| Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải - Kinh Pháp Hoa Giảng Giải Ph. 5 |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | |||
| Viết bởi Thích Thanh Từ | |||
|
Trang 6 của 9
Phẩm 5: Dược Thảo Dụ.Dược Thảo Dụ là ví dụ cây cỏ thuốc. Ngang đây đáng lý Phật thọ ký cho các vị Tỳ kheo và A la hán. Nhưng vì Phật muốn nói rộng cho hàng Thanh văn thấy rõ công đức chân thật của Như Lai, rồi sau mới thọ ký, nên Phật nói phẩm Dược Thảo Dụ này. 1. CHÁNH VĂN: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Ma ha Ca Diếp và các vị đại đệ tử: “Hay thay! Hay thay! Ca Diếp! Khéo nói được công đức chân thật của đức Như Lai. Đúng như lời các ông vừa nói; đức Như Lai lại còn có vô lượng vô biên A tăng kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được. Ca Diếp nên biết! Đức Như Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng Trí tuệ phương tiện mà diễn nói đó, pháp của Phật nói thảy đều đến bậc Nhứt thiết trí. Đức Như Lai xem biết chỗ qui thú của tất cả pháp, cũng rõ biết chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sanh thông thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả Trí tuệ cho các chúng sanh. GIẢNG: Đức Phật xác nhận Tôn giả Ma ha Ca Diếp khéo tán thán công đức của Như Lai. Đúng như lời của Tôn giả Ma ha Ca Diếp nói, Như Lai còn có vô lượng vô biên công đức, dù trải qua vô số kiếp nói cũng không hết được. Sở dĩ Như Lai có được công đức như thế do Ngài tu nhân lành vô lượng vô biên, là hành Lục độ Ba la mật, độ vô số chúng sanh được giải thoát. Ngài tu mãi cho đến khi công hạnh viên mãn thành Phật mới thôi. Còn hàng phàm phu chúng ta chỉ tu được nhân phước báo của nhân thiên, nó hữu lượng hữu biên, nên thành tựu quả cũng hữu lượng hữu biên, vì vậy còn quanh quẩn trong cõi trời cõi người. Ở đây nói trì kinh Pháp Hoa có công đức nhiều là vì kinh này dạy Bồ tát tu đến Phật quả mới viên mãn công hạnh, chớ không dừng ở bất cứ quả vị nào. Quả Phật là chỗ cứu cánh của người tu Phật, nên nói kinh Pháp Hoa là vua các kinh là nghĩa đó. Phật lại nói Như Lai là vua tất cả pháp, nói lời không hư dối, dùng sức Trí tuệ phương tiện nói pháp đều đưa chúng sanh đến bậc Nhứt thiết trí. Như Lai biết chỗ qui thú của tất cả pháp, cũng biết rõ tâm sở hành của chúng sanh. Chỗ qui thú của tất cả pháp là nguồn cội của các pháp, Phật giác ngộ thấy rõ nhân nào đưa chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử, nhân nào đưa chúng sanh tới chỗ giải thoát Niết bàn. Ngài thấy tận nguồn cội của pháp hữu vi sanh diệt ở thế gian và pháp vô vi bất sanh bất diệt xuất thế gian. Bởi thấy tận nguồn cội của các pháp, nên thấy được tâm sở hành của chúng sanh, tức là tâm ưa thích đến chỗ này đến chỗ kia của chúng sanh. Do biết pháp và biết tâm người nên Phật giáo hóa thông suốt không chướng không ngại. Chúng ta hiện thời, pháp thì biết chút ít, tâm người cũng biết sơ sơ, nên giáo hóa thường bị chướng ngại. Nếu biết pháp mà không biết tâm người, thì nói pháp chỉ khế lý mà không khế cơ nên người nghe không thỏa mãn, không thực hành theo, không được lợi ích, do đó có chướng ngại. Nếu biết tâm người mà không biết pháp thì cũng không giáo hóa được, vì chính bản thân mình chưa tu chưa tiến, làm sao biết rõ đường hướng để chỉ dạy cho người tu theo? Thế nên giáo hóa mà bị chướng ngại là lỗi tại chúng ta chưa được Trí tuệ viên mãn, không biết pháp không rõ tâm người! 2. CHÁNH VĂN: Ca Diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất, sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc bậc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thọ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác. GIẢNG: Phật dụ mặt đất sanh ra cây cỏ thuốc, cây nhỏ, cây vừa, cây lớn, màu sắc tên gọi khác nhau. Một trận mưa xuống, tùy theo khả năng của mỗi loại mà thấm nhuần sinh trưởng khác nhau. Ở đây nêu lên hai cái bình đẳng. Bình đẳng thứ nhứt là cây lớn, cây vừa, cây nhỏ, tất cả đều từ đất mọc lên. Bình đẳng thứ hai là dù cây nhỏ cây vừa, hoặc cây lớn cũng được nước của trận mưa rưới đều. Cùng từ đất mọc lên, cùng nhận nước từ một trận mưa, mà sức hấp thụ phân nước của mỗi loại sai khác, nên thấm nhuần và sinh trưởng cũng sai khác. Đất là dụ cho Tri kiến Phật nơi mỗi chúng sanh ai cũng có sẵn. Mưa là dụ cho pháp Phật dạy chung cho tất cả, nhưng tùy theo sự mê muội của mỗi chúng sanh dầy hay mỏng mà nhận hiểu sâu hay cạn. Đó là do căn cơ của mỗi loại mà lợi ích có sai khác, không phải pháp Phật dành cho người cao hay dành cho người thấp. Vì căn cơ sai biệt nên pháp trở thành sai biệt. Cũng như trong pháp hội này, thính chúng đều là người xuất gia, ai cũng muốn nghe pháp mà đến đây. Tôi giảng cũng bình đẳng không đặc biệt dành riêng cho một người nào. Nhưng trong đây, có người hiểu sâu, có người hiểu cạn, có người nghe vui vẻ hân hoan, có người nghe không hiểu buồn ngủ... Có phải tại tôi nói pháp chú ý người này nên họ vui vẻ hân hoan, bỏ rơi người nọ nên họ buồn ngủ không? Tôi nói pháp bình đẳng, đối với người có khả năng tiếp thu được, họ hiểu nên họ vui. Người thiếu khả năng, nghe không hiểu nên buồn ngủ. Đó là do trình độ người nghe sai biệt nên hiểu biết cũng sai biệt. Qua ví dụ trên, chúng ta thấy rằng sở dĩ Phật nói ba thừa là tại căn cơ của chúng sanh sai biệt, nên Ngài tùy thuận nói, nhưng chỗ thú hướng bình đẳng là Ngài qui Tam thừa trở về Nhất thừa. Đó là ý nghĩa cùng một thửa đất cùng một đám mưa, nhưng tùy loại giống mà hấp thụ phân nước khác nhau nên có cây lớn, cây trung, cây nhỏ khác nhau. 3. CHÁNH VĂN: Ca Diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả Trời, Người, A tu la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam thiên đại thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời này: “Ta là đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết bàn thời làm cho chứng Niết bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhứt thiết trí, bậc Nhứt thiết kiến, là bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Các ngươi, hàng Trời, Người, A tu la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy.” Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Phật mà nghe pháp. Lúc đó đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại, ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo. Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng, và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng. Đức Như Lai nói pháp một tướng, một vị, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “Nhứt thiết chủng trí”. Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì được pháp gì? Chúng sanh ở nơi các bậc, chỉ có đức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng, các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó. Đức Như Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “Nhứt thiết chủng trí”. Ca Diếp! Các ông rất là hy hữu, có thể rõ biết đức Như Lai tùy cơ nghi nói pháp hay tin hay nhận, vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết. GIẢNG: Tới đây, chúng ta thấy như đức Phật tự khen mình. Nhưng kỳ thật Phật xác định công đức Như Lai rộng lớn như vậy, là do làm lợi ích cho chúng sanh trong vô số kiếp mới được thành tựu quả Phật. Ngài tuyên bố dõng dạc rằng: Khả năng và sở nguyện của Ngài là làm lợi ích chúng sanh đến chỗ viên mãn. Đối với người chưa được độ Ngài làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ Ngài làm cho tỏ ngộ, người chưa an Ngài làm cho được an, người chưa chứng Niết bàn Ngài làm cho chứng Niết bàn, ở đời này và đời sau, Ngài đều biết đúng như thật. Ngài là bậc Nhứt thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Hàng Trời, Người, A tu la nên đến để nghe pháp. Xét lại, chúng ta và chúng sanh đời sau chưa được độ, chưa được tỏ ngộ, chưa được an, chưa được Niết bàn mà Phật đã diệt độ rồi, sao ở đây Ngài lại nói như thế? Đức Phật là đấng Vô thượng sư, một ông Thầy không có ai hơn được. Khi đức Phật còn tại thế, Ngài thường khuyên dạy các Tỳ kheo phải y theo pháp mà nỗ lực tu hành. Muốn đền ơn Phật là phải giáo hóa chúng sanh, giáo hóa chúng sanh là đền ơn Phật. Chúng ta ở đời này cũng như chúng sanh ở đời sau không có duyên gặp Phật. Thuở Phật ra đời, không biết chúng ta là loài chúng sanh nào, có thể là kiến hay muỗi cắn Phật một chút, do cái duyên đó nên ngày nay cách Phật mấy ngàn năm mới được gặp Phật pháp tu hành. Tuy gặp Phật pháp mà chỉ gặp gián tiếp, chớ không được gặp trực tiếp. Chính vì lời dạy trên của Phật, mà sau khi Phật Niết bàn, hàng đệ tử lớn của Ngài ghi chép lời dạy của Ngài thành Tam tạng giáo điển lưu truyền cho đời sau. Người đi trước đã tu học, dạy cho người sau được tu học, cứ thế mà truyền mãi cho tới ngày nay, nên tất cả chúng ta cũng được gặp Phật pháp. Tuy chúng ta không tỏ ngộ như người xưa, nhưng cũng được phần tỉnh sáng, tuy không được Niết bàn an vui vĩnh viễn như người xưa, nhưng cũng được những giờ phút an ổn. Ngày nay chúng ta được phúc duyên ngồi đây nghe pháp, là chúng ta đã được Phật gián tiếp độ rồi. Chúng ta được tỉnh sáng phần nào là nhờ Phật mà được tỏ ngộ. Tâm chúng ta bớt phiền não là nhờ Phật mà được an. Như vậy lời nói của Phật không dối. Sở dĩ đạo Phật tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm nay là do giáo pháp Phật còn, và còn người tu đúng theo pháp Phật. Ngoài ra chùa chiền, di tích, nghi thức tôn giáo chưa phải là yếu tố chính để duy trì Phật pháp. Trọng tâm của sự truyền bá đạo Phật, là phải làm sao chính mình thông hiểu và thực hành đúng pháp Phật, để được lợi ích thực tiễn, rồi dạy người hiểu và tu đúng theo pháp Phật, được lợi ích như mình. Cho nên chúng tôi tự thấy trách nhiệm là phải làm sao cho Tăng Ni và Phật tử hiểu, thực hành được những gì mà chúng tôi đã hiểu, đã thực hành, thì khả dĩ Phật pháp mới được trường tồn. Nếu hiểu Phật pháp mà không tu hoặc tu sai, hay tu mà không hiểu Phật pháp là tự mình hủy diệt mình, tự làm cho đạo Phật không còn giá trị chân chính nữa. Phật nói Ngài là bậc Nhứt thiết trí, tức là trí Phật biết được tất cả. Bậc Nhất thiết kiến, tức là Phật thấy được tất cả. Bậc Tri đạo, tức là Phật biết đường để dẫn cho mọi người đi. Bậc Khai đạo, tức Phật là người mở đường cho chúng sanh đi. Bậc Thuyết đạo, tức Phật là người nói con đường cho chúng sanh biết để đi. Vì vậy nên tất cả hãy đến để nghe. Phật biết rõ trình độ của chúng sanh nào là lợi căn, độn căn, tinh tấn, giải đãi... Ngài tùy theo căn cơ của họ mà giảng nói để họ cũng được lợi ích. Ngài không bỏ sót một người nào, khôn lanh Phật cũng độ, dại khờ Phật cũng độ, siêng năng Phật cũng độ, lười biếng Phật cũng độ. Nên Ngài nói ai ai cũng đều được lợi lành, được an ổn, đời sau sanh vào cõi lành, hưởng vui sướng. Nhờ nghe pháp Phật mà bớt chướng ngại, lần lần sẽ được vào đạo, chứng Phật quả. Pháp Phật ví như một đám mưa lớn rưới khắp tất cả cỏ cây, tùy theo giống của mỗi loại đều được hấp thụ, đượm nhuần và sanh trưởng. Pháp Phật nói chỉ có một tướng, một vị, đó là tướng giải thoát, vị giải thoát. Phật giáo hóa suốt bốn mươi chín năm, Ngài nói pháp rất nhiều, tại sao chỉ có một tướng giải thoát, một vị giải thoát? Như chúng ta biết, Phật nói pháp thấp nhất là 5 giới, người giữ 5 giới là giải thoát được 5 phần chướng nạn. Ví dụ người có tật tham lam trộm cắp, khi phát nguyện giữ 5 giới thì không trộm cắp nữa, không trộm cắp là đã giải thoát được cái nạn bị bắt bớ đánh đập tù tội. Người ghiền rượu khi phát nguyện giữ 5 giới thì giải thoát được cái nạn nghiện ngập say sưa. Vậy giữ một giới là giải thoát được một nạn chướng, giữ hai giới là giải thoát được hai nạn chướng... Trong luật gọi là từng phần giải thoát. Như vậy không phải pháp Phật có một vị là vị giải thoát sao? Tướng xa lìa là xa lìa tham sân si, phiền não chấp trước. Đối trước danh lợi, tài sắc... biết là giả dối không thiệt, không khởi tham sân si, chấp trước, đó là xa lìa, chớ không phải chạy trốn danh lợi, tài sắc mới gọi là xa lìa. Tướng diệt là sạch hết mọi vọng niệm, tâm thanh tịnh, hướng đến bậc Nhất thiết chủng trí. Sở dĩ Phật dạy cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát, là vì Ngài được Nhất thiết chủng trí, tức là trí biết được mọi chúng sanh. Nên ai nghe kinh này rồi thọ trì, đọc tụng và đúng như lời Phật dạy mà tu hành thì người đó được công đức tự mình không hay biết, không thể suy lường. Chúng ta ngày nay chỉ đọc tụng mà không đúng như lời Phật dạy để tu hành, cho rằng đọc tụng nhiều là tu nhiều. Tu và đọc có giống nhau không? Nếu bảo đọc tụng kinh là tu, tôi cho rằng chưa đúng. Vì sao? Ví dụ một bệnh nhân đến bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ cho toa bảo về nhà mua đủ những thứ thuốc ghi trong toa mà uống sẽ lành bệnh. Bệnh nhân đem toa về cứ đọc tới đọc lui hiệu thuốc ghi trong toa, mà không mua thuốc để uống. Như thế bệnh có lành không? Cũng vậy, ở đây Phật dạy đọc tụng rồi đúng như lời dạy của Phật mà tu hành mới được công đức. Phải hiểu chỗ này cho thật kỹ. Đọc rồi nhớ ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống đó là tu, chớ không phải đọc tụng suông như đọc toa thuốc mà gọi là tu được. Hiện tại có rất nhiều người tụng kinh Pháp Hoa, tu theo kinh Pháp Hoa, nhưng chúng ta tụng và tu theo kinh Pháp Hoa với tâm niệm gì? Cầu Trí tuệ Phật hay cầu phước báo, cầu lợi lộc? Nếu cầu phước cầu lợi là phản bội kinh Pháp Hoa rồi! Tôi xin nhắc lại kinh Pháp Hoa dạy tu để được Nhứt thiết chủng trí, tức là tu để được Trí tuệ Phật. Phật dạy một đàng chúng ta làm một nẻo, mà cho là trì kinh, cho là mình tu cao, chỉ tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng ngã mạn. Đó là một cái bệnh mà ít ai biết. Nói lời thật thì khó nghe và làm mích lòng người. Nhưng biết, thấy người tu sai mà không nói thì vấp phải cái lỗi bỏn xẻn, nên buộc lòng chúng tôi phải nói. Giảng kinh Pháp Hoa là phải làm sáng tỏ lý kinh, chớ để cho người tu theo kinh Pháp Hoa mà tu lầm, tu sai thì không được. Tại sao trì tụng kinh và đúng như lời dạy của Phật tu hành mà không tự biết công đức? Vì mình không tự biết mình căn cơ ở bậc thượng, bậc trung hay bậc hạ. Chỉ có Phật mới biết, nên Ngài mới bủa ra nhiều pháp môn. Chúng sanh thích hợp với pháp môn nào thì ứng dụng pháp môn đó mà tu hành, chớ tự mình không biết. Phật do được Nhứt thiết chủng trí mới biết được chủng tướng, thể tánh của chúng sanh: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Và được pháp gì? Nên Ngài đúng theo từng tâm niệm của chúng sanh mà giáo hóa được kết quả thiết thực. Chúng ta tu chưa được Nhứt thiết chủng trí, nói pháp không đúng tâm niệm của chúng sanh nên không có kết quả tốt. Xưa Ngài A Nan hướng dẫn cho hai vị đệ tử Sa di tu, một vị Ngài dạy quán sổ tức, một vị Ngài dạy quán bất tịnh. Cả hai tu một thời gian không kết quả, khi gặp lại Ngài, hai vị trình là tu không tiến bộ. Ngài A Nan thắc mắc tại sao mình dạy tu đúng với pháp Phật mà đệ tử tu không có kết quả. Ngài bèn trình việc này lên Phật, Phật hỏi hai vị đó trước làm nghề gì. Ngài A Nan thưa, một người làm thợ rèn, một người giữ nghĩa địa. Phật nói Ngài A Nan dạy tu không hợp căn cơ của người. Với người thợ rèn thì nên dạy tu sổ tức, vì thợ rèn hay thụt ống bễø, dạy quán sổ tức họ dễ nhớ dễ thực hành. Người giữ nghĩa địa thường thấy thây chết nên dạy quán bất tịnh. Theo lời Phật, Ngài A Nan dạy hai vị Sa di tu một thời gian được kết quả tốt. Để thấy chúng ta chưa được Nhứt thiết chủng trí, không biết tâm hành của chúng sanh, nên giáo hóa không có kết quả. Vì vậy, chúng ta tu nửa chừng như hiện nay, dù có thông minh đến đâu đi nữa, cũng chưa đủ phương tiện giáo hóa người, nên đừng tự mãn mà phải tu cho đến chỗ rốt ráo thành Phật mới thôi. Phật lặp lại một lần nữa là pháp Phật có một tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không. Là chỉ cho Niết bàn tịch diệt không có tướng mạo, không sanh diệt, không vô thường. Phàm cái gì có hình tướng thì sanh diệt, vô thường, là duyên hợp huyễn hóa không thật. Do đó Phật mới dùng phương tiện để đưa mọi người tu từ thấp lần lần lên cao, rồi đến Trí tuệ Phật là cái chân thật. Nên nói Như Lai tùy cơ nghi nói pháp mà tâm phàm phu chúng ta khó có thể hiểu biết được. Tới đây Phật khen Tôn giả Ma ha Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên, Ma ha Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề rất là hi hữu ít có. Tại sao Phật khen các Ngài rất ít có? Vì các Ngài biết rõ Phật tùy cơ nghi nói pháp nên tin nhận được, chỗ khó hiểu khó biết bây giờ các Ngài đã hiểu đã biết. Như vậy là các Ngài xứng đáng gánh vác trách nhiệm mà Phật giao phó, nên Phật khen để rồi sau này Phật thọ ký. 4. CHÁNH VĂN: Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Pháp vương phá các cõi Hiện ra trong thế gian Theo tánh của chúng sanh Dùng các cách nói pháp. Đức Như Lai tôn trọng Trí tuệ rất sâu xa Lâu giữ pháp yếu này Chẳng vội liền nói ra Người trí nếu được nghe Thời có thể tin hiểu, Kẻ không trí nghi hối Thời bèn là mất hẳn. Ca Diếp! Vì cớ đó Theo sức chúng nói pháp Dùng các món nhân duyên Cho chúng được chánh kiến. Ca Diếp ông nên biết! Thí như vừng mây lớn Nổi lên trong thế gian Che trùm khắp tất cả Mây Trí tuệ chứa nhuần Chớp nhoáng sáng chói lòa Tiếng sấm xa vang động Khiến mọi loài vui đẹp Nhựt quang bị che khuất Trên mặt đất mát mẻ Mây mù sa bủa gần Dường có thể nắm tới. Trận mưa đó khắp cùng Bốn phương đều xối xuống Dòng nước tuôn vô lượng Cõi đất đều rút đầy Nơi núi sông hang hiểm Chỗ rậm rợp sanh ra Những cây cối cỏ thuốc Các thứ cây lớn nhỏ Trăm giống lúa mộng mạ Các thứ mía cùng nho Nhờ nước mưa đượm nhuần Thảy đều tươi tốt cả. Đất khô khắp được rưới Thuốc cây đều sum sê Vừng mây kia mưa xuống Nước mưa thuần một vị Mà cỏ cây lùm rừng Theo mỗi thứ đượm nhuần Tất cả các giống cây Hạng thượng, trung cùng hạ Xứng theo tánh lớn nhỏ Đều được sanh trưởng cả. Gốc thân nhánh và lá Trổ bông trái sắc vàng Một trận mưa rưới đến Cây cỏ đều thấm mướt Theo thể tướng của nó Tánh loại chia lớn nhỏ Nước đượm nhuần vẫn một Mà đều được sum sê. GIẢNG: Phần trùng tụng lặp lại ý chính ở trên là, Phật ra đời cốt chỉ cho mọi người nhận ra Tri kiến Phật. Nhưng vì căn cơ chúng sanh không đồng, nên phải tùy theo trình độ mà giáo hóa có sai biệt, để cho người cao cũng như người thấp đều nhận được lợi ích và cuối cùng Ngài đưa đến chỗ cứu kính bình đẳng là quả Phật. Phật dụ pháp Phật bình đẳng như nước mưa có một vị ngọt rưới khắp cỏ cây lớn nhỏ, tùy mỗi loại cây mà hấp thụ nước sai biệt, nhưng loại nào cũng bình đẳng nhận lợi ích. 5. CHÁNH VĂN: Đức Phật cũng như thế Hiện ra nơi trong đời Ví như vầng mây lớn Che trùm khắp tất cả. Đã hiện ra trong đời Bèn vì các chúng sanh Phân biệt diễn nói bày Nghĩa thật của các pháp Đấng Đại Thánh Thế Tôn Ở trong hàng trời người Nơi tất cả chúng hội Mà tuyên nói lời này: Ta là bậc Như Lai Là đấng Lưỡng Túc Tôn Hiện ra nơi trong đời Dường như vừng mây lớn Thấm nhuần khắp tất cả Những chúng sanh khô khao Đều làm cho lìa khổ Được an ổn vui sướng Hưởng sự vui thế gian Cùng sự vui Niết bàn. Các chúng trời người này Một lòng khéo lóng nghe Đều nên đến cả đây Ra mắt đấng Vô thượng Ta là đấng Thế Tôn Không có ai bằng được Muốn an ổn chúng sanh Nên hiện ra trong đời Vì các đại chúng nói Pháp cam lồ trong sạch Pháp đó thuần một vị Giải thoát Niết bàn thôi. Dùng một giọng tiếng mầu Diễn xướng nghĩa nhiệm này Đều thường vì Đại thừa Mà kết làm nhân duyên Ta xem tất cả chúng Khắp đều bình đẳng cả Không có lòng bỉ thử Cùng với tâm yêu ghét Ta không chút tham đắm Cũng không có hạn ngại Hằng vì tất cả chúng Mà bình đẳng nói pháp Như khi vì một người Lúc chúng đông cũng vậy Thường diễn nói pháp luôn Từng không việc gì khác Ngồi, đứng, hoặc đến, đi Trọn không hề nhàm mỏi Đầy đủ cho thế gian Như mưa khắp thấm nhuần Sang hèn cùng thượng, hạ Giữ giới hay phá giới Oai nghi được đầy đủ Và chẳng được đầy đủ Nguời chánh kiến, tà kiến Kẻ độn căn, lợi căn Khắp rưới cho mưa pháp Mà không chút nhàm mỏi. Tất cả hàng chúng sanh Được nghe pháp của ta Tùy sức mình lãnh lấy Trụ ở nơi các bực Hoặc là ở Trời, Người Làm Chuyển Luân Thánh vương Trời, Thích, Phạm, các vua Đó là cỏ thuốc nhỏ Hoặc rõ pháp vô lậu Hay chứng được Niết bàn Khởi sáu pháp thần thông Và được ba món minh Ở riêng trong núi rừng Thường hành môn Thiền định Chứng được bực Duyên giác Là cỏ thuốc bực trung. Hoặc cầu bực Thế Tôn Ta sẽ được thành Phật Tu hành tinh tấn, định Là cỏ thuốc bực thượng. Lại có hàng Phật tử Chuyên tâm nơi Phật đạo Thường thật hành từ bi Tự biết mình làm Phật Quyết định không còn nghi Gọi đó là cây nhỏ. Hoặc an trụ thần thông Chuyển bất thối pháp luân Độ vô lượng muôn ức Trăm nghìn loài chúng sanh Bồ tát hạng như thế Gọi đó là cây lớn. Phật chỉ bình đẳng nói Như nước mưa một vị Theo căn tánh chúng sanh Mà hưởng thọ không đồng Như những cỏ cây kia Được đượm nhuần đều khác. Phật dùng món dụ này Để phương tiện chỉ bày Các thứ lời lẽ hay Đều diễn nói một pháp Ở nơi Trí tuệ Phật Như một giọt trong biển. Ta rưới trận mưa pháp Đầy đủ khắp thế gian Pháp mầu thuần một vị Tùy sức riêng tu hành, Như thể lùm rừng kia Và cỏ thuốc những cây Tùy giống lớn hay nhỏ Lần lần thêm sum sê. Pháp của các đức Phật Thường dùng thuần một vị Khiến cho các thế gian Đều khắp được đầy đủ Lần lựa siêng tu hành Rồi đều được đạo quả. Hàng Thanh văn, Duyên giác Ở nơi chốn núi rừng Trụ thân hình rốt sau Nghe Phật pháp được quả Đó gọi là cỏ thuốc Đều được thêm lớn tốt. Nếu các vị Bồ tát Trí tuệ rất vững bền Rõ suốt cả ba cõi Cầu được thừa tối thượng Đó gọi là cây nhỏ Mà được thêm lớn tốt. Lại có vị trụ Thiền Được sức thần thông lớn Nghe nói các pháp không Lòng rất sanh vui mừng Phóng vô số hào quang Độ các loài chúng sanh Đó gọi là cây lớn Mà được thêm lớn tốt Như thế, Ca Diếp này! Đức Phật nói pháp ra Thí như vừng mây lớn Dùng nước mưa một vị Đượm nhuần nơi hoa người Đều được kết trái cả Ca Diếp ông phải biết Ta dùng các nhân duyên Các món thí dụ thảy Để chỉ bày đạo Phật Đó là ta phương tiện Các đức Phật cũng thế Nay ta vì các ông Nói việc rất chân thiệt Các chúng thuộc Thanh văn Đều chẳng phải diệt độ Chỗ các ông tu hành Là đạo của Bồ tát Lần lần tu học xong Thảy đều sẽ thành Phật. GIẢNG: Pháp Phật nói thì bình đẳng, không đặc biệt chú trọng kẻ thân người sơ, kẻ thấp người cao... Hạng người nào đến với Phật, Phật đều bình đẳng giáo hóa cho, không có tâm bỉ thử cùng với tâm yêu ghét. Nên việc giáo hóa của Ngài không chướng ngại, không hạn cuộc, khiến cho người nghe ai ai cũng đều được lợi ích. Tuy nhiên, tùy theo hạnh nguyện của mỗi người, mà sự lợi ích có sai biệt. Đối với người nghe pháp Phật, phát tâm qui y giữ 5 giới mong đời sau làm người lương thiện hưởng phước lành. Hoặc người phát tâm tu Thập thiện mong đời sau sanh lên cõi trời hưởng phước báo an vui, hoặc làm Chuyển Luân Thánh vương. Những người tu với hạnh nguyện như thế, Phật dụ như cỏ thuốc nhỏ. Đối với người tu theo pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, mong chứng quả Thanh văn, Duyên giác, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc trung. Đối với người tu chỉ mong cầu thành Phật không mong cầu quả vị nào khác và tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc thượng. Đối với hàng Bồ tát mới phát tâm, thực hành hạnh Từ bi, làm lợi ích chúng sanh, tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật không còn nghi ngờ nữa. Hàng Bồ tát này, Phật dụ như loại cây nhỏ... Đối với hàng Bồ tát an trụ thần thông, chuyển pháp luân bất thối, độ vô lượng vô số chúng sanh, đây chỉ cho hàng Bồ tát từ Sơ địa cho tới Thập địa. Hàng Bồ tát này được Phật dụ như loài cây lớn. Trong năm hạng người phát tâm tu với hạnh nguyện sai khác, được Phật dụ cho ba loại cỏ và hai loại cây. Chúng ta tự kiểm lại xem chúng ta thuộc hạng nào trong năm hạng này? Ở đây đức Phật cụ thể hóa ví dụ, là trình độ chúng sanh tuy sai biệt nên pháp tu có thấp cao, nhưng pháp Phật thì bình đẳng chỉ có một vị giải thoát. Bởi pháp Phật bình đẳng chỉ có một vị giải thoát, tuy lúc đầu phát tâm nhỏ, tu giữ năm giới, tu thập thiện, nhưng dần dần sẽ tiến đến chỗ viên mãn là thành Phật, chớ không có dừng nghỉ ở một quả vị nửa chừng. Phẩm Dược Thảo Dụ nói lên tâm bình đẳng của Phật khi giáo hóa chúng sanh, giống như nước mưa rưới khắp tất cả loài cây cỏ. Và chúng sanh ai ai cũng có Tri kiến Phật, bình đẳng như nhau cùng nghe pháp Phật, tùy theo căn cơ sai biệt mà lợi ích có sai khác. Nhưng cuối cùng rồi cũng được thành Phật, giống như các loài cây cỏ đều từ mặt đất mọc lên tùy loại giống mà hấp thụ nước mưa sai khác, nhưng tất cả cây lớn hay cỏ nhỏ loại nào cũng đều được sanh trưởng.
|


