếp: rằng ở 90 ức đức Phật thuở quá khứ, Phú Lâu Na từng hộ trì, phụ trợ tuyên bày Chánh pháp của Phật. Ông là người bậc nhất trong số người thuyết pháp thuở đó. Về nghĩa “không” của các pháp ông thông suốt tận tường, đầy đủ “bốn trí vô ngại”, thường hay suy gẫm sâu xa, nói pháp thanh tịnh không chỗ nghi lầm. Tuy ông đầy đủ việc làm của Bồ tát, mà người thời bấy giờ đều hiểu ông là Thanh văn thật. Ông dùng phương tiện qua hình thức Thanh văn mà làm lợi ích vô số chúng sanh và giáo hóa vô số người khởi lòng tin vững chắc nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các Tỳ kheo, ở vào thời bảy đức Phật quá khứ, Phú Lâu Na cũng là bậc nhất trong hàng người nói pháp, trong tương lai ông cũng là người bậc nhất và hộ trì truyền bá Chánh pháp của vô lượng vô biên chư Phật. Vì muốn xây dựng cõi Phật thanh tịnh mà Phú Lâu Na thường tinh tiến giáo hóa chúng sanh lần lần đầy đủ đạo Bồ tát. Nhờ đó mà qua vô lượng kiếp sau, Phú Lâu Na sẽ thành Phật, hiệu là Pháp Minh, lấy hằng sa tam thiên, đại thiên thế giới làm thành một cõi Phật, lấy bảy báu làm đất. Cõi nước bằng phẳng như mặt bàn tay, không núi đồi, khe rãnh, gò nổng, ghồ ghề. Đài thất bảo dẫy đầy, cung điện của chư Thiên gần với hư không, Trời, Người giao tiếp nhau và đều thấy được nhau, không ba đường ác (Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh) cũng không có người nữ. Chúng sanh cõi ấy thần thông tự tại chí nguyện bền chắc, Tinh tấn và Trí tuệ. Nhân dân nước ấy thường sử dụng hai cách ăn: Một là “thiền duyệt.” Hai là “pháp hỉ.” Bồ tát cõi đó đông vô số, Thanh văn cũng vậy. Nước Phật tên là Thiện Tịnh. Kiếp tên Bửu Minh. Để lập lại nghĩa trên, đức Phật nói một bài kệ… Bấy giờ 1.200 vị La hán, những vị tâm được tự tại nghĩ rằng: Nếu Phật đều thọ ký cho mình như đã thọ ký cho các vị đệ tử lớn thì sung sướng biết bao. Đức Phật biết tâm niệm đó, bèn lần lượt thọ ký cho 500 vị A la hán. Trước hết là Tỳ kheo Kiều Trần Như và tất cả đều sẽ thành Phật đồng một hiệu là Phổ Minh. Được thọ ký xong, 500 A la hán vui mừng lễ Phật thưa: Bạch Thế Tôn! Từ trước tới nay chúng con cứ tưởng là mình được diệt độ rồi. Nay mới biết chúng con vô trí. Vì sao? Vì đáng được Trí tuệ của Như Lai mà cứ bằng lòng với trí nhỏ của mình cho là đủ. Rồi các vị đồng tâm, trình lên Phật một thí dụ: Trong kho tàng Phật báu, chúng con mới được một phần mà tự cho là đủ. Chẳng khác một người nghèo đến chơi nhà bạn thân giàu lớn. Tiệc rượu xong, anh nghèo say vùi nằm ngủ. Bạn giàu vì có việc đi xa gấp, bèn lấy một viên ngọc vô giá buộc vào vạt áo của bạn say để tặng. Hết say, anh nghèo ra đi, không hay trong người có ngọc. Đến một nước khác, cầu y cầu thực làm ăn vất vả, mỗi khi được một ít của cải tự cho là đủ, không dám mong một tình cảnh tốt đẹp hơn. Về sau anh bạn giàu gặp trở lại anh bạn nghèo, thấy bạn khốn khổ quá mới trách: Sao không dùng viên ngọc trong vạt áo để kinh doanh, tạo cho mình cuộc sống giàu sang. Chừng ấy anh nghèo mới hay là mình giàu, liền dùng vốn ấy mà kinh doanh và trở nên giàu có. Các vị A la hán kết luận: chúng con cũng như vậy, từ lâu xưa, Thế Tôn thường giáo hóa cho. Vậy là Thế Tôn đã gieo trong lòng chúng con hạt giống Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế mà chúng con vô trí không hay không biết, được chút phần Niết bàn cho là đủ rồi, không cần gì nữa. Nay Phật Giác ngộ cho chúng con, dạy cho biết phải được Phật tuệ Vô thượng mới thật là Diệt Độ. THÂM NGHĨA Phật thọ ký cho 500 đệ tử Thanh văn, đọc tụng phẩm kinh này cần quan tâm về hiện tượng Phú Lâu Na, Phú Lâu Na là một trong 10 đệ tử Phật được tôn vinh vào hàng “đệ nhất” theo sở trường của mỗi vị. Phú Lâu Na được Phật khen thuyết pháp “đệ nhất” trong hàng đệ tử Thanh văn. Việc đó, có nguyên nhân chánh đáng, không phải chuyện ngẫu nhiên. Bởi vì thời quá khứ, ông Phú Lâu Na cũng từng cộng sự trợ tuyên Chánh pháp với 90 ức đức Phật, thời Phật nào ông cũng được ngợi khen như vậy. Giờ đây đức Phật Thích Ca thọ ký cho ông ở tương lai ông cũng là người “thuyết pháp đệ nhất” giúp chư Phật giáo hóa chúng sanh, để rồi sau đó ông thành Phật với hiệu Phổ Minh, có nghĩa là ông gieo rắc ánh sáng Trí tuệ khắp đến mọi người. Phật nói lại sự việc này, cũng như thọ ký cho ông Phú Lâu Na sắp tới, dạy cho Phật tử hậu lai bài pháp sâu xa về giáo lý Nhân quả. Muốn có quả phải gieo nhân và chăm nom vun bồi liên tục cái nhân ấy. Thuyết pháp giỏi là chính mình đã gieo sâu hạt giống đa văn Phật pháp. Giáo hóa chúng sanh là truyền đạt cho mọi người ánh sáng Trí tuệ Giải thoát Giác ngộ. Vì vậy ông Phú Lâu Na được Phật thọ ký thành Phật hiệu Phổ Minh. Từ nhận xét đó, ta thấy rõ Nhân quả không sai và Nhân quả không đời nào mất. Sự nghiệp thuyết pháp độ sanh trong quá khứ của ông Phú Lâu Na đáng được ghi vào “bảng công đức vàng son oanh liệt” Phật sự hiện tại của ông là một trong những người được Phật ngợi khen là “đệ nhất.” Thế mà ông chưa thành Phật cũng như không tha thiết mong cầu thành Phật ở kiếp này. Điều đó thể hịên Đại thừa chủng tánh ở trong ông, cho nên Phật mới gọi ông là “Thanh văn bên ngoài, bên trong là Bồ tát” (Nội bí Bồ tát, Ngọai hiện Thanh văn tướng). Vì vậy mà đối với ông thành Phật sớm hay muộn không phải là việc cần để tâm mong ước Giới hương làm phấn thoa thân Choàng manh áo định tư sanh hình hài Bồ đề hoa hái trang cài. Niết bàn tại chỗ ta ngồi thưởng trăng… Việc thọ ký chúng sanh thành Phật là một khía cạnh trong hoài bão của Như Lai xuất hiện ở đời. Nhưng không thể thọ ký xô bồ, ồ ạt. Dù rằng quả Phật là bình đẳng, mọi người đều có khả năng đạt đến. Song quá trình hành động sinh hoạt trong cuộc sống, động lực pháp tâm chí nguyện tu hành của mỗi người đều khác biệt. Như Lai thọ ký từng đợt có trước có sau đều có ý nghĩa. Tất cả mọi người đều bình đẳng, mọi người đều có quyền thụ hưởng thành quả do ý chí, nghị lực, khả năng tu tập của mình. Trước tiên, ông Xá Lợi Phất, kế tiếp nhóm ông Tu Bồ Đề. Đến đây nhóm ông Phú Lâu Na và 500 đệ tử lớn. Những vị này nhất trí với nhau, xin Phật được trình bày cái thí dụ: “Hạt ngọc trong vạt áo” để nói lên nỗi lòng hối hận vì sự sai trái của mình khi chưa có điều kiện tu học Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Cái thí dụ “Hạt ngọc trong vạt áo” còn nói lên nỗi lòng xúc động sâu xa: Giờ đây mới biết mình là con Phật. Từ lâu với ý chí thấp hèn và tự mãn, bằng lòng với quả vị Nhị thừa. Lại ngỡ rằng mình đã tuyệt phần, không có khả năng với tới quả Phật. Quả là “chàng cùng tử” đáng thương. Ôi! Một bạn hữu vô cùng cao đẹo đáng kính biết bao! Bạn đã cho hạt ngọc vô giá buộc vào vạt áo. Vậy mà bao tháng năm khổ cực vất vả để đổi lấy cái ăn, cái mặc tầm thường mà đã bằng lòng mãn nguyện. Giờ đây không còn là chàng cùng tử ấy nữa mà là người cự phú nhất đời. Từ lâu không biết mình có hạt ngọc vô giá bởi khi người bạn tốt tặng cho là lúc bị hôn mê cơn say chưa tỉnh. “ Phật là người bạn tốt vô vàng khả kính, còn “cùng tử” khốn khổ kia là những Phật tử chúng ta đang hôn mê trong đêm trường cùng đồng sàng mà quá nhiều dị mộng. Phẩm 9: Thọ Học Vô Học Nhơn Ký.Lúc bấy giờ A nan và La Hầu La nghĩ thầm: “Nếu mỗi chúng ta đều được thọ ký thì sung sướng biết bao.” Hai vị liền đến trước Phật làm lễ, bạch rằng: “Chúng con nghĩ cũng có phần được thọ ký, vì bao giờ cũng quy hướng về Như Lai. Lại chúng con là người quen biết của tất cả Trời, Người và A tu la trong thế gian. A nan là người hầu và hộ trì tạng pháp, còn La Hầu La là con của Phật, nếu hai chúng con được thọ ký thì nguyện của chúng con sẽ mãn mà chỗ trông mong của chúng con cũng được đầy đủ.” Hai ngàn đệ tử Thanh văn, bậc hữu học và vô học cũng đứng dậy lễ Phật, chấp tay chiêm ngưỡng dung nham Thế Tôn, tỏ ý cùng một sở niệm với A nan và La Hầu La. Phật bảo A nan: “Đời sau, ngươi sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai… Ngươi sẽ cúng dường 62 ức Phật, hộ trì tạng pháp, rồi sau được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác giáo hóa 20 ngàn muôn ức hằng hà sa Bồ tát… khiến những Bồ tát ấy thành tựu đạo Bồ đề. Nước của Phật Sơn Hải Huệ tên là Thường Lập Thắng Phan, thanh tịnh đất bằng lưu ly. Kiếp của Phật tên Diệu Âm Biến Mãn, thọ mạng của Phật vô lượng và mười phương Như Lai đồng ca ngợi công đức của Phật.” Nói xong, Thế Tôn đọc một bài kệ lập lại nghĩa trên. Lúc bấy giờ, 8.000 Bồ tát mới phát tâm, đều nghĩ: “Chúng ta chưa nghe các vị Bồ tát lớn được thọ ký như thế, cớ sao mà các Thanh văn lại được như vậy.” Đức Phật biết tâm niệm ấy, bèn bảo rằng: “Này các thiện nam tử, ấy vì ở nơi Phật Không Vương, ta và A nan đã đồng thời phát tâm cầu sự Giác ngộ Vô thượng. A nan thường ưa học rộng, còn ta thì siêng cần Tinh tấn, cho nên ta đã được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn A nan thì theo bản nguyện, hộ trì pháp ta và trong tương lai, tiếp tục hộ trì pháp tạng của Chư Phật, để giáo hóa thành tựu chư Bồ tát. Bổn nguyện của ông như thế nên đặng thọ ký dường ấy.” Lòng rất vui mừng, A nan tức thời nhớ lại tạng pháp của vô lượng ngàn muôn ức Phật thuở quá khứ, luôn cả lời nguyện của mình. Bấy giờ Phật bảo La Hầu La: “Đời sau ngươi sẽ đặng làm Phật hiệu là Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai. Ngươi sẽ cúng dường chư Phật Như Lai đông như vi trần trong mười thế giới và thường vì các đức Phật mà làm trưởng tử như hiện nay” Đức Phật Đạo Thất Bảo Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, Chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ngươi sẽ làm trưởng tử cho Phật Sơn Hải Huệ, rồi về sau sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn lập lại nghĩa trên bằng một bài kệ… Thấy các bậc hữu học, vô học 2.000 người ý căn nhu nhuyễn, tịch nhiên thanh tịnh, một lòng nhìn Phật, Phật bèn nói với A nan: “Tất cả những người ấy sẽ cúng dường chư Phật Như Lai đông như vi trần trong 50 thế giới, cung kính hộ trì pháp tạng, rốt sau đồng thời, ở các nước trong mười phương, mỗi mỗi đều được thành Phật, đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai, sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm số đệ tử Thanh văn, Bồ tát và thời gian Chánh pháp, Tượng pháp thảy đều đồng nhau. Lúc đó, các hàng hữu học, vô học nghe đức Phật thọ ký, vui mừng hớn hở như được rưới nước cam lộ. THÂM NGHĨA Thọ ký cho tất cả những người hữu học và vô học đều được thành Phật một hình thức khác, nhằm nói lên cái chân lý: “Tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật.” Chân lý đó được Bồ tát Thường Bất Khinh phát hiện từ vô lượng đời kiếp trước được Phật nhắc lại ở phẩm 20 sau. Bồ tát Thường Bất Khinh xa xưa nhờ quán triệt chân lý mà nay thành Phật. Phật là hiện thân của chân lý, nói rằng Phật thọ ký, kỳ thực là nói ra cái chân lý hiển nhiên ấy, vậy thôi. Hữu học, vô học là ai? Vô học là những người đã không bị ràng buộc vướng mắc bởi những nghiệp nhơn phiền não trong ba cõi, không còn khiếp sợ và đau khổ bởi Vô thường, lão, bệnh trong vòng sanh tử luân hồi, ưu bi khổ não. Họ “xuất ly tam giới” được quả A la hán. Hữu học là những người còn chịu sự chi phối của hạt giống hữu lậu của nghiệp nhơn nhiễm ô của ba cõi. Đó là những người Tu đà hoàn, Tư đà hàm và A na hàm quả. Hàng hữu học và vô học có đến 2.000 người, Phật thọ ký cho tất cả đều được thành Phật và đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai đủ mười đức hiệu. Về bình đẳng môn thì như thế. Ai cũng có khả năng thành Phật, có quyền hưởng thụ thành quả Giải thoát Giác ngộ do công lao tu tập rèn luyện của mình. Nhưng về sai biệt môn thì rõ ràng nhân nào quả nấy. Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Không có tâm trạng “ngồi chờ sung rơi!” trong toàn bộ giáo điển của Phật. Hai ngàn Thanh văn hữu học, vô học được thọ ký thành Phật sau này có điều kiện. Phải cúng dường các Như Lai nhiều như số vi trần trong 50 thế giới nghiền ra. Và phải thọ trì pháp tạng, nghĩa là phải lãnh thọ, hành trì kho tàng Chánh pháp. Xã hội quan của Phật giáo cách đây những mấy ngàn năm, vậy mà tư tưởng Phật giáo và đạo đức của xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa hiện đại lại gặp nhau ở quan điểm: “Không chấp nhận chế độ ngồi mát ăn bát vàng.” Phải ra sức làm việc mới có ngày quang vinh, gia tư mới sung mãn chứ! Ở đây có 2 vấn đề cần được đặt ra: Một, là số chư Phật nhiều như số vi trần của 50 thế giới nghiền ra. Tìm đâu cho có đủ số Phật như thế để cúng dường? Ngỏ hầu được thành Phật? Hai, là vấn đề tuổi thọ của Như Lai. Lấy tuổi thọ của Như Lai nào làm tiêu chuẩn để có thể lượng định thời gian, để hy vọng và ước mơ ngày công viên quả mãn thành Phật của mình? Chắc chắn là bế tắc. Dù Thầy toán hay bậc Thầy của Thầy toán cũng không giải đáp được. Vấn đề đó phải được hiểu: Như Lai là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm là cái Tâm Như Lai vốn có của tất cả chúng sanh. Tâm Như Lai này có hai mặt: Thể và Dụng. Thể của nó thì bất biến. Dụng của nó thì tùy duyên. Thể ví như nước. Dụng như bọt sóng mòi… Sóng mòi bọt bóng nghìn sai muôn khác, những điều kiện (duyên) khuấy động hết thì tất cả là một thể nước lặng trong. Chúng sanh mê muội, thì tùy nghiệp duyên trôi lặn trong sáu nẻo luân hồi, nhưng nếu Giác ngộ thì là Như Lai Phật. Đó là lúc “trở về” cái bản vị “bất biến” của mình. Do vậy, cúng dường chư Phật nhiều đời, cúng dường chư Phật thật đông có nghĩa là ta phải vun bồi “cung cấp” “dưỡng nuôi” cái giác tánh tròn đầy mầu nhiệm, tùy duyên bất biến của ta một cách thường xuyên liên tục ở mọi chốn nơi, mọi hoàn cảnh, trong đời sống của ta. Khởi một niệm lành là cúng dường một Phật. Thể hiện một hành động của thân, của miệng, của ý có tánh cách lợi lạc chúng sanh, vị tha vô ngã, có chất liệu Giải thoát Giác ngộ là cúng dường Phật. Cúng dường như thế là ở đâu cũng có Phật để cho ta cúng dường. Và muốn cúng bao nhiêu cũng có đủ số Phật để chứng minh lòng thành kính của ta. Đó là điều kiện để thành Phật đó. Bậc hữu học, vô học trong nhóm 2.000 người làm việc ấy, tất cả Phật tử chúng ta cũng có thể thực hiện sự cúng dường như vậy và kết quả đảm bảo như nhau. Chớ cúng Phật “ngọai” cảnh mà mong đem lại Giác ngộ Giải thoát “nội” tâm thì làm sao có được việc đó? Vả lại, theo giáo lý nhà Phật không có một ông Phật nào có quyền ban cho bất cứ ai về cái quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phải học và hành theo nhà bác học, mới có khả năng và có ngày trở thành nhà bác học. Lạy, cung cấp bạc vàng, vật dụng cho nhà bác học để cầu xin cho được bác học, điều đó không phải việc của người trí làm. Học và hành là 2 yếu tố không thể thiếu của người tu Phật. Học ví như đôi mắt. Hành ví như đôi chân. Chân khỏe có thể đi xa, đi bền nhưng nếu đôi mắt tối thì khó đạt mục tiêu muốn đến. Ngược lại, mắt sáng thấy suốt rộng xa, nhưng không đi thì cái đích muốn đến không bao giờ thành tựu. Phật cùng ông A nan đồng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ở thời Phật Không Vương. Nhưng Phật chú trọng hành (Tinh tấn) cho nên Phật đã thành Phật. Còn ông A nan thiên về học rộng đa văn cho nên giờ hãy còn hộ trì pháp Phật và được Phật thọ ký. Ông A nan sẽ thành Phật hiệu Sơn Hải Huệ Tự Tại, nói rõ cái đạo lý: “Gieo hạt gì thu hoạch quả ấy” Là Phật tử chúng ta hãy chín chắn nghĩ suy! Phẩm 10: Pháp Sư.Để dạy cho tám muôn Đại sĩ, khi bấy giờ Phật nói với Bồ tát Dược Vương rằng: Trong đại chúng đầy đủ hạng người Chư Thiên, Long Vương, Càn thát bà, A tu la… Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thanh văn, Duyên giác cho đến những người cầu thành Phật đạo. Không để riêng ai, nếu người nào ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, một câu một bài kệ nhẫn đến một niệm tùy hỉ, Như Lai đều thọ ký họ là người sẽ thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật dạy tiếp: Sau Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một câu một bài kệ cho đến một niệm tùy hỉ, Như Lai cũng thọ ký cho quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người nào thọ trì, đọc, tụng, giảng nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa cung kính cúng dường bằng các thứ trân bảo, hương thơm, trang nghiêm đẹp đẽ… Dược Vương nên biết ác người đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, đã thành tựu đại nguyện, vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian đấy. Dược Vương! Nếu có người hỏi trong thời vị lai, những chúng sanh nào sẽ được thành Phật thì nên chỉ những người vừa kể trên mà nói rằng những người đó sẽ thành Phật. Vì sao? Nếu có người trai lành, gái tốt nào thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói dầu là một câu của kinh Diệu Pháp Liên Hoa và dùng các thứ hương hoa, báu vật mà cúng dường, thì người đó đáng được nhân gian chiêm ngưỡng và cúng dường như cúng dường Phật vì đó là hàng Đại Bồ tát đã thành tựu Chánh giác nhưng vì thương chúng sanh mà nguyện sanh trên đời để phân biệt giảng nói kinh Pháp Hoa. Dược Vương nên biết! Người đó từ bỏ phước báu thanh tịnh để sanh vào đời trược ác, vì chúng sanh mà truyền bá giảng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Sau Như Lai diệt độ, nếu có người trai lành gái tốt có thể vì riêng một người mà nói kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu kinh phải biết người đó là sứ của Như Lai. Như Lai sai làm việc của Như Lai, còn nói chi người ở trong đại chúng vì nhiều người giảng nói! Dược Vương! Nếu có người bất thiện, dụng ác tâm ở trước Phật chê mắng Phật suốt một kiếp tội còn nhẹ. Nếu có người hung hãn chưỡi mắng người tại gia hay xuất gia thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa thì tội rất nặng. Dược Vương! Người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình. Như Lai dùng vai mà vác người đó. Mọi người nên dùng những thứ: hương hoa, kỹ nhạc quý báu nhất trong cõi đời để cúng dường. Vì sao? Bởi vì nghe pháp của người đó nói trong khoảng giây lát bèn được tỏ ngộ chân lý rốt ráo đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Để lặp lại nghĩa trên đức Thế Tôn nói một bài kệ. Rồi đức Phật dạy tiếp: Dược Vương! Kinh điển của ta có thể nói nhiều vô lượng, đã nói đang nói và sẽ nói mà trong đó kinh Pháp Hoa khó tin và khó hiểu. Kinh này là tạng bí yếu của chư Phật, không thể truyền trao khinh suất bừa bãi cho những người không đúng đối tượng căn cơ. Đây là thứ kinh chư Phật giữ gìn cẩn mật chưa từng diễn nói. Bởi vì Như Lai còn tại thế nói ra còn nhiều người oán ghét huống chi sau khi Như Lai diệt độ. Dược Vương nên biết: Sau Như Lai diệt độ, người nào thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói cho người khác nghe, Như Lai lấy y mà trùm, người đó được chư Phật trong mười phương hộ niệm. Như Lai lấy tay xoa đầu và người đó cùng với Như Lai ở chung. Dược Vương! Ở nơi chốn nào có kinh này hoặc giảng nói hoặc đọc tụng nên xây tháp bằng bảy báu cao rộng đẹp đẽ mà trong đó không cần tôn trí Xá Lợi. Bởi vì trong đó có toàn thân Như Lai rồi. Nên dùng các thứ hương hoa, trân bảo, tràng phan… để cúng dường tháp. Người nào thấy tháp lễ bái cúng dường, phải biết những người đó đã gần gũi với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ tát hành đạo mà chưa thấy chưa nghe được kinh Diệu Pháp Liên Hoa là Bồ tát chưa khéo tu đạo Bồ tát. Những chúng sanh cầu Phật đạo, hoặc thấy hoặc nghe, nghe rồi tin hiểu thọ trì nên biết người đó đã gần gũi với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi. Thí như có người khát nước đào giếng ở gò cao, đào thấy đất còn khô, biết rằng gần tới nước. Bồ tát cũng vậy, thọ trì, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa phải biết quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với Bồ tát đó gần kề. Dược Vương! Nếu Bồ tát nào nghe kinh Pháp Hoa mà khinh nghi sợ sệt đó là Bồ tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà khinh nghi sợ sệt đó là hàng Thanh văn tăng thượng mạn. Dược Vương! Nếu có trai lành gái tốt sau Như Lai diệt độ muốn vì hàng tứ chúng mà nói kinh Pháp Hoa thì nên ở trong nhà Như Lai, mặc y Như Lai và ngồi trên tòa của Như Lai mà thuyết kinh. Nhà Như Lai là tâm Từ bi. Y Như Lai là Nhẫn nhục. Tòa Như Lai là “Vạn Pháp Giai Không.” Dược Vương, Phật dù ở thế giới khác xa xăm nhưng Phật sai hàng hóa nhơn, hàng tứ chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di) đến nghe pháp và tin nhận thuận theo không chống trái. Nếu nói pháp ở chỗ vắng Như Lai sai Thiên long, Càn thát bà… đến nghe pháp. Phật dù ở nước khác nhưng khiến người nói pháp luôn luôn được thấy thân ta. Nếu có quên sót câu lối. Như Lai sẽ nhắc cho họ nói kinh được đầy đủ. Để lập lại nghĩa trên Thế Tôn nói một bài kệ… THÂM NGHĨA Pháp sư là người học hiểu cháp pháp, sống với Chánh pháp và truyền bá Chánh pháp. Thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết đều được công đức vô lượng, đều được gọi là Pháp sư. Pháp Hoa Pháp sư cần có những điều kiện căn bản thể hiện trong đời sống hằng ngày, thì việc lợi mình lợi người mới được viên mãn. Kinh nói: “Lấy đại Từ bi làm nhà Lấy nhu hòa Nhẫn nhục làm áo Lấy pháp không làm tòa ngồi Ở nơi đó mà thuyết pháp Nếu lúc nói kinh này Có người ác mắng nhiếc Đá, ngói, dao gậy, hại Nhớ Phật nên Nhẫn nhục…” Pháp Hoa Pháp sư có thể có khó khăn như vậy. Bởi vì kinh Pháp Hoa có những đặc điểm dị thường, ở nhiều kinh khác Phật chưa từng dạy đến. 1. Chỉ nghe chừng một bài kệ hoặc một câu kinh Pháp Hoa, Phật cũng thọ ký cho thành Phật. 2. Hoặc thọ trì, hoặc đọc tụng, hoặc biên chép, hoặc giảng nói chừng một bài kệ, Phật nói người đó không phải người thường. 3. Hỏi ai là người sẽ được thành Phật? Hãy chỉ những người có nghe và thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa. 4. Dùng ác tâm chê mắng Phật trọn kiếp, tội còn nhẹ hơn chê mắng người tại gia hay xuất gia thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa. 5. Đọc tụng kinh Pháp Hoa là dùng đức trang nghiêm của Phật mà tự trang nghiêm mình. 6. Kinh đã nói, đang nói và sẽ nói nhiều vô lượng, chỉ có kinh Pháp Hoa khó tin và khó hiểu. 7. Kinh Pháp Hoa là tạng bí yếu không trao dạy cho người không đúng đối tượng. Phật tại thế kinh Pháp Hoa còn bị nhiều người oán ghét còn nói chi sau Như Lai diệt độ! 8. Sau Như Lai diệt độ, có ai biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa, Như Lai lấy y mà trùm, lấy tay mà xoa đầu người đó. 9. Chỗ nào có kinh Pháp Hoa hoặc có người thọ trì, đọc tụng, biên chép giảng nói nên dựng tháp thất bảo cúng dường. Khỏi để Xá Lợi Phật mà trong đó có toàn thân Như Lai rồi. 10. Pháp sư nói kinh Pháp Hoa nếu ở chỗ vắng vẻ, Phật sai Thiên long, Bát bộ chúng đến nghe pháp. Còn Phật dù ở nước khác nhưng khiến cho vị Pháp sư luôn luôn thấy Phật. Và nếu quên mất câu nghĩa Phật dạy cho nhớ hiểu đầy đủ. Quả là những sự kiên dị thường. Nếu có người bảo đó là chuyện hoang đường, thần thoại của thời tiền sử xa xưa, dường như chẳng có gì oan ức lắm. Người đệ tử Phật có trách nhiệm nghiên cứu tìm hiểu và dung hóa nó qua “bộ óc” Trí tuệ để “nhận thức” lấy tinh hoa Chánh pháp, bỏ đi cái bả văn tự ngôn từ vốn mượn để làm thứ “tá dược.” Cái tinh hoa của kinh Pháp Hoa là thứ dược liệu cực mạnh trị chứng bệnh “tự khinh” nặng nề của chúng sanh. Chừng nào chúng sanh còn bệnh tự khinh thì Pháp Hoa Pháp sư chưa được nghỉ ngơi. Chừng nào chúng sanh biết mình là Phật, ở chung với Như Lai, thường thấy Như Lai, được Như Lai xoa đầu nhắc nhở… Bấy giờ, Pháp sư nhiệm vụ mới hoàn thành. Ta hãy tìm hiểu mười sự kiện dị thường được nêu ở trên: 1. Ta thử rút ra một câu kinh xem nào? “Tôi không dám khinh các Ngài, vì các Ngài đều sẽ thành Phật” (ngã bất cảm khinh ư nhữ đẳng, nhữ đẳng giai đương tác Phật) Thế nào? Bạn có bằng lòng chấp nhận “bạn sẽ thành Phật” không? Có. Thế là Phật đã thọ ký cho bạn rồi đó. Nói rằng Phật thọ ký kỳ thật bạn thọ ký cho bạn chứ không phải cần đến Phật. Bởi vì Phật dù có nói thọ ký hay không, địa vị Phật, bạn cũng chẳng mất phần. Vì bạn đã nhận hiểu Phật tánh của bạn thì sớm hay chậm bạn sẽ thành Phật. Nói cách khác là bạn “trở về” với cái ông Phật tánh sẵn có của bạn. Bạn không biết mình là con Trưởng giả nên phải đói rách, lang thang, lưu lạc. Khi bạn nhận ra ông Trưởng giả là cha mình, bạn “trở về nhà” thì cái gia tài nguy nga đồ sộ, những kho tàng ngập đầy bảo châu vô giá của ông Trưởng giả ấy là của bạn, chứ còn của ai nữa? 2. Những người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa, Phật nói những người đó không phải người thường. Tại sao vậy? – Vì người thường vốn có tánh “tự khinh.” Họ không tin mình có khả năng thành Phật. Càng không thể tin rằng mình là Phật, có Phật chất, có Như Lai ở trong tâm mầu nhiệm. Người thường nghĩ rằng Phật phải là một ông không phải là mình thì mới là Phật. Ông đó ngồi trên chánh điện chùa, đi lửng thửng trên may hay phải ngồi trên một tòa sen đẹp. Hiểu Phật như thế thì biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa có nhằm gì! Cho nên họ chẳng cần làm việc đó. Ngược lại, người thọ trì, đọc tụng, tu tập kinh Pháp Hoa, tự tin Tri Kiến Phật của mình. Tin mình có tâm Như Lai mầu nhiệm. Rồi quyết chí tu hành, cải tạo vô minh, diệt trừ phiền não, do đó, sớm muộn gì cũng đến ngày thành Phật. Thế không phải sứ giả Như Lai là gì? 3. Nếu hỏi ai là người sẽ được thành Phật? Hãy chỉ những người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa. Vì sao vậy? Vì người này tự tin mình thành Phật. Biết mình có Phật Tri Kiến, biết có Như Lai Viên Giác Diệu Tâm. 4. Dùng ác tâm chê mắng Phật trọn kiếp, tội còn nhẹ hơn chê mắng người tại gia hay xuất gia thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa. Sao lạ thế? Tai hãy chính chắn tư duy vấn đề này: Giả sử có người xỉ vào mặt ông Cù đàm, ông Thích Ca Mâu Ni mà mắng. Thế nào? Họ đã mắng được Phật chưa? Xin đáp rằng: Chưa. Họ mắng như thế không trúng Phật. Họ chỉ mắng được ông Cù đàm, ông Tất đạt đa, ông Thích Ca theo danh ngôn thường xưng gọi. Cái hiện tướng tứ đại duyên khởi là Phật thì cả thế giới thành Phật cả, còn ai để gọi “chúng sanh”? Phật là cái giác tánh linh tri, cái tinh hoa Trí tuệ chứa đựng ở trong cái hiện tướng duyên sanh đó, cái đó là Như Lai, là Viên Giác Diệu Tâm là Tri Kiến Phật. Tất cả cái đó chứa đựng trong toàn bộ hệ tư tưởng giáo lý Pháp Hoa Kinh. Cho nên chê mắng kinh Pháp Hoa tức là chê mắng Phật tánh mình, xua đuổi Như Lai tâm mình, không tin mình có khả năng thành Phật. Người tự mắng, tự xua đuổi, tự khinh Phật mình như vậy tức là tự mình đốt cháy hạt giống thành Phật thì cái quả Phật dứt khoát tuyệt phần. Thế là làm cản trở con đường tiến lên Như Lai, Phật, của tất cả chúng sanh cho nên mang tội rất nặng. Còn việc chê mắng ông Tất Đạt Đa, ông Thích Ca thì chưa đá động gì được Phật, Như Lai cả. Ta ôn lại lời Phật dạy ở kinh Bát Nhã Kim Cương: “Nếu dựa vào 32 tướng cho là Như Lai Dựa vào âm thanh thuyết pháp cho là Như Lai. Hiểu Như Lai như thế là người tà đạo. Không hề thấy biết Như Lai đích thực.” Hiểu Như Lai qua âm thanh sắc tướng không đúng thì mắng Như Lai qua huyễn tướng và âm thanh cũng không nhằm được. Cho nên… gọi là tội chỉ là biểu lộ sự ác tâm của chính mình, tội “ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình”, tội “tự chiêu kỳ họa ấy…” chớ Như Lai cũng chẳng bắt tội làm gì. Và thật sự Như Lai cũng chẳng có quyền gì để bắt. Vì Như Lai không phải “đấng thiêng liêng” có quyền thưởng phạt. “Tùy trần trục cảnh, ngã pháp hoạnh sanh, vô minh cứu cánh vọng thành tham, sân, si, mạn hữu lậu nghiệp” “Tuyệt tướng triền căn, tự tha bất cách, giác tánh bản lai cụ túc Từ bi, hỉ, xả vô lượng tâm.” Đó là câu đối của cụ Tâm Minh Lê Đình Thám, tôi thích quá viết vào đây để tặng chư độc giả cùng thưởng thức. Và nhớ rằng nền giáo lý của Phật giáo đại để là vậy đó. Như Lai có quyền thưởng phạt ai đâu! 5. Thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa là dùng đức trang nghiêm của Phật mà tự trang nghiêm mình. - Có thật vậy không? Tại sao? - Có. Tại vì đã chấp nhận, đã tin Phật tánh mình thì mình là Phật, tin tâm Như Lai của mình thì mình là Như Lai. Do đó cái gì Phật có, Như Lai có thì mình có. Người ăn mày thì không có cân đai áo mũ Trưởng giả để mặc. Nhưng đã là Trưởng giả thì mặc đồ Trưởng giả, chứ sao! 6. Kinh điển Phật đã nói, hiện nói và sẽ nói nhiều vô lượng. Nhưng chỉ có kinh Pháp Hoa là khó tin và khó hiểu. Tại sao vậy? Tại vì các kinh “phương tiện”, “bất liễu nghĩa” thì để thích hợp với chúng sanh căn cơ vốn hạ liệt, những tâm hồn yếu đuối thích ỷ lại vào sự ban ân, giáng phúc của một “đấng tha nhân.” Còn kinh Pháp Hoa thì Phật dạy phải tin mình là Phật. Niết bàn không phải ở “cảnh giới” xa xôi nào khác. Phải khai thác cái “tự tánh thanh tịnh Niết bàn.” Phải sử dụng “Niết bàn Vô Trụ Xứ” của Phật. Vì thế chúng sanh khó hiểu và khó tin. 7. Kinh Pháp Hoa phải đúng đối tượng mới nên trao truyền. Lúc Phật tại thế, kinh Pháp Hoa còn bị nhiều người oán ghét, huống là sau Như Lai diệt độ. - Tại sao thế? - Tại vì chúng sanh có tánh tự khinh, không tin nổi rằng mình có thể thành Phật. Mà kinh Pháp Hoa thì chỉ thẳng cái Tri Kiến Phật sẵn có, khiến chúng sanh tự ngộ nhập, tự thành. 8. Sau Như Lai diệt độ, có ai thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa Như Lai lấy y mà trùm, lấy tay xoa đầu người đó. Người đó cùng Như Lai ở chung. - Sự thật có thế ư? Hình mạo Như Lai thế nào, khi Như Lai làm những điều đó? - Như ta đã biết, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm thì ai cũng có, cái thể bất biến của Tâm là Như. Cái dụng tùy duyên của tâm là Lai. Vì vậy, Như Lai là Thể Dụng là Tâm Tánh thanh tịnh bản nhiên vốn có của mọi người. “Tâm sanh chủng chủng pháp Tùy duyên thủy thượng âu Tánh chân như bất biến Như thủy, bổn thanh trừng Bất biến tùy duyên chân thử tánh Tùy duyên bất biến thị tha tâm Minh tâm, minh liễu âu bào thượng Kiến tánh thâm tri thủy diện trừng.” Dịch: “Tâm sanh ra muôn pháp Tùy duyên như bọt nước xao Tánh, chân như bất biến Như nước vốn lặng trong Bất biến tùy duyên là tánh ấy Tùy duyên bất biến chính là tâm này Minh tâm? Nhận rõ lao xao bọt Kiến tánh? Nhìn sâu mặt nước bình.” Ai mà chẳng sống bằng tâm tánh, chẳng ở cùng tâm tánh, chẳng tương quan tác động giữa nhục thân và tâm tánh. Tách rời tâm tánh ra mà còn là một con người thì Phật không có nói bao giờ trong toàn bộ giáo lý Phật. Những đợt sóng “tùy duyên” bao giờ cũng phát xuất, cũng ở trong lòng nước “bất biến.” Nước duyên khởi ra sóng là việc dễ hiểu. Sóng nước không rời là việc tất nhiên. Cũng vậy mọi người ai cũng có Tâm Tánh Như Lai, khi thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa là lúc “trở về” với Như Lai Tâm làm việc Như Lai Tánh thì được ở chung với Như Lai, được Như Lai rờ đầu vậy. Chỉ lo là mình có nhớ Như Lai, bằng lòng trở về ở chung với Như Lai không? Hay là bỏ nhà đi hoang để cho Như Lai phải khắc khỏai nhớ thương như ông Trưởng giả nhớ thương đứa con hoang “cùng tử” của mình. Người ham thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa, là người “trở về nhà” chớ không là “chàng cùng tử” tha phương cầu thực nữa, thì còn lạ gì việc ông Trưởng giả choàng cho con mình chiếc áo đẹp, xoa đầu nựng nịu và ôm vào lòng ngủ chung một giấc yên lành mãn nguyện! Vì bởi con cưng mà! 9. Chỗ nào có kinh hoặc có người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa, nên dựng tháp bảy báu cúng dường, nhưng không cần để Xá Lợi Phật, vì trong đó có toàn thân Như Lai rồi Thân Như Lai là gì? Không cần Xá Lợi mà vẫn có toàn thân Như Lai trong tháp? Sao lại dựng tháp để cúng dường kinh? Đem phẩm vật để cúng dường cho Phật còn dễ hiểu. Dựng tháp để cúng dường kinh thì nghĩa lý thế nào? Kinh Pháp Hoa là Pháp, thứ pháp tối thượng thừa triển khai Tri Kiến Phật trong tất cả chúng sanh. Thế thì Pháp là Phật vậy. Tháp tức là Pháp. Mà tánh của Pháp tức là tánh của Phật, vì Phật tánh và Pháp tánh không hai. Danh thì khác mà thể thì đồng. Trong Pháp tánh có Phật tánh, trong Phật tánh có Pháp tánh. Luật Hiển dương Chánh giác nói: “ Phật tánh tại hữu tình Pháp tánh tại vô tri Phật pháp bản lai vô nhị tánh Nhất hỏa năng siêu bách vạn sài.” Vốn cùng một tánh “chân như” nhưng tùy duyên sanh khởi và tác động vào hữu tình thì tánh chân như được trở thành tên gọi: “PHẬT TÁNH.” Cũng tánh chân như ấy tùy duyên vận động sanh khởi và tác động vào vô tình thì gọi đó là “PHÁP TÁNH.” Kỳ thực Phật tánh và Pháp tánh không hai. Ví như một thứ lửa đem đốt nhiều thứ củi mà tên lửa và độ nóng của lửa có khác: lửa phân bò, lửa rơm, lửa củi, lửa than đước, lửa than đá … 10. Pháp sư nói kinh Pháp Hoa ở chỗ vắng vẻ, Phật sai Thiên long, Bát bộ và tứ chúng đến nghe. Phật dù ở chỗ khác nhưng khiến cho Pháp sư luôn luôn thấy Phật. Pháp sư quên, Phật dạy cho nhớ đầy đủ. Phải hiểu thế nào về sự kiện có vẻ huyền hoặc này? Phải hiểu thế này: Tâm Pháp sư đã có sẵn Như Lai, Phật, tâm Pháp sư tự có đủ Tứ Thánh, Lục Phàm, khắp trùm mười pháp giới. Phật và ta cùng ở chung nhau, lỡ quên mất câu lối thì “Thiền định” để mời Phật đến, ôn cố tri tân, “tư duy” lời Phật, thì Phật, Như Lai Thanh Tịnh Tâm xuất hiện dạy bảo cho mà biết mà nhớ. Phật Thích Ca cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm trước, cũng thỉnh Phật đến hộ niệm cho để thuyết kinh Pháp Hoa cũng bằng lối này. Còn Thiên long Bát bộ thì lúc nào chẳng túc trực ở tâm ta. Cứ “tu duy” trong Thiền định, cứ giảng nói kinh Pháp Hoa đi, Thiên long Bát bộ vẫn nghe rõ, chín cõi chúng sanh đều nghe rõ. Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai dù ở nước khác, nhưng “Như Lai Viên Giác” “Tri Kiến Phật” lúc nào chẳng có ở lòng mình. Muốn thấy Phật, gặp gỡ Phật chỉ cần dời chúng sanh đi nơi khác thì Phật cùng Pháp sư đối diện, đàm đạo Phật pháp, khó gì! Phẩm 11: Hiện Bảo Tháp.Lúc bấy giờ trước Phật có một ngôi tháp bằng thất bảo cao 500 rộng 250 do tuần từ dưới đất hiện lên rồi trụ lơ lửng giữa hư không. Ngôi tháp cực kỳ tráng lệ tỏa ra mùi thơm “ly cấu chiên đàn” khắp cùng cõi nước. Các hàng Thiên long Bát bộ cùng đem các thứ phan lọng, hương hoa, chuỗi ngọc… của cõi trời để cúng dường tôn trọng và ngợi khen. Bấy giờ trong tháp báu vang ra tiếng khen rằng: Hay lắm! Hay lắm! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, có thể dùng tuệ bình đẳng vì đại chúng nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Đúng vậy! Lời Thích Ca Mâu Ni nói là chân lý chân thật! Trước sự kiện hi hữu này, đại chúng được pháp hỉ, đồng thời cho là chuyện lạ nhưng không ai nói ra đều cung kính chấp tay đứng qua một bên. Bồ tát Đại Nhạo Thuyết biết tâm niệm tứ chúng bèn bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Do duyên cớ gì mà có tháp từ đất hiện lên lại từ phía trong có tiếng vang ra như thế?” Đức Phật đáp: Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai. Thời quá khứ, cách đây vô lượng lâu xa, tại nước Bảo Tịnh có Phật Đa Bảo, lúc còn hành đạo Bồ tát, đã phát lời nguyện rằng, nếu được thành Phật thì, sau khi diệt độ, chỗ nào có nói kinh Pháp Hoa, tháp báu của Ngài sẽ hiện ra khen ngợi để chứng minh. Vì vậy, bất luận chỗ nào trong mười phương hễ có nói kinh Pháp Hoa thì tháp báu hiện ra, toàn thân Phật trong tháp nói: “Hay lắm! Hay lắm!” Bồ tát Đại Nhạo Thuyết thay lời đại chúng bạch: “Chúng con muốn thấy thân của đức Phật Đa Bảo.” Phật Thích Ca đáp: Theo đại nguyện của Phật Đa Bảo, khi tháp Ngài hiện ra mà có đức Phật nào muốn chỉ cho tứ chúng thấy thân của Ngài thì đức Phật ấy phải nhóm lại một chỗ tất cả “phân thân” của mình, rồi sau đó thân Phật Đa Bảo mới hiện ra. Vậy nay ta sẽ nhóm tất cả “phân thân” của ta hiện đang thuyết pháp ở các cõi nước trong mười phương. Bấy giờ đức Thích Ca phóng một đại hào quang từ tướng lông trắng giữa đôi mày, hằng sa cõi nước ở mười phương hiện bày, trong đó vô lượng Bồ tát đang vì chúng sanh nói pháp. Thấy ánh sánh ấy, chư Phật mười phương đều bảo các Bồ tát “Chúng ta phải qua thế giới Ta bà, chỗ của đức Phật Thích Ca để cùng cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai.” Chư Phật ấy đều là phân thân của đức Thích Ca. Lúc bấy giờ, cõi Ta bà biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, có cây báu, vàng ròng trang nghiêm, không có tụ lạc thành ấy, xóm làng, biển cả, sông ngòi, rừng núi. Mỗi đức Phật có một Bồ tát làm Thị giả, các đức “phân thân” qua đến Ta bà, lên ngồi kiết già trên tòa sư tử đặt dưới cội mỗi cây báu, lần lượt như thế khắp tam thiên đại thiên thế giới mà vẫn không đủ chỗ ngồi. Để dung chứa tất cả các phân thân đức Thích Ca bèn biến thêm ở tám phương, 200 muôn ức na do tha nước, nước nào cũng thanh tịnh trang nghiêm. Lại để có chỗ cho các phân thân Phật sẽ đến, đức Thích Ca dời Trời, Người đi nơi khác, biến thêm 200 muôn ức na do tha nước khác, nước nào cũng thanh tịnh, trang nghiêm, bình đẳng như trên. Khi đâu vào đấy rồi, các phân thân Phật sai Thị giả qua cõi Ta bà dâng hoa cúng dường Phật Thích Ca và dạy Thị giả bạch rằng: “Như Lai có được ít bệnh, ít khổ, sức khỏe an vui và các Bồ tát Thanh văn đều được an ổn chăng?” Sau khi cúng dường hoa, các Thị giả bạch với đức Thích Ca là chư phân thân Phật đều muốn mở tháp báu đang lơ lửng trên không. Đức Thích Ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lấy ngón tay mặt mở cửa tháp, làm vang ra một tiếng lớn như tháo khóa một cửa thành. Tức thì tất cả chúng sanh trong hội đều thấy Đa Bảo Như Lai trong tháp báu ngồi trên tòa sư tử toàn thân nguyên vẹn như người nhập định. Lại nghe Đa Bảo Như Lai nói: “Hay lắm! Hay lắm! Thích Ca Mâu Ni Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay quá. Vì muốn nghe kinh nên ta mới đến đây.” Hàng tứ chúng thấy việc chưa từng có, hân hoan đem các thứ hoa báu tung rải lên cúng dường Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca. Chia nửa tòa sư tử trong tháp báu, Phật Đa Bảo nói: “Phật Thích Ca! Xin mời lên ngồi trên tòa này.” Tức thời đức Phật Thích Ca vào trong tháp ngồi kiết già trên chỗ được Phật Đa Bảo nhường. Thấy hai Như Lai cùng ngồi xếp bằng trên tòa Sư Tử trong tháp, đại chúng thầm nguyện: “Phật ngồi cao quá, cúi mong Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được gần Như Lai ở trên hư không.” Đức Thích Ca bèn dùng thần thông tiếp đại chúng lên hư không, rồi nói lớn khắp bảo: “Nay chính là lúc nói kinh Pháp Hoa cho những ai, ở Ta bà, có khả năng nói kinh ấy.” Để diễn lại ý trên, đức Thích Ca nói một bài kệ mà đại ý như sau: “Đức Phật Đa Bảo diệt độ đã lâu, nay vì muốn nghe kinh Pháp Hoa khó gặp mà hiện ra trong tháp báu, hà huống các người mà chẳng siêng nghe. Ai nói được kinh này là đã thấy ta cùng Phật Đa Bảo và các vị phân thân Phật. Các thiện nam tử! Nên suy nghĩ, phải phát nguyện rộng lớn mới nói được kinh Pháp Hoa. Đó là một cái khó hơn tất cả các thứ khó khác. Thật vậy, nói được tất cả các kinh điển khác: dời núi Tu Di, lấy chân hất ba ngàn đại thiên thế giới, dùng sự tướng mà rộng chỉ chân lý, lấy tay nắm bắt hư không, đem cả đại địa để lên móng chân rồi bay lên cõi trời Phạm Thiên, mang cỏ khô vào lửa mà không bị cháy, trì tám muôn bốn ngàn kinh điển rồi vì người đem nói ra, khiến chứng được 6 thần thông, nói pháp làm cho vô lượng chúng sanh đều đắc quả A la hán, tất cả những việc làm ấy rất khó, nhưng chưa khó bằng sau khi Phật diệt độ mà nói kinh Diệu Pháp, trong đời ác trược, biên chép nắm giữ được kinh này, vì một người mà nói kinh này, nghe lãnh và tìm thâm nghĩa trong kinh này, tôn trọng và thực hành kinh này. Kinh Diệu Pháp là bậc nhất. Thọ trì, đọc tụng được ắt làm cho chư Phật hoan hỉ. Ai làm được là người dõng mãnh Tinh tấn. Đó mới thật là người Trì giới, tu khổ hạnh, là người được mau chứng quả Vô thượng Bồ đề. Đời sau, ai đọc giữ kinh này là Phật tử chân chánh, là bậc thuần thiện. Sau khi Phật diệt độ, ai hiểu được kinh này là mắt sáng suốt của Trời, Người trong thế gian. Trong cảnh đầy sợ hãi, ai nói được kinh này trong chốc lát, là người đáng cho Thiên, Nhân cúng dường.” THÂM NGHĨA Một ngôi tháp bằng thất bảo, cực kỳ tráng lệ nguy nga, cao 500 rộng 250 do tuần, từ đất nổi lên trụ trong hư không rồi vang ra lời thán tán rằng: “Phật Thích Ca nói kinh Pháp Hoa rất hay dạy rõ về chân lý.” Để cởi mở mối kinh nghi trong lòng đại chúng, đức Phật Thích Ca nói: “Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai. Đó là Phật Đa Bảo. Phật và tháp báu này vốn có từ vô lượng vô số hằng hà sa kiếp…” Quả là một việc ly kỳ! Tháp tức là Pháp. Pháp mà đã có từ vô lượng vô số hằng hà sa kiếp mà vẫn trường tồn không hoại. Thế là không phải pháp hữu vi rồi. Ở đây ý Phật muốn giới thiệu và dạy cho chúng sanh biết về Pháp tánh vậy. Chỉ có Pháp tánh mới là pháp bất hoại, chân thường. Phật Đa Bảo Như Lai “thọ lượng” lâu đời như ngôi bảo tháp, thì không phải là “ứng thân Phật.” Qua sự kiện này Phật muốn “chỉ” (Thị Phật Tri Kiến) cho chúng sanh biết về cái Phật tánh bất diệt là như thế đó. Đất ở thế gian thì nay động mai chuồi, đây bồi kia lở bại hoại Vô thường. Vậy đất trường tồn phải là đất bất sanh bất diệt vô thỉ vô chung, tuổi thọ của nó phải đồng với cái “thọ lượng” của Phật tánh, Pháp tánh ở trên đã nói. Có vậy mới dung chứa được cái tháp (Pháp) và Đa Bảo Như Lai (Phật) bất sanh bất diệt. Vậy đấy đó phải là đất Tâm là Tâm Địa vậy. Kinh Tâm Địa Quán nói: “Trong tam giới lấy tâm làm chủ. Người năng quán tâm chắc chắn Giải thoát, người không quán tâm chắc chắn trầm luân. Tâm chúng sanh ví như Đại Địa. Ngũ cốc, ngũ quả từ đại địa mà sanh. Cái Tâm cũng thế, nó sanh ra pháp thế và xuất thế: Hữu học, Vô học, Độc giác, Bồ tát cho đến Như Lai. Do đó, Tam Giới duy tâm. Tâm được gọi là Đất. Vậy Pháp, Phật từ đất nổi lên, có nghĩa là Phật tánh, Pháp tánh không ngoài Tâm tánh. Tâm tánh bao trùm hàm chứa Phật tánh và Pháp tánh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm ví như chàng họa sĩ Vẽ ngũ ấm thế gian Tất cả thế gian này Vạn pháp từ đây tạo Tâm, Phật cũng như thế Và Phật, chúng sanh cũng vậy Tâm Phật và chúng sanh Ba tên mà đồng một bản thể.” Phật Đa Bảo khi tu nhơn có lời thệ sâu nặng: “Nếu tôi được thành Phật thì sau Phật diệt độ trong mười phương ở đâu có nói kinh Pháp Hoa thì tháp của tôi sẽ hiện đến để nghe và thán tán! Hay lắm! Hay lắm! Và nếu đức Phật đó muốn giới thiệu thân tôi cho tứ chúng thấy thì phải nhóm hết phân thân Phật của mình đang thuyết pháp trong mười phương lại. Bấy giờ thân tôi mới hiện ra.” Cái bổn thệ sâu nặng của Phật Đa Bảo hiện đã thành hiện thực. Sự kiện ấy có ý nghĩa gì? Ta có thể hiểu sự kiện này qua hai ý: Một, để chứng minh. Qua sự chứng minh này, nói lên ý nghĩa kinh Pháp Hoa là kinh Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Rằng kinh Pháp Hoa, đức Thích Ca đang nói là kinh của chư Phật trong hằng hà sa số kiếp đã nói. Đó là chân lý tối thượng của Phật thừa, không phải chỉ có một mình Phật Thích Ca tự nói. Hai, cũng qua sự chứng minh này, nhằm “tạo điều kiện” để Phật Thích Ca giới thiệu cho chúng sanh biết rằng: “tuổi thọ” của “Pháp thân Phật” về thời gian thì xuyên suốt “ba đời”, về không gian thì khắp giáp “mười phương.” Đức Phật Thích Ca nhóm phân thân về cõi Ta bà với phạm vi tam thiên đại thiên thế giới nhưng cõi Ta bà không đủ chỗ ngồi. Phật phải biến thêm 200 muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước ở phương Đông, cũng không đủ chỗ ngồi. Lần lượt biến thêm ở phương Kinh nói lại sự kiện này không phải để giới thiệu cái tài ảo thuật biến hóa của đức Phật với đệ tử mình. Không. Phật Thích Ca không bao giờ bằng lòng mình là nhà ảo thuật, dù là nhà ảo thuật thiên tài! Ở đây, cái “thâm nghĩa” của kinh nhằm giới thiệu, dạy cho tứ chúng rằng: “Phật thường trụ và Pháp thường trụ.” Sự hiện hữu của tháp và Phật Đa Bảo tồn tại qua vô lượng vô số kiếp nhằm dạy Phật pháp thường trụ về mặt thời gian. Sự kiện Phật Thích Ca biến hóa cõi nước đầy khắp tám phương, cây báu Bồ đề, tòa sư tử (Pháp) và các phân thân Phật nhằm dạy Phật pháp thường trụ về mặt không gian vậy. Do nghĩa đó, kinh nói: Người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa bất cứ ở điểm không gian nào và khoảng thời gian nào thường được Phật rờ đầu, lấy y mà trùm và được cùng Phật ở chung. Tháp của Phật Đa Bảo vốn trụ trong hư không Phật Thích Ca muốn mở tháp cũng phải trụ trong hư không. Tứ chúng muốn ra mắt Phật Đa Bảo phải nhờ sức thần Phật trụ trong hư không mới thấy được. Người đệ tử Phật phải học lấy bài pháp sâu xa ấy. Đó là điều kiện tiên quyết của người con Phật có ý chí cởi mở những ràng buộc vương vấn khổ đau. Là con người thì còn ăn ở thì phải còn làm. Làm thì làm tất cả, nhưng rồi phải tập luyện xả đi tất cả, đừng trụ (Thật tế lý địa, bất thọ bất trần, sanh diệt môn trung bất xả nhất pháp). Bởi Trụ là chấp, là mắc, là dính dáng. Có chấp, có mắc, có dính dáng là có khổ đau, không thấy được Phật. Phật pháp: vô trụ (Đa Bảo Như Lai và tháp) vốn là cái chân lý vô trụ nên lơ lửng trong hư không. Còn Phật Thích Ca sở dĩ được Phật Đa Bảo chia nửa tòa mời ngồi là do có khả năng “trụ hư không” để mở cửa tháp. Tứ chúng trong hội Pháp Hoa muốn thấy được Phật phải nhờ sức thần Phật, sức thần Phật chứ không phải là sức thần của Phật, nghĩa là nhờ sức tỉnh thức, Giác ngộ chân lý, phủi giủ những vô minh chấp mắc, có khả năng trụ trong hư không rồi mới thấy được Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca. Trụ hư không có nghĩa là “Vô sở trụ” Kinh Kim Cương Bát nhã nói “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Nhược tâm hữu trụ tức vi phi trụ.” Tâm có chỗ trụ là xa rời chân lý phạm phải sai lầm rồi. Phật Thích Ca tiêu biểu Thỉ giác mở tháp để ra mắt Phật Đa Bảo tiêu biểu bổn giác, bằng một chuyển biến lớn lao chớ không dễ dàng đơn giản. Yếu tố đầu tiên là khả năng “Trụ hư không.” Kế đó, phải có một nghị lực thần kỳ, một động tác nhẹ nhàng mà có khả năng phá vỡ một vật thể cách ngăn kiên cố, mở cửa tháp mà như tháo chốt cửa của một đại thành. Sự thật trên đường tu tập của chúng sanh cũng đòi hỏi nghị lực và khả năng như vậy. Bổn giác và thỉ giác vốn không có cự ly ngăn cách, thế mà vận dụng thỉ giác quay về trực diện với bổn giác, đòi hỏi phải có điều kiện, phải có nghị lực phi thường mới đạt mục đích ngang hàng với bổn giác được, mặc dù bổn giác là cái sẳn có, còn thỉ giác chỉ là sự phản chiếu hồi quang, sự “trở về” chớ không phải là cái chi mới lạ. Khi đại chúng chiêm ngưỡng hai Như Lai, Phật Thích Ca tuyên bố: “Ai ở cõi Ta bà truyền bá giảng nói kinh Pháp Hoa phải hiểu rõ ý nghĩa của những sự kiện nói trên. Như Lai chẳng bao lâu nhập Niết bàn và muốn phó chúc kinh Pháp Hoa cho người thừa kế có khả năng đó.” Phải hiểu ý nghĩa những sự kiện Như Lai nói, người đó mới là người được Như Lai phó chúc kinh Pháp Hoa, mới là người có khả năng thừa kế truyền bá giảng nói kinh Pháp Hoa. Bấy giờ Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ có ý nghĩa như sau: Các thiện nam tử Đều nên suy nghĩ Đây là việc khó Phải phát nguyện lớn. Bao nhiêu kinh khác Số như hằng sa Nói hết kinh đó Chưa đủ làm khó. Bưng núi Tu Di Ném để phương khác Vô số cõi Phật Chưa lấy làm khó. Nếu dùng ngón chân Khều cõi Đại Thiên Ném xa cõi khác Cũng chưa làm khó. Đứng trên hữu đảnh Nói vô lượng kinh Để giáo hóa người Chưa lấy làm khó. Nếu sau Phật diệt Ở trong đời ác Nói được kinh này Đây là rất khó. Giả sử có người Để mà dạo đi. Cũng chưa là khó Sau ta diệt độ Nếu tự biên chép Hoặc bảo người chép Đây là mới khó. Hoặc đem cõi đất Để trên móng chân Bay lên Phạm Thiên Cũng chưa là khó Tạm đọc kinh này Đây thì rất khó. Giả sử kiếp thiêu Mang gánh cỏ khô Vào lửa không cháy Cũng chưa là khó. Sau ta diệt độ Nếu trì kinh này Vì một người nói Đây là mới khó. Nếu trì tám muôn Bốn nghìn tạng pháp Mười hai bộ kinh Khiến các người nghe Được sáu thần thông Dầu được như thế Cũng chưa là khó Sau ta diệt độ Nghe lãnh kinh này Hỏi nghĩa thú kinh Đây là rất khó. Hoặc người nói pháp Làm nghìn muôn ức Vô lượng vô số Hằng hà chúng sanh Chứng quả La hán Đủ sáu thần thông Dầu có lợi đó Cũng chưa là khó. Sau ta diệt độ Nếu phụng trì được Kinh điển này đây Thế mới là khó Ta vì Phật đạo Ở vô lượng cõi Từ trước đến nay Nói rất nhiều kinh Đối với kinh này Đây là bậc nhất.
|


