Home Chư Kinh Giảng Giải Chú giải Kinh Bắc Truyền Yếu Chỉ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
22 | 11 | 2008
Yếu Chỉ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh PDF. In Email
Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
Viết bởi Thích Duy Lực   
Chỉ mục bài viết
Yếu Chỉ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm tr. 2
Tất cả các trang
Đại Phương Quảng là siêu việt số lượng. Đại là thể tánh bao gồm tất cả. Phương Quảng là nghiệp dụng phổ biến khắp nơi. Phật là quả giác viên mãn. Hoa là dụ cho vạn hạnh khai mở. Nghiêm là dụ cho đại Pháp trang nghiêm thành tựu cho con người. Kinh là xuyên thấu tất cả Pháp. Đại Phương Quảng là Pháp sở chứng. Phật là người năng chứng. Hai chữ Hoa Nghiêm dụ cho Phật ở nơi nhân địa mà vạn hạnh như hoa; dùng hoa này mà trang nghiêm quả địa, nên gọi là Hoa Nghiêm.

Vì Kinh Hoa Nghiêm quá dài, khó đọc, khó tin, khó giải, khó hành, khó chứng, cho nên nay trích dịch yếu chỉ Kinh này để giúp cho các điều khó kể trên được dễ lại một phần nào.

Duy Tắc Thiền sư là tổ thứ mười chín của phái Lâm Tế, cũng là trưởng tử của ngài Trung Phong Thiền sư, sanh vào cuối đời nhà Nguyên Trung Quốc. Tác phẩm và ngữ lục của ngài được ghi trong Tục Tạng Kinh, tập thứ một trăm hai mươi hai.

Yếu Chỉ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Duy Tắc Thiền sư Lược Giảng

Thích Duy Lực soạn dịch

(Kinh này nguyên nằm trong Quyển: Chư Kinh Tập Yếu, Thích Duy Lực Biên Soạn, Thành Hội Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh, Ấn Hành: PL.2537 – 1993 nhưng nội dung của các kinh khác nhau đồng thời trong các bản ấn hành trước đều in riêng rẽ nên chúng tôi tách ra để dễ phân loại. bttdtkvn) 

Giải Đề:

Đại Phương Quảng là siêu việt số lượng.

Đại là thể tánh bao gồm tất cả.

Phương Quảng là nghiệp dụng phổ biến khắp nơi.

Phật là quả giác viên mãn.

Hoa là dụ cho vạn hạnh khai mở.

Nghiêm là dụ cho đại Pháp trang nghiêm thành tựu cho con người.

Kinh là xuyên thấu tất cả Pháp.

Đại Phương Quảng là Pháp sở chứng.

Phật là người năng chứng.

Hai chữ Hoa Nghiêm dụ cho Phật ở nơi nhân địa mà vạn hạnh như hoa; dùng hoa này mà trang nghiêm quả địa, nên gọi là Hoa Nghiêm.

Vì Kinh Hoa Nghiêm quá dài, khó đọc, khó tin, khó giải, khó hành, khó chứng, cho nên nay trích dịch yếu chỉ Kinh này để giúp cho các điều khó kể trên được dễ lại một phần nào.

Duy Tắc Thiền sư là tổ thứ mười chín của phái Lâm Tế, cũng là trưởng tử của ngài Trung Phong Thiền sư, sanh vào cuối đời nhà Nguyên Trung Quốc. Tác phẩm và ngữ lục của ngài được ghi trong Tục Tạng Kinh, tập thứ một trăm hai mươi hai.

Thích Duy Lực

Yếu Chỉ

Tám mươi mốt quyển Kinh Hoa Nghiêm chia làm bốn phần, gọi là tín, giải, hành, chứng.

Mười một quyển đầu tiên là vì chúng sanh khai phát cửa TÍN.

Bốn mươi mốt quyển kế là vì chúng sanh khai phát cửa GIẢI.

Bảy quyển kế tiếp là vì chúng sanh khai phát cửa HÀNH.

Hai mươi mốt quyển sau là vì chúng sanh khai phát cửa CHỨNG.

Giải thích ý nghĩa Kinh này chẳng ra ngoài Ngũ Chu, Lục Tướng, Tứ Pháp Giới, Thập Huyền Môn.

1/ Ngũ Chu gồm năm thứ nhân quả viên tròn chu đáo là nghĩa lý tổng quát của Kinh Hoa Nghiêm.

Nhân quả sở tín.

Nhân quả sai biệt.

Nhân quả bình đẳng.

Nhân quả thành hạnh.

Nhân quả chứng nhập.

2/ Lục Tướng là tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại.

Theo sự thấy của phàm phu, trên "sự tướng" mà nói, sự và tướng mỗi mỗi cách biệt chẳng đủ lục tướng. Nếu theo sự thấy của bậc Thánh mà nói, thể tánh các Pháp, mỗi một sự, một tướng đều đủ lục tướng viên dung. Vì lục tướng viên dung nên các Pháp tức là nhất chân Pháp giới Vô tận duyên khởi, cũng gọi là Nhất chân Pháp giới Vô tận của "Pháp giới". Lý viên dung này của vạn Pháp do lục tướng mà được chứng tỏ. Lý này căn cứ theo lời văn nguyện thứ tư trong Sơ Địa Thập Đại Nguyện của bổn Kinh, và là một đại Pháp môn của Tông Hoa Nghiêm do Chí Tướng đại sư kiến lập (Nhị Tổ Tông Hoa Nghiêm).

Tổng tướng là nhất hàm đa đức như thân người có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, do các căn mà thành một thể.

Biệt tướng là nhiều đức dụng mỗi mỗi khác biệt chẳng phải một, như thân thể tuy là một mà nhãn, nhĩ, v.v... các căn mỗi mỗi chẳng đồng.

Hai tướng tổng, biệt này là một thân với các căn tương đối của hai nghĩa bình đẳng và sai biệt (nhân quả Ngũ Chu).

Đồng tướng là nhiều đức dụng chẳng trái nhau, mỗi mỗi sai biệt đều thành một nghĩa của Tổng tướng, cũng như nhãn, nhĩ v.v... các căn mỗi mỗi đều thành nghĩa thân thể mà chẳng phải vật khác.

Dị tướng là nhiều nghĩa tương đối, mỗi loại khác nhau, cũng như tướng mạo của nhãn, nhĩ, v.v... các căn đều khác nhau.

Hai tướng đồng dị này là các căn tương đối lẫn nhau mà sáng tỏ được hai nghĩa bình đẳng và sai biệt.

Thành tướng là nhiều nghĩa đang duyên khởi mà thành một thể, cũng như các căn duyên khởi mà thành một thân.

Hoại tướng là nhiều nghĩa, mỗi mỗi trụ nơi tự tướng mà chẳng thay đổi, cũng như các căn trụ nơi tự tướng mà mỗi mỗi đều hiện ra sự dụng riêng biệt của mình.

Hai tướng thành hoại này y theo hai tướng đồng dị mà sáng tỏ cái quả của hai tướng tổng biệt và hai nghĩa bình đẳng, sai biệt.

Lục tướng này y theo Thể, Tướng, Dụng, phân làm hai nghĩa bình đẳng và sai biệt.

3/ Tứ Pháp Giới

Sự Pháp giới: các Pháp sắc và tâm của chúng sanh mỗi mỗi sai biệt, có giới hạn phân cách, nên gọi là "sự Pháp giới".

Lý Pháp giới: các Pháp sắc và tâm của chúng sanh dù có sai biệt, mà đồng một thể tánh, nên gọi là "lý Pháp giới".

Lý sự Vô ngại Pháp giới: Lý do sự mà hiển bày, sự do lý mà thành tựu, lý sự dung hợp lẫn nhau nên gọi là "lý sự Vô ngại Pháp giới".

Sự sự Vô ngại Pháp giới: tất cả giới hạn, phân cách của sự vật xứng với tánh dung thông, một tức nhiều, nhiều tức một, lớn vào nhỏ, nhỏ vào lớn, trùng trùng Vô tận, nên gọi là "sự sự Vô ngại Pháp giới".

4/ Thập Huyền Môn: cũng gọi là Thập Huyền duyên khởi, do Hoa Nghiêm Tông kiến lập, để hiển bày "sự sự Vô ngại Pháp giới" trong Tứ Pháp Giới. Nếu thông suốt nghĩa này thì có thể nhập vào Huyền Hải của Kinh Hoa Nghiêm, nên gọi là Huyền Môn. Mười môn này làm duyên với nhau mà sanh khởi cái khác, nên gọi là Duyên Khởi.

Thập Huyền Môn là:

1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn:

Tất cả các Pháp đồng thời đầy đủ trong một Pháp, mỗi Pháp đều có sự tương trợ lẫn nhau.

2. Quảng hiệp tự tại Vô ngại môn:

Từ một tâm sanh ra Vô lượng Pháp là quảng, từ Vô lượng Pháp trở về một tâm là hiệp. Muốn quảng, muốn hiệp đều tự tại Vô ngại.

3. Nhất đa tương dung bất đồng môn:

Một Pháp dung nạp nhiều Pháp, nhiều Pháp ở trong một Pháp, mỗi Pháp chẳng đồng mà đồng, đồng mà chẳng đồng.

4. Chư Pháp tương tức tự tại môn:

Tất cả Pháp đều do tâm tạo, vốn chẳng có khác, nên Pháp kia tức Pháp này, Pháp này tức Pháp kia, tương tức với nhau.

5. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn:

Ngôn giáo của chư Phật hoặc ẩn hoặc hiện đều vì thành tựu cho chúng sanh.

6. Vi tế tương dung an lập môn:

Tất cả Pháp dù vi tế đến chỗ Vô hình Vô tướng cũng dung nạp lẫn nhau và cũng kiến lập lẫn nhau.

7. Nhân Đà La Võng Pháp giới môn:

Nhân Đà La Võng là lưới báu của Đế Thích, mỗi mắc lưới đều dùng châu ngọc giao kết nhau để dụ cho vạn Pháp giao kết lẫn nhau, trùng trùng Vô tận.

8. Thác sự hiển Pháp sanh giải môn:

Mượn sự vật giả thiết thí dụ để hiển bày chánh Pháp cho chúng sanh được dễ sanh khởi tín giải.

9. Thập thế cách Pháp dị thành môn:

Cổ kim xa cách nhiều kiếp, dù mỗi Pháp khác biệt mà nhân quả tương trợ với nhau nên vạn Pháp mỗi mỗi đều được thành tựu.

10. Chủ Bạn (năng sở) viên minh cụ đức môn:

Dù lập năng sở mà viên tròn sáng tỏ, siêu việt năng sở, tất cả công đức vốn tự đầy đủ.

Thập huyền môn duyên khởi với nhau để diễn tả Pháp giới sự sự Vô ngại.

Tại sao các Pháp sự sự Vô ngại?

Vì duy tâm sở hiện, nên các Pháp vốn chẳng có khác, chỉ do tâm Như Lai Tạng duyên khởi mà thành Pháp sai biệt, nên phải có lý dung thông.

Vì Pháp tánh Vô định nên các Pháp là Pháp duyên khởi của tâm Như Lai Tạng, vốn chẳng có tự tánh nhất định, nên phải có lý dung thông.

Vì duyên khởi lẫn nhau, Pháp duyên khởi không được tự thể độc lập, phải do Pháp khác làm duyên mà thành, nên phải có lý dung thông.

Vì Pháp tánh dung thông nên sự vật dung thông tự đúng như Pháp tánh, nên phải có lý dung thông.

Vì Pháp như mộng huyễn, các Pháp chẳng thật, nên phải có lý dung thông.

Vì Pháp như bóng hình, nên các Pháp duyên khởi từ một tâm giới mà chẳng tồn tại, như bóng hình trong gương, nên phải có lý dung thông.

Sáu thứ nhân kể trên đều sẵn có lý dung thông, là y theo đức tướng của các Pháp như như mà nói.

Bốn thứ nhân kể sau này là theo nghiệp dụng Vô ngại mà nói.

Vì nhân Vô hạn, nên hàng Bồ tát tu nhân Vô hạn, thì phải được quả nghiệp dụng Vô ngại.

Vì Phật chứng chân tánh cùng tột, nên nghiệp dụng đúng như tánh cũng Vô ngại.

Vì sức Thiền định thâm sâu huyền diệu, nên được nghiệp dụng Vô ngại.

Vì sức dụng thần thông giải thoát của tự tánh bất khả tư nghì, lìa sự ràng buộc của vạn Pháp mà được tự tại, nên nghiệp dụng Vô ngại.

Như thế gọi là "sự sự Vô ngại Pháp giới". Nếu chứng được sự sự Vô ngại Pháp giới thì tất cả đều là việc tự kỷ, cũng gọi là "nhất chân Pháp giới". Nhưng hiện nay người khắp thế gian đều chẳng biết có việc tự kỷ, vì họ chẳng biết nên chẳng chịu tin. Vì chẳng tin nên chẳng thể hành, chỉ ở trong giàu sang, phú quí, tửu sắc, tài lợi mà trôi qua một đời, chẳng được thành tựu gì cả, dù biết ngày chết sắp đến, cũng còn không chịu quay đầu lại. Thật đáng thương xót!

Nhất chân Pháp giới bao gồm Vô biên thế giới, mười thứ huyền môn tổng nhiếp Vô lượng Pháp môn, tức sự tức lý, tức tánh tức tướng, tức tục tức chân, tức nhân tức quả, tức năng tức sở, tức Thánh tức phàm, tức đa tức nhất, tức chánh báo tức y báo, như lưới báu của Đế Thích, trùng trùng hiển hiện, chẳng phải thần thông làm thành, vốn là Pháp tánh như thế. kẻ mê gặp đâu đều chướng ngại, kẻ ngộ ngay đó toàn hiển bày. Ấy là lời văn viên đốn, xứng với tự tánh của Kinh Hoa Nghiêm, cũng là Kinh của Thế Tôn giảng nơi thất xứ cửu hội vậy.

Thất xứ cửu hội là:

1. Bồ đề tràng.

2. Phổ quang minh điện.

3. Đao lợi thiên.

4. Dạ ma thiên.

5. Đâu xuất thiên.

6. Tha hóa thiên.

7 & 8. Trùng hội nơi Phổ quang minh điện.

9. Thệ đa lâm.

Đệ nhất hội thuyết Như Lai Y báo và Chánh báo.

Đệ nhị hội thuyết thập tín.

Đệ tam hội thuyết thập trụ.

Đệ tứ hội thuyết thập hạnh.

Đệ ngũ hội thuyết thập hồi hướng.

Đệ lục hội thuyết thập địa.

Đệ thất hội thuyết Đẳng Giác và Diệu Giác.

Thất hội kể trên đều theo thứ tự mà thuyết, gọi là "Pháp môn hành Bố".

Đệ bát và đệ cửu hai hội: Phổ Huệ Bồ tát đề ra hai trăm vấn, Phổ Hiền Bồ tát trả lời hai ngàn đáp, phàm nói một Pháp thì tất cả Pháp đều bao gồm trong đó, gọi là "Pháp môn viên dung". "Hành Bố" như hoa đào hoa lý thì hoa trước quả sau; "Viên dung" như hoa Sen thì hoa quả đồng thời.

"Viên dung" có hai nghĩa:

Nhân gồm Quả Hải (biển quả).

Quả thấu nguồn nhân.

a) Nhân gồm biển quả là khi đề thập tín thì thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác đều bao gồm trong đó.

b) Quả thấu nguồn nhân là khi đề đẳng giác, diệu giác thì thập địa, thập hồi hướng, thập hạnh, thập trụ, thập tín cũng đều bao gồm trong đó.

Cho nên nói Hành Bố thì giáo tướng sai biệt; nói "Viên Dung" thì tánh tướng Vô ngại. Tướng là tướng của tánh, nên Hành Bố chẳng ngại "Viên Dung"; tánh là tánh của tướng, nên "Viên Dung" chẳng ngại Hành Bố. Vì "Viên Dung" chẳng ngại Hành Bố, nên một tức là Vô lượng. Hành Bố chẳng ngại "Viên Dung" nên Vô lượng tức là một.

Vô lượng tức là một thì ẩn ẩn dung thông, một tức là Vô lượng thì trùng trùng thấu nhập. Như thế cửu hội cộng thành tám mươi mốt quyển Kinh Hoa Nghiêm.

Trong Kinh nói:

"Hoa tạng thế giới sở hữu trần,

Nhất nhất trần trung kiến Pháp giới".

Dịch nghĩa:

"Bụi trần đầy thế giới hoa tạng,

Trong mỗi hạt bụi hiện Pháp giới".

Các ngươi có thấy chăng? Nếu mà thấy được thì liền thấy thân Như Lai Tạng Vô tận quang minh công đức, cùng hư không, khắp Pháp giới, hiện ở nơi đây; vi trần số cõi Phật Bồ tát hải hội, cũng tại nơi đây; vi trần số cõi Phật chư thiện tri thức, thiên long bát bộ, cũng tại nơi đây; vi trần số cõi Phật bảo tòa, bảo sàng, bảo liên hoa, bảo anh lạc, bảo võng, bảo thụ cũng tại nơi đây; lời vấn lời đáp; viên dung hành bố cũng tại nơi đây; tín giải hành chứng cũng tại nơi đây; Di Lặc búng tay mở cửa lâu các (cung điện) cũng tại nơi đây; Văn Thù đưa tay xoa đầu Thiện Tài cũng tại nơi đây. Cho đến ngũ chu, lục tướng, tứ Pháp giới, thập huyền môn, cũng đều tại nơi đây; ấy chẳng phải ngay đó toàn hiển bày sao?