| Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương - Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương Ph. 13- |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | |||
| Viết bởi Thích Từ Thông | |||
|
Trang 5 của 8
Phẩm 13: Khuyến Trì.Lúc bấy giờ Bồ tát Dược Vương và Bồ tát Đại Nhạo Thuyết cùng hai muôn Bồ tát quyến thuộc, ở trước Phật nói lên lời thề rằng: Cúi xin Thế Tôn chớ lo, sau Phật diệt độ chúng sanh tôi sẽ tuân giữ, đọc tụng kinh điển này. Chúng sanh trong đời ác về sau, căn lành lần lần ít, kiêu ngạo nhiều thêm tham lợi háo danh, trồng sâu nghiệp bất thiện, xa lìa Giải thoát. Tuy khó giáo hóa như vậy, chúng con sẽ dùng sức nhẫn lớn, trì tụng biên chép diễn nói, hy sinh mọi cách thậm chí không tiếc thân mạng để giáo hóa cho họ. Bấy giờ trong đại chúng 500 A la hán đã được thọ ký, bạch Phật rằng: Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện truyền bá rộng kinh này ở những nước khác. Lại có 8.000 vị hữu học, vô học cũng đã được thọ ký rồi, lập lời thề trước Phật: Chúng con cũng ở nơi nước khác giảng nói rộng kinh này. Tại vì cõi nước Ta bà phần lớn con người hay che giấu điều ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, hận thù, nịnh hót vì tâm không thành Phật. Lúc bấy giờ bà Dì của Phật là Tỳ kheo ni Ma ha ba xà ba đề cùng với 6.000 Tỳ kheo ni của hai hạng hữu học và vô học, đồng đứng dậy, chấp tay chiêm ngưỡng tôn nhan Phật, mắt không tạm rời. Thế Tôn mới hỏi: Kiều đàm di! Vì cớ nào mà ngó Như Lai với vẻ lo âu như vậy? Phải chăng vì ta không kêu tên thọ ký cho chúng ngươi? Này Kiều đàm di, ta trước thọ ký tổng quát cho tất cả Thanh văn, nay ngươi đã muốn thì ta nói trước cho biết, đời sau, ngươi sẽ làm Đại Pháp sư của 68.000 Phật pháp còn 6.000 Tỳ kheo ni trong hàng hữu học và vô học, cũng sẽ làm Pháp sư. Lần hồi ngươi sẽ đầy đủ đạo Bồ tát và sẽ được thành Phật, hiệu Nhất thiết chúng sanh hỉ kiến Như Lai. Này Kiều đàm di, Phật Hỉ Kiến và 6.000 Bồ tát sẽ tuần tự thọ ký được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là Tỳ kheo ni Gia du đà la thầm nghĩ: Thế Tôn thọ ký cho mọi người sao riêng mình chẳng nói tới tên? Phật kêu Gia du đà la nói: Đời sau, trong năm ngàn vạn nước pháp môn của Phật, ngươi sẽ tu hạnh Bồ tát, làm Đại Pháp sư, lần hồi đầy đủ Phật đạo, rồi ở nơi nước Thiện, sẽ thành Phật Hiệu Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai. Kiều Đàm Di, Gia Du Đà La và tất cả Tỳ kheo ni đều vui mừng hớn hở, cho là được của quí giá chưa từng có. Sau khi đọc một bài kệ, các Tỳ kheo ni bạch Phật: Thế Tôn, chúng con có thể rộng nói kinh này ở các nước phương khác không? Phật bèn ngó 80.000 muôn vạn ức na do tha Bồ tát. Các Bồ tát này toàn là bậc bất thối chuyển và đã được các “tổng trì”, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, chấp tay nghĩ nói trong lòng rằng: “Nếu Thế Tôn dạy, chúng con sẽ như lời Phật mà rộng nói kinh này.” Rồi lại nghĩ: “Phật nay làm thinh không dạy, bây giờ chúng ta sẽ nói gì đây?” Khi ấy, vừa để thuận theo ý Phật, vừa để thỏa mãn sở nguyện của mình, các Bồ tát bèn thề lớn trước Phật: “Thế Tôn, sau Như Lai diệt độ, chúng con sẽ đi khắp mười phương thế giới, khiến chúng sanh biên chép kinh này, lãnh giữ, đọc tụng, giải nói ý nghĩa, theo pháp tu hành, sửa điều nghĩ nhớ cho chân chánh được như thế là toàn nhờ uy lực của Phật. Cúi xin Thế Tôn ở phương khác, xa thấy mà hộ trì cho!” THÂM NGHĨA Là đệ tử Phật vấn đề Văn tư tu phải là một tiến trình liên tục không thể thiếu. Các vạc ba chân, thiếu một không đứng vững. Văn tư tu thiếu một, sẽ không có quả Giải thoát Giác ngộ. Nguyện trì Kinh Pháp Hoa đồng nghĩa với nguyện tu theo Kinh Pháp Hoa, chấp thọ hành trì theo giáo lý Pháp Hoa. Đó là ý nghĩa trì kinh ở mặt tiêu cực. Về mặc tích cực, trì có nghĩa là xiển dương, là truyền bá, là biên chép, giảng nói cho nhiều người nhập Tri Kiến Phật. Chữ trì ở phẩm này gồm ý nghĩa của cả hai mặt đó. Từ các phẩm trước được Khai Thị về Tri Kiến Phật. Đại chúng trong hội Pháp Hoa đã nhận thức rõ về “Chánh nhơn thành Phật” của mình: Rằng Tri Kiến Phật hay là Phật tánh là cái mà tất cả chúng sanh bình đẳng có. Còn thành Phật hay sẽ thành Phật chỉ là vấn đề thời gian, cũng như sự phát triển sớm muộn của những hoa sen trong cánh đồng sen vậy. Điều kiện đất nước, thời tiết thuận lợi thì sen ở đây mọc sớm, trổ hoa sớm, hoa to và đẹp. Đất xấu, điều kiện trợ duyên kém thì hoa nở muộn… Dù muộn, nhưng tánh chất trong nhân có sẵn quả: quả ở chính trong nhân của tất cả hoa sen thì không có một mảy may sai khác. Trì kinh là Duyên nhơn Phật tánh là điều kiện kích phát sức nảy nở làm cho hoa Tri Kiến nở nhanh, cũng như đất nước, thời tiết cần cho sự nảy nở hoa sen vậy. Nhưng ai là người có khả năng trì kinh tốt nhất? Có gì khó khăn trở ngại trong việc trì kinh? Có bốn hạng người có khả năng làm việc đó: 1. Hàng Đại Bồ tát (những người giàu đức tánh vô ngã vị tha) 2. Bậc A la hán (những người trừ sạch nhân hữu lậu trong ba cõi) 3. Hàng hữu học vô học (những bậc nhập lưu, đi theo chiều hướng Giác ngộ Giải thoát) 4. Hàng Tỳ kheo ni (những người quyết tâm tu Giải thoát) Trì kinh với nghĩa tiêu cực thì tất cả giống nhau, bốn hạng người có cùng ý chí ham tu hiếu học đối với Kinh Pháp Hoa. Nhưng về mặc tích cực, phát nguyện trì kinh phải có điều kiện: Phải có nhiệt tình, vô ngã vị tha Phải có khả năng nghị lực Phải có trình độ kiến thức nội minh Phải có biện tài chinh phục v.v… Bởi lẽ địa bàn hoạt động truyền bá Kinh Pháp Hoa không phải ở lãnh vực nào cũng thuận lợi, ở quốc độ nào cũng dễ dàng. Ta hãy nghe về tinh thần bất khuất chuẩn bị chịu đựng sự khó khăn của những Bồ tát tự nguyện trì Kinh Pháp Hoa ở cõi Ta bà, qua bài kệ dưới đây: Cúi mong Phật chớ lo Sau Phật diệt độ rồi, Trong đời ác ghê sợ Chúng con sẽ rộng nói Dầu có người không trí Dùng lời ác mắng rủa… Cùng gậy dao đập chém Chúng con đều sẽ nhẫn Dầu Tỳ kheo đời ác Trí tà dâm vạy méo, Chưa chứng, xưng đã chứng Kiêu căng đầy trong lòng, Hoặc có hạng “A nhã” Y, nạp xem ra phết, Tự cho hành nhân đạo, Xem nhẹ người thế gian: Vì lòng tham lợi dưỡng, Thuyết pháp cho bạch y Với ý được cung kính Như lục thông La hán Lòng hạng ấy chứa ác Thương nghĩ việc thế tục Giả danh A luyện nhã Bới sai lầm chúng con Mà nói những lời này: Các Thầy Tỳ kheo ấy Vì lòng tham lợi dưỡng, Luận giả theo ngọai đạo Tự tạo kinh điển này, Láo dối người thế gian. Hoặc vì cầu danh tiếng Mà phân biệt kinh này. Hoặc thường trong đại chúng, Muốn nói xấu chúng con; Hướng nhà vua, quan lớn Bà la môn, nhà giàu Cùng các Tỳ kheo khác Mà phỉ báng chúng con: Bảo chúng con tà kiến Luận giải theo ngọai đạo. Vì lòng kính tin Phật, Chúng con đều sẽ nhẫn. Dầu họ có khinh khi, Tự xưng là Phật sống, Trước lời kiêu ngạo ấy, Chúng con cũng sẽ nhẫn. Trong đời ác kiếp trược, Có nhiều sự sợ hãi, Các quỉ nhập thân người Mắng rủa nhục chúng con, Chúng con kính tin Phật, Sẽ mang giáp Nhẫn nhục. Để giảng nói kinh này, Chúng con sẽ nhẫn mọi khó. Thân mạng không hề tiếc Chỉ tiếc Vô thượng đạo. Chúng con trong đời sau, Sẽ giữ gìn lời Phật. Thế Tôn sẽ tự biết: Tỳ kheo đời ác trược Không biết Phật phương tiện Tùy nghi mà thuyết pháp, Châu mày dùng miệng ác, Lúc lúc đuổi chúng con. Xa lìa nơi chùa tháp. Các việc ác như thế Nhớ lời Phật dạy bảo, Chúng con sẽ nhẫn hết Nơi thành ấp, tụ lạc Nếu có người cầu pháp Chúng con đều đến nơi Nói pháp của Phật truyền Chúng con là sứ Phật Ở trong chúng không sợ Vì thiện sẽ nói pháp, Xin Phật hãy an lòng. Nay đứng trước Thế Tôn Cùng mười phương chư Phật Chúng con có lời thệ này, Phật ắt tự rõ lòng con. Sự khó khăn của Bồ tát trì kinh Pháp Hoa ở cõi Ta bà như thế đấy. Tìm hiểu nguyên nhân ta thấy: 1. Phát xuất từ hàng Tỳ kheo được mệnh danh là Tăng Thượng Mạn. Họ tự bảo thủ quả vị La hán cho là cứu cánh Niết bàn, không có ý mong cầu thành Phật. Từ mặc cảm tự ti này họ chống đối phỉ báng Kinh Pháp Hoa. 2. Xuất phát từ lòng Tỳ kheo mưu cầu lợi dưỡng; hạng người này cố chấp tự tôn, cho rằng mình, chỉ có mình là người tu chơn đạo khả kính trên thế gian này. Còn tất cả người thế gian không ai có thể đạt đến cái chơn đạo của họ tu chứng. Trong khi nền giáo lý Pháp Hoa chủ trương Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến; tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành. Quả là một tạc đạn bắn ra sụp đổ một lúc hai tòa thành bảo thủ tự ti và cố chấp tự tôn của hai hạng người tiêu nha bại chủng ấy. Do đó, bằng mọi cách họ công kích, phỉ báng những Bồ tát Trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở cõi Ta bà. Vì thế, phát nguyện trì kinh ở cõi Ta bà chỉ có Bồ tát Đại Dược Vương, vua của y dược sĩ, có khả năng trị bệnh tà kiến tự tôn, tự ti của thế nhân và Bồ tát Đại Nhạo Thuyết, nhà biện tài vô ngại, có khả năng tồi tà phụ chánh, cầm đầu thì việc làm mới thành tựu tốt đẹp. Nói rõ ra là muốn xiển dương truyền bá Kinh Pháp Hoa ở vào đời ngũ trược này phải là người có những đức tánh của một Bồ tát vô ngã, vị tha, cương nghị, quả cảm, thông minh, trong đó nội minh phải vững vàng, có biện tài, có khả năng thuyết phục, giải đáp được những chấp mắc sai lầm… thì mới đủ điều kiện triển khai truyền bá Kinh Pháp Hoa; nếu không có những yếu tố cần thiết đó thì khó mà trì kinh ở cõi đời lắm người “tự ti”, lắm người “tự tôn” vì mưu cầu hư danh huyễn lợi này. Hàng Đại A la hán, những người hữu học vô học, các hàng Tỳ kheo ni, trước Phật có phát tâm nguyện trì kinh; nhưng không ở trong hàng ngũ của Bồ tát Đại Dược Vương và Đại Nhạo Thuyết thì xin đi nước khác mà trì, vì ở nước khác sẽ được an lành hơn, không có đối lập nguy hiểm như ở cõi Ta bà. Biện tài không giải đáp nổi nghĩa lý thậm thâm; trí lực và pháp lực không đủ khả năng trị liệu các bệnh tà kiến, biên kiến, kiến thủ của người đời thì nê đi “cõi khác” mà truyền bá Kinh Pháp Hoa vậy. Phẩm 14: An Lạc Hạnh.Bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Thế Tôn! Các vị Bồ tát này làm việc khó có là phát nguyện hộ trì, đọc nói kinh Pháp Hoa trong đời ác trược về sau. Thế Tôn! Làm thế nào mà các vị Bồ tát này nói được kinh Pháp Hoa trong đời ác trược? Phật bảo Văn Thù: Nếu Bồ tát Ma ha tát, ở đời ác trược, muốn nói kinh này thì nên an trú vào 4 pháp sau đây: 1. Hành Xứ: Bồ tát hành xứ là đứng vững trên đất Nhẫn nhục, diệu hòa thuận thảo mà không nóng nảy, tâm cũng chẳng sợ sệt, lại ở trong muôn vật mà lòng không xao xuyến, xem muôn vật trống không như “thật tướng”, không nghĩ ngợi gì mà cũng không phân biệt. 2. Thân Cận Xứ: Bồ tát không gần gũi: Hạng người quyền thế (vua, con vua, quan lớn, quan nhỏ) Hạng người tu theo ngọa đạo (Phạm chí, Ni kiền tử…) Hạng văn nhân, thi sĩ của thế tục. Các phái Lộ già da đà, Nghịch lộ già da đà. Hạng người chơi hung, lấy sự đâm chém, đánh đá làm thích. Bọn Na la quen chơi với sự tà thuật biến hóa. Bọn Chiên đà la. Hạng người làm sai giới luật như nuôi heo, dê, gà, chó, đi săn, chài lưới. Những người trong các giới ấy, nếu có lúc họ đến với mình, thì Bồ tát phải vì họ mà giảng dạy cho họ nghe, lòng đừng hy vọng mong cầu một điều gì. Cũng không nên làm thân với những người cầu được làm Thanh văn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cũng không nên hỏi chuyện họ. Dầu ở trong phòng, dầu lúc đang đi kinh hành, dầu lúc ở giảng đường, bất luận ở đâu, không nên cùng họ đứng dừng một chỗ. Nếu gặp lúc họ đến với mình thì tùy nghi mà thuyết pháp, lòng đừng hy vọng mong cầu một điều gì. Văn Thù Sư Lợi Bồ tát lại còn không nên ngó thân người nữ mà sanh lòng ham muốn rồi nói pháp cho họ nghe, cũng đừng ưa thấy nữ nhân. Khi vào nhà người, đừng nói chuyện với trẻ gái nhỏ, con gái lớn và đàn bà goá. Cũng không nên gần những người “bất nam.” Đừng một mình vào nhà người. Nếu có duyên cớ cần phải vào nhà người một mình, thì phải giữ một tâm niệm Phật. Khi nói Pháp cho đàn bà, con gái nghe, đừng cười hở răng, đừng bày hông, ngực. Thậm chí đối với người vì pháp mà đến, cũng không nên gần gũi thân mật với họ, hà huống là đối với những người đến vì chuyện khác. Không nên thích nuôi những đệ tử ít tuổi, những Sa di trẻ con. Cũng không nên ưa cùng chúng một thầy, mà nên ưa người ngồi Thiền ở chỗ vắng lặng, sửa nắm tâm mình. Đó là “thân cận xứ” thứ nhất của Bồ tát. Lại nữa, Bồ tát phải thấy muôn vật đều “không” như “thật tướng” không điên đảo, không động, không thối, như hư không, thấy muôn vật không có thực tánh, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, vô danh, vô tướng, thực không có gì cả, vô lượng vô biên, vô ngại, vô chướng: thấy những danh từ lời nói dùng để chỉ vật này sự nọ, đều là trái với chân lý (ngữ ngôn đọa đoạn), chỉ vì cái nguyên nhân đảo điên nên mới thế này thế nọ. Phải vui xét cái tướng của vạn vật là như thế. Đó là “Thân cận xứ” thứ nhì của Bồ tát 3. An Lạc Hạnh: Phật nói tiếp: Sau Như Lai diệt độ, trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, Bồ tát phải ở yên trong “An lạc hạnh.” Nghĩa là, khi nói cũng như khi đọc kinh này, chẳng nên vừa nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác, đối với hàng Thanh văn, chẳng nên kêu đích danh mà vạch sự sai lầm, gàn dở của họ, cũng không nên kêu đích danh mà khen tặng cái hay của họ, lại cũng không sanh tâm thù hiềm. Khéo sửa lòng cho được an lạc như vậy thì không làm nghịch lý người nghe. Còn có ai vấn nạn thì đừng giải đáp bằng pháp Tiểu thừa mà bằng pháp Đại thừa, để cho người hỏi được Chánh giác. Bồ tát muốn thuyết pháp phải giữ lòng an vui, trong sạch, thân thể phải tắm rửa cho sạch, mặc y mới, nói tóm là trong ngoài phải thanh tịnh, nhiên hậu mới lên ngồi pháp tòa, tùy lời hỏi của người mà giảng. Đối với người vì Đạo thì đem diệu nghĩa ra mà dạy, mặt mày hòa nhã, đối với người vấn nạn, thì tùy nghĩa mà đáp, khi thì dùng nhân duyên, khi thì dùng thí dụ mà diễn mà giải rạch ròi, để lần hồi dắt dẫn họ vào đường sáng (Phật Đạo). Tự mình, phải trừ mọi ý niệm ỷ lại, mọi tư tưởng lười biếng, xa lìa mọi lo nghĩ, buồn rầu, mở rộng lòng từ, ngày đêm nói pháp để mở mắt cho chúng sanh mà không bao giờ mong cầu sự cúng dường, chỉ một lòng tưởng nhớ đến việc lấy pháp làm nhân duyên để thành Phật đạo, khiến người nghe cũng cùng một tâm niệm. Trong thời mạt pháp, Bồ tát nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì không nên chứa chấp sự ganh ghét, tà vạy, khinh khi người học Phật, không làm cho hạng tu hành chán nản, cũng không nên đem Đạo Pháp ra bàn chơi, tranh cãi. Phải: - Đối với tất cả chúng sanh, khởi lòng đại bi. - Đối với Chư Như Lai, sanh lòng kính trọng như Cha lành. - Đối với Bồ tát, sanh lòng tôn kính như Thầy. - Đối với mười phương Bồ tát, sanh lòng cung kính cúng dường. Thực hiện đầy đủ pháp “an lạc” thứ ba này, thì khi thuyết kinh, không làm cho người nghe hoang mang, được người cùng theo mình mà đọc tụng, còn đại chúng sẽ tới nghe lãnh lời kinh, lãnh rồi nắm giữ, giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ chép và khiến người cùng chép. 4. Pháp Đại Bi Tâm Lại nữa này Văn Thù! Trong đời mạt pháp, ai là người muốn nắm giữ Kinh Pháp Hoa, phải sanh đại bi tâm đối với hàng xuất gia và tại gia. Đối với người chẳng phải là Bồ tát (chưa tu hạnh vị tha), cũng phát đại bi tâm mà nghĩ như vầy: Như Lai phương tiện tùy nghi thuyết pháp, mà họ lại chẳng nghe, chẳng biết, chẳng tỉnh, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giữ, thật là bất lợi vô cùng. Ngày nào ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nguyện sẽ dùng thần lực trí lực mà dắt dẫn họ vào ở yên trong Đạo Pháp. Đó là pháp “An Lạc” thứ tư. Như Lai diệt độ rồi, Bồ tát nào thành tựu được pháp thứ tư này thì khi thuyết Kinh Pháp Hoa, không bao giờ có sự sai lầm, mất mát. Người thế gian từ vua tới dân, sẽ cung kính cúng dường, trong hư không Chư Thiên sẽ luôn luôn hộ vệ cho. Tại sao thế? Vì kinh này được tất cả chư Phật ba đời bảo hộ. Này Văn Thù, trong vô lượng nước, nghe được tên kinh này còn chưa có, hà huống được thấy, được thọ trì, đọc tụng. Thí như nhà vua dẹp giặc xong, muốn thưởng công tướng sĩ, có thể cấp cho đất cát, y phục, ngọc ngà, châu báu, xe ngựa, nô tỳ, nhưng không bao giờ cho viên ngọc vô giá trên mão của vua. Như Lai cũng thế. Nhờ sức mạnh của Thiền định và Trí tuệ, Như Lai làm vua “nước Pháp”, thống ngự ba cõi. Vì Ma vương không hàng phục nên Như Lai mới dùng Hiền Thánh làm tướng để đánh Ma vương. Đối với các bậc hữu công trong trận chiến này, Pháp vương Như Lai ban cho tiền của Thiền định, Giải thoát, vô lậu, thành quách Niết bàn, tạm nói là diệt độ, để dẫn dắt tâm họ, khiến mọi người hoan hỷ nhưng chưa vì họ mà nói Kinh Pháp Hoa. Nhưng khi binh sĩ lập được công to, nhà vua sẽ cho viên ngọc vô giá. Như Lai cũng thế, thấy đội quân Hiền Thánh đã lập được đại công chiến thắng ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma, đã diệt ba độc, ra khỏi ba cõi phá lưới ma, nên ban cho Kinh Pháp Hoa là lời thuyết cao cả nhất của Như Lai. THÂM NGHĨAAn Lạc Hạnh là việc làm đem lại sự an vui. Đạo Phật dạy tu hành nhằm đem lại cho mọi người sự an vui trong cuộc sống. Chớ Niết bàn không phải là một “cảnh giới” xa xăm nào khác. Ở phẩm kinh này, Phật dạy cho các Bồ tát, cho những ai phát tâm nắm giữ, duy trì, truyền bá, giảng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa những phương cách đem lại cho mình cho người nghe đều được sự “an lạc.” Để cho sự thọ trì truyền bá giảng nói được trong sáng, cảm thông sâu sắc giữa người nói và người nghe, một Pháp sư Pháp Hoa cần lưu tâm bốn điểm. Thực hịên bốn điều này không sai phạm thì hành giả Pháp Hoa có được sự lợi ích “an lạc” trọn vẹn. Bốn điều đó là: - Hành Xứ - Thân Cận Xứ - An Lạc Hạnh - Phát Đại Từ bi Tâm 1. Hành Xứ: là những việc làm hằng ngày trong cuộc sống. Trong cuộc sống Bồ tát thường vận dụng Trí tuệ, tư duy, quán chiếu vạn Pháp trước mắt, để thể nhập “thật tướng” của các Pháp là “Vô tướng.” Đối với nền giáo lý liễu nghĩa thượng thừa thậm thâm, Bồ tát tu học, thọ trì, truyền bá không hề nhàm mỏi, không dấy niệm khinh nghi, khéo Nhẫn nhục nhu hòa, không chao đảo thối thất trước nghịch cảnh, không nóng vội trước khó khăn. Bồ tát vận dụng căn bản trí quán sát vạn pháp qua cái nhìn trực giác “vô phân biệt”, ung đúc thành thứ “Tri Kiến Vô Kiến”, xa lìa tánh “biến kế chấp” thường tình, vượt ra ý thức phân biệt “Tri Kiến Lập Tri.” 2. Thân Cận Xứ: là tiêu chuẩn qui ước của Bồ tát, của Pháp sư Pháp Hoa trên con đường tự độ hóa tha. Thân cận xứ có hai: Một là thân cận. Hai là không nên thân cận. Nên thân cận là chỗ mà Bồ tát có thể thân cận và những việc mà Bồ tát nên làm. Nói rõ ra là Bồ tát nên luôn luôn quán niệm tư duy: “Nhất thiết Pháp không.” Nhất thiết Pháp như thật tướng.” Bồ tát nhận thức rằng: tất cả pháp từ xưa đến nay rời ngoài ngôn ngữ, vượt ra văn tự, tuyệt đường nghĩ ngợi so lường, rốt ráo bình đẳng, thanh tịnh bản nhiên. “ …Chưa từng có một pháp Không do nhân duyên sanh Thế nên tất cả pháp Không pháp nào chẳng không.” Bồ tát thường quán sát vạn pháp với cái tánh Như Thị của chính nó. Rằng: “Tướng của nó Như Vậy. Tánh của nó Như Vậy. Thể của nó Như Vậy. Tác của nó Như Vậy. Lực của nó Như Vậy. Nhơn của nó Như Vậy. Duyên của nó Như Vậy. Quả của nó Như Vậy. Báo của nó Như Vậy. Và trước sau, từ đầu đến cuối nó vốn Như Vậy.” Đó là những chỗ “Nên thân cận” của Bồ tát: Không nên thân cận là những chỗ, những người và những việc mà Bồ tát phải tránh: - Không nên thân cận người có quyền thế như: vua, con vua, các quan lớn, nhỏ. - Không nên thân cận với những bọn Phạm chí, hảo hán, bọn Ni kiền tử, chủ trương lõa hình. - Không nên thân cận với hàng văn nhân, thi sĩ không lành mạnh - Không nên thân cận với hạng ngọai đạo, “thuận thế” và “nghịch thế” - Không nên thân cận những người tà thuật, biến hóa huyễn hoặc. - Không nên thân cận với những người chỉ mong cầu quả vị Thanh văn (Tiểu căn, tiểu trí, tự độ) - Không nên thân cận với hàng quả nữ, xử nữ, và tiểu nữ - Không nên thân cận với bọn trẻ nít và Sa di ít tuổi. Trường hợp không đặng đừng phải tiếp xúc thân cận với những hạng người trên, vì giảng nói kinh pháp cho họ nghe, lòng đừng hy vọng cậy trông nơi họ một điều gì. 3. An Lạc Hạnh: Bồ tát trì Kinh Pháp Hoa phải giữ tâm khinh an, thanh thoát, hoan hỉ trong lúc giảng nói, định tĩnh khi thọ trì đọc tụng và tự cảnh tỉnh! - Không nói lỗi lầm của người khác và của kinh điển - Không khinh khi ngạo mạn với những người tu hành khác - Không sanh tâm oán thù, hiềm khích với mọi người - Không chê bai hạnh tu của hàng Thanh văn, Duyên giác khiến cho mất niềm tin trên đường tiến lên chánh đạo. - Nếu có người vấn nạn không giải đáp bằng pháp Tiểu thừa, phải hướng dẫn họ pháp Đại thừa, chỉ cho họ đi vào con đường “Nhất Thiết Chủng Trí.” Đối với tất cả chúng sanh khởi lòng đại bi. Với chư Như Lai sanh lòng kính trọng như đấng cha lành. Với Bồ tát tôn kính như Thầy. Nên khởi lòng cung kính cúng dường Bồ tát trong mười phương. Bồ tát thực hiện đầy đủ pháp “An Lạc” thứ ba này, khi thuyết giảng kinh người nghe không ngờ vực, hoang man. Đại chúng sẽ hoan hỷ tiếp thu lời kinh ý Phật, lãnh hội nắm giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ biên chép và khuyến khích nhiều người cùng thọ trì, đọc tụng, biên chép để lưu bố rộng nhiều. 4. Phát khởi tâm Đại Từ bi: Bồ tát “trì” kinh Pháp Hoa ở vào thời mạt pháp, đối với hạng xuất gia hay tại gia nên phát khởi lòng đại từ. Đối với hạng người không phải Bồ tát, nên sanh lòng đại bi. Bồ tát nên nghĩ rằng: “Như Lai vô số phương tiện tùy nghi nói pháp, thế mà họ không biết, không nghe, không tỉnh ngộ, không hiểu, không tin và không học hỏi thật là mất lợi rất nhiều. Dù vậy, ngày thành Phật, ta sẽ vận dụng sức Trí tuệ dẫn dắt họ vào an trụ nơi pháp Đại thừa của Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Đây là pháp “An Lạc” thứ tư của Bồ tát. Sau Như Lai diệt độ, Bồ tát thành tựu viên mãn “An Lạc Hạnh” thì lúc thuyết kinh sẽ không phạm phải sai lầm, người nghe sẽ đẹp lòng mà cung kính, chư thiên hoan hỉ hộ vệ cho. Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, ở vô lượng cõi nước chưa hề nghe được tên kinh, còn nói chi đến việc thấy kinh và đọc tụng thọ trì. Ví như vị Đại quốc vương, sai binh tướng xuất quân dẹp giặc, dẹp giặc xong, để thưởng công cho tướng sĩ ba quân nhà vua có thể cấp cho nhà cửa, ruộng vườn, y phục, vàng bạc, ngựa xe… nhưng không bao giờ cho viên minh châu trên mão của nhà vua. Cho đến khi tướng sĩ lập được chiến công vô cùng hiển hách, nhà vua lúc bấy giờ mới đem viên minh châu trên mão của mình mà ban tặng. Đấy là một sự kiện cả hoàng tộc và thần dân kinh dị sững sờ. Như Lai cũng vậy. Nhờ sức mạnh Thiền định và Trí tuệ, Như Lai làm “vua nước pháp, điều phục và chế ngự ba cõi vì hàng phục ma quân, Như Lai dùng Hiền, Thánh làm tướng binh để đánh dẹp. Với các bậc hữu công trong trận chiến, Pháp Vương Như Lai ban cho của báu: Thiền định, Giải thoát, căn, lực, vô lậu pháp và cả thành đô Niết bàn. Với ngần ấy “Thánh Tài” mọi người rất bằng lòng và hoan hỉ, Như Lai chưa vì họ mà nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Cho đến khi thấy đội quân Hiền, Thánh đã lập được công to, oanh liệt, quét sạch bọn ma quân ngũ ấm, ma phiền não, ma thiên và ma tử, triệt tiêu tam độc, ra khỏi ba cõi. Bấy giờ Như Lai vui mừng, mới đem Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa ra mà trao dạy. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là tạng bí yếu của Như Lai. Đối với các kinh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là “thừa tối thượng.” Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất.Lúc bấy giờ, các Bồ tát, nguyên từ các nước phương khác lại, đông hơn cát của 8 sông Hằng, ở trong đại chúng, đồng đứng dậy chấp tay bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu Thế Tôn nhận lời, chúng con nguyện, sau khi Phật diệt độ, sẽ rộng nói kinh Pháp Hoa ở thế giới Ta bà, để gia tăng Tinh tấn và hộ trì những người đọc, tụng, sao, chép, cúng dừơng kinh này.” Phật đáp: “Thôi khỏi. Này thiện nam tử! Không cần các con hộ trì kinh này. Vì sao? Vì thế giới Ta bà của ta tự có Bồ tát đông như cát của sáu muôn sông Hằng. Những Bồ tát và quyến thuộc ấy, sau khi ta diệt độ, sẽ có khả năng giữ gìn, đọc tụng, rộng nói kinh này.” Lúc Phật nói lời này, trong ba ngàn thiên quốc độ ở thế giới Ta bà, đất đều rung nứt và từ trong lòng đất, vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời vọt lên. Các Bồ tát ấy, thân như vàng ròng, đầy đủ 32 tướng tốt, sáng ánh khôn lường, trước kia trú trong hư không của chỗ thấp nhất ở thế giới Ta bà, này nghe tiếng của Phật Thích Ca, nên từ chỗ thấp ấy mà xuất hiện đến. Mỗi mỗi Bồ tát đều là bậc thủ lãnh dẫn đường cho đại chúng và mỗi vị đều có hoặc 6, hoặc 5, 4, 3, 2, và một muôn Hằng sa quyến thuộc, hoặc một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa hay một phần trong ngàn ức na do tha phần hằng hà sa, hoặc từ ngàn muôn ức na do tha sụt lần xuống cho tới một muôn, một ngàn, một trăm, mười, năm, bốn, ba, hai, một quyến thuộc đệ tử. Lại cũng có những Bồ tát chỉ có một mình, thích hạnh “viễn ly.” Tất cả các Bồ tát ấy đông vô số kể. Từ dưới đất vọt lên rồi, các Bồ tát ấy đều đến ngọn tháp bảy báu nhiệm mầu trên hư không, là chỗ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca đang ngự, vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại đến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ. Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chấp tay cung kính chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca. Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp. Bấy giờ đức Thích Ca ngồi yên nín lặng bốn hạng đệ tử cũng đều nín lặng. Nhờ sức thần Phật, đại chúng thấy 50 tiểu kiếp trôi qua như nửa ngày. Cùng một lúc và cũng nhờ sức thần Phật, bốn chúng thấy Bồ tát đầy khắp hư không của vô lượng ngàn muôn ức quốc độ. Trong số Bồ tát ấy, có bốn vị đứng đầu: 1. Thượng hạnh; 2. Vô biên hạnh; 3. Tịnh hạnh; 4. An lập hạnh. Đồng chấp tay nhìn đức Thích Ca, bốn vị kính hỏi: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn có được ít bệnh, ít buồn, và được an vui không? Những người đáng độ, có thọ giáo dễ không? Họ không có làm cho Thế Tôn mệt nhọc chứ?” Thế Tôn nói: Đúng thế! Đúng thế! Này các thiện nam tử, Như Lai an vui, ít bệnh, ít buồn, các hàng chúng sanh dễ mà hóa độ, không có mệt nhọc. Tại sao thế? Vì những chúng sanh ấy, từ trước đến nay, đời đời thường được ta hóa độ cho và chính họ cũng đã cung kính tôn trọng chư Phật trong thời quá khứ và trồng các gốc lành. Các chúng sanh ấy, thấy thân ta, nghe tiếng ta nói, là liền tin lãnh và nhập vào tuệ Phật, trừ những người trước đã tu tập theo Tiểu thừa. Đối với hạng người này, ta cũng sẽ khiến cho nghe được kinh Diệu Pháp Liên Hoa và đi vào tuệ Phật. Lúc bấy giờ Bồ tát Di Lặc cùng tám ngàn hằng sa Bồ tát trong Pháp hội đều thầm lấy làm lạ việc vô số Bồ tát đã từ đất vọt lên. Muốn giải nghi cho tất cả và cho riêng mình, Bồ tát Di Lặc bạch Phật: “Nguyện Thế Tôn cho chúng con biết, vô lượng Bồ tát này từ đâu mà đến và nhóm họp để làm gì? Ai đã thuyết pháp giáo hóa cho các vị? Các vị theo ai mà phát tâm, đã thọ trì và thực hành kinh điển thế nào? Lại tu tập Phật đạo nào mà có sức trí thần thông to lớn như thế? Bạch Thế Tôn, chúng con chưa từng thấy một việc như vậy. Con thường đi qua nhiều nước, gặp gỡ nhiều người, chưa hề biết một vị trong số Bồ tát ấy. Vậy kính xin Thế Tôn nói cho con biết các Bồ tát ấy ở nước nào đến mà hốt nhiên từ đất vọt lên.” Cùng lúc ấy, các phân thân Phật Thích Ca từ vô lượng muôn ngàn ức cõi khác đồng đến ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, dưới các cội cây báu trong tám phương. Những Thị giả của các phân thân Phật Thích Ca cùng bạch hỏi về lai lịch của các Bồ tát từ đất vọt lên. Khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ tát Di Lặc: “Hay thay lời hỏi của Di Lặc! Ta sẽ tuyên bày Trí tuệ, thần thông, sức mạnh và uy thế của chư Phật, vậy hãy một lòng và Tinh tấn nghe ta nói.” Sau khi nói một bài kệ lập lại lời vừa nói, Thế Tôn kêu Bồ tát Di Lặc nói: “Những Bồ tát đông vô số kể đã từ đất vọt lên, đều do ta giáo hóa chỉ dẫn, sau khi ta đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả đều là bậc đã điều phục tâm mình, lòng sanh ý đạo, và ở trong hư không phía dưới thế giới Ta bà. Tất cả đã từng đọc tụng thông suốt kinh điển, phân biệt trong chỗ nghĩ suy và sửa cho ngay thẳng những nhớ tưởng của mình. Này Di Lặc, các Bồ tát ấy không thích ở chỗ đông người, ồn ào, mà thường ưa ở nơi vắng lặng, siêng tu Tinh tấn, chưa hề ngơi nghĩ lại cũng không dừng bước ở cấp Nhân, Thiên mà thường thích được Trí tuệ thâm sâu, không còn vướng phải một chướng ngại nào. Lại cũng thường vui nơi pháp Phật, một lòng Tinh tấn cầu tuệ Vô thượng. Bồ tát Di Lặc và vô số Bồ tát, lòng sanh nghi hoặc, tự hỏi: “Làm thế nào trong khoảng thời gian ngắn mà Thế Tôn giáo hóa được một số Bồ tát đông như thế?” nghĩ xong bèn bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, từ ngày còn là Thế tử bỏ cung điện ra đi, rồi đến khi ngồi dưới cội Bồ đề đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, từ ấy đến nay, vừa hơn bốn mươi năm, vậy làm thế nào trong khoảng thời gian ngắn ấy Thế Tôn lại giáo hóa cho vô lượng vô biên Bồ tát ấy được? Vì muốn thành tựu như Bồ tát ấy phải là người trong ngàn muôn ức kiếp, trồng các căn lành ở vô lượng vô biên nước Phật và thường tu phạm hạnh. Thế Tôn thì thành đạo đến nay chưa bao lâu, các Bồ tát kia thì phải tu hành trong vô lượng kiếp mới đặng thần thông lớn như vậy. Thế thì làm sao hiểu được câu chuyện cha trẻ con già này? Riêng chúng con một lòng tin Phật, vì Phật không bao giờ nói ngoa, nhưng các Bồ tát mới phát tâm tu hành, sau Phật diệt độ, có thể không tin lời Phật dạy. Vậy kính xin Thế Tôn giải nghi cho hàng mới phát tâm này, để họ khỏi phải đọa vào nẻo ác. THÂM NGHĨAĐể được sáng nghĩa hơn, ta có thể gọi tiểu đề của phẩm kinh này là Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất. Nội dung phẩm kinh nói về một sự kiện lạ lùng: Bồ tát từ dưới đất hiện ra. Chữ Địa ở đây nên hiểu là Tâm Địa, là cõi Đất Tâm của chính con người. Bồ tát bổn nguyện, bổn hạnh, bổn thệ đều phát xuất từ tâm địa mà ra, chớ không do ở tha nhân hay tha phương mà đến. Phật từ chối hảo ý giúp đỡ của chư Bồ tát ở mười phương, đông hơn số cát của 8 con sông Hằng. Điều đó cho thấy ý nghĩa: “Cầu người không bằng cầu ở mình.” Tha lực sẽ vô ích, nếu không có sự cố gắng của tự lực. Phật giới thiệu cõi Ta bà tự có Bồ tát đông bằng số cát của sáu muôn sông Hằng và vô số quyến thuộc đủ sức hộ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa, sau Phật diệt độ. Điều này dạy cho chúng ta hãy dựa vào tự lực phát huy cái khả năng Trí tuệ nghị lực của chính ta. Tự lực là chánh nhơn, quyết định để cải tạo và xây dựng chơn hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Ở đây cho sự Giải thoát Giác ngộ của mình. Sự giúp đỡ của tha nhân dù nhiệt thành đến đâu vẫn là hữu hạn. Chỉ có sự cố gắng của sức mình mới đạt đến mục đích, đáp ứng thỏa mãn trọn vẹn ý chí hoài bão của mình. Con số Bồ tát tình nguyện giúp đỡ hộ trì chỉ ngang số cát của 8 con sông Hằng thôi. Trong khi đó, Phật cho biết số Bồ tát tự có ở cõi Ta bà nhiều như số cát của sáu muôn sông Hằng và mỗi Bồ tát còn có thêm vô số quyến thuộc. Cán cân lực lượng nghiêng nặng về bên tự lực gấp mấy vạn lần. Nếu tự mê mờ không biết mình có tâm Bồ tát thì hạnh Bồ tát dù có sẳn ở nội tâm, cũng không có môi trường xuất hiện. Nếu có tự giác, biết mình có tâm Bồ tát, thì Bồ tát hạnh tùy đó mà xuất hiện ra. Đó là chỗ kinh nói: Phật vừa giới thiệu cõi Ta bà tự có Bồ tát thì Bồ tát từ Đất hàng hàng xuất hiện. “Kim sanh tiệm tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhơn” của Tổ Quy Sơn dạy, phát xuất từ ý kinh này. Đừng mơ mộng viễn vong. Thực tế, bạn phải định đoạt số phận bạn, chớ không do ai khác. Bạn phải phát huy cái tinh thần độc lập tự do ở trong bạn, cái Phật tánh vốn có, cái tự tánh Niết bàn ở trong bạn. Nó là của chính bạn đó. Có độc lập tự do về kinh tế, chính trị mới có chơn hạnh phúc cho một dân tộc. Có độc lập tự do về kiến thức và tài chánh, mới có chân hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ xây dựng tổ ấm cho một gia đình. Có độc lập tự do trong tự lực cánh sinh, mới có chân hạnh phúc cho người có chí vá trời lấp biển. Có độc lập tự do trong Giác ngộ Giải thoát, mới có chân hạnh phúc cho người quyết tâm đi con đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hai mươi lăm thế kỷ trước, Phật dạy: Hãy trông cậy vào sức mình là chính, đừng trông cậy ở nơi ai khác. Vàng y 24 là thứ vàng trọn vẹn chất vàng. Nó không thể là đồng, là thau và không bị “Ô xy hóa” cháy ngầm như các kim loại khác. Mượn tánh chơn thường bất hoại của vàng ròng để ví đức tánh tự giác sẵn có, Bồ tát tâm, Bồ tát hạnh sẵn có ở tâm địa mọi người. Đức tánh đó, khi mê nó không mất đi đâu, khi ngộ cũng không phải nó mới có. Nó là đức bất hoại chân thường như vàng ròng kia vậy. Do vậy mà thân Phật là thân Bồ tát là “thân kim sắc.” Có người hỏi: Thế thì Bồ tát tâm, Bồ tát hạnh, là đức tánh vốn có của con người. Vậy sao từ trước cũng như nay, tôi vẫn là một chúng sanh đau khổ? Đáp rằng: vàng vốn có ở trong quặng, mà chưa phát hiện quặng vàng. Phát hiện quặng vàng rồi cần phải nấu lọc, mới có được vàng y tinh chất. Không có hai điều kiện trên đó, thì vàng có cũng như không có vậy. Bồ tát xuất hiện, công việc trước tiên đến viếng Tháp và ra mắt hai Như Lai: một quá khứ và một hiện tại. Tiêu biểu ý nghĩa: Rằng người phát tâm hành Bồ tát hạnh, công việc trước hết quay về với thỉ giác và bản giác của chính mình, cũng có nghĩa là quay về với Phật pháp thường trụ ở trong khoảng không gian vô tận và thời gian vô cùng, quay về chân lý vậy. Các Bồ tát lễ tháp, ra mắt hai Như Lai và các phân thân Phật mười phương nhóm họp, nói lên ý nghĩa: Bồ tát là Nhân Địa. Nhân Địa luôn luôn hướng lên quả địa. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là cái quả mà chư Bồ tát cần đạt đến. Ngoài ra, Bồ tát không mong cầu gì khác. Mong cầu khác là sai lạc mục tiêu, nguy hiểm đó. Thời gian nửa ngày, năm mươi tiểu kiếp, năm mươi tiểu kiếp chừng nửa ngày, xét cho tột lý, nó không còn là vấn đề giải thích “vì sao?.” Bởi lẽ sự kiện ấy diễn ra không đặt trong bối cảnh hiện tượng vật chất thì dựa vào đâu để ấn định tiêu chuẩn thời gian! Chi tiết đoạn kinh này, xác định rõ cái lý: Phật và Bồ tát được nêu trong phẩm “Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất” là những đức tính tượng trưng cho sự Giác ngộ. Sự Giác ngộ đó, nhờ sức thần Phật mà được thấy, được nghe, chứ không phải ở nơi cảnh thực. Do đó, ta có thể hiểu: Phật là Phật Tâm. Bồ tát là Bồ tát Tâm vốn có ở cõi đất tâm của mọi người vậy. Nói đến Bồ tát là nói đến hạnh, nói đến sự thể hiện của việc làm tự lợi lợi tha tự giác giác tha. Vì hạnh tức là hành vậy. Không làm một việc làm nào là không có hạnh. Không hạnh, ý nghĩa Bồ tát không có, dù đã có thọ giới Bồ tát rồi. Do đó, Bồ tát dù nhiều vô lượng vô số, nhưng để có thực nghĩa, Bồ tát phải được thể hiện qua những hạnh sau đây: 1. Thượng hạnh: Hạnh hướng thượng. Phải thường tư duy và hành động trong chiều hướng trong sáng, cao đẹp hướng lên Giải thoát, Giác ngộ hoàn toàn. 2. Tịnh hạnh: Hạnh thanh tịnh. Luôn luôn phát triển mặt tích cực: Thấy biết chơn chánh, suy nghĩ chơn chánh, nói năng chơn chánh, hành động chơn chánh, siêng năng chơn chánh, định tâm chơn chánh. Hạn chế mặt tiêu cực! Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, điệu cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri. Những vô minh phiền não này nên cải tạo hòa bình có lợi hơn là dụng tâm thô bạo đàn áp diệt trừ: “Ngũ uẩn phù hư không khứ lai Tam độc thủy bào hư xuất một…” Ngũ uẩn thân, vốn đã huyễn hư, vô minh phiền não lại càng huyễn hư hơn nữa. 3. Vô biên hạnh: Hạnh rộng lớn. Lấy việc hoằng truyền Chánh pháp làm việc nhà, lấy việc lợi lạc chúng sanh làm sự nghịêp. Vượt ra sự ràng buộc của ích kỷ hẹp hòi. Phá vỡ tường thành kiên cố “chấp ngã” “chấp pháp.” 4. An lập hạnh: Hạnh đứng vững. Lấy Giải thoát Giác ngộ làm mục tiêu. Lấy Văn Tư Tu làm phương tiện. Chống bát phong làm hành động. Dĩ Từ bi vi thất. Nhu hòa Nhẫn nhục vi y. Nhất thiết pháp không vi tòa… Như Lai thì bao giờ cũng an vui và ít bệnh, ít não Như Lai đã xác định với Bồ tát như thế. Vì, Như Lai là bản thể như như của vạn pháp, dù tùy duyên mà vẫn thường hằng bất biến. Có chúng sanh nào mà chẳng sống ở tâm Như Lai của mình. Như Lai có lúc nào chẳng gần gũi giáo hóa chúng sanh khi chúng sanh chưa thành được Phật. Chúng sanh dù có si mê đen tối đến đâu, cũng có những phút giây thức tỉnh. Dù làm nhiều tội ác nhưng rồi cũng có khi làm được ít nhiều việc thiện. Thế là đã trồng căn lành cội đức ở các Phật quá khứ rồi. Thế nên Như Lai cũng chẳng khó lắm trong việc giáo hóa chúng sanh. Dù ai có hẹp hòi tiêu cực, một khi Giác ngộ cũng sẽ vượt lên sống đời sống tích cực vô ngã vị tha được. Kinh nói: Những người Tiểu thừa Phật cũng khiến cho họ nghe học kinh điển Đại thừa. Những yếu tố nào làm nên thành quả Bồ tát ở cõi Ta bà? Phật dạy: Sở dĩ Bồ tát cõi Ta bà thành tựu được thắng quả như thế là do: - Bồ tát trụ ở cõi hư không, phía dưới cõi Ta bà. Trụ giữa hư không, có nghĩa là không trụ vào một pháp hữu vi nào. - Đọc kinh điển nhiều, suy nghĩ kỹ, nghĩ tưởng chơn chánh. - Không thích ở chỗ đông, nói nhiều, nói nhảm, nói thị phi vô ích. - Thích chỗ tịch tĩnh, thường Tinh tấn, không giải đáp pháp lành. - Ham Trí tuệ rộng sâu. Không thích nương Người, Trời. - Thường ham pháp Phật, cầu tuệ Vô thượng. Qua các kinh luận, Bồ tát Di Lặc là đức hiệu được biểu trưng cho Thức. Khác hơn Bồ tát Văn Thù được biểu trưng cho Trí. Nhận thức sự kiện bằng thức thì không thể hiểu được sự kiện: Bồ tát từ đất xuất hiện ra. Nhận thức sự kiện bằng thức thì Phật Thích Ca thành đạo mới hơn 40 năm, làm gì có thể giáo hóa hàng Bồ tát có thành tích tu tập và phước đức tương đương với tam A tăng kỳ! Vì thế, nảy sanh ý nghĩ: “Con già cha trẻ” cầu Phật nói rõ nguồn cơn… Để tháo gỡ mối nghi ngờ, Phật nói rõ về tuổi thọ của Như Lai ở phẩm Như Lai Thọ Lượng, thứ 16 tiếp sau.
|


