| Yếu Chỉ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | ||||||||
| Viết bởi Thích Duy Lực | ||||||||
Trang 1 của 3 Diệu Pháp Liên Hoa là một đại pháp bất khả tư nghì, độ cho chúng sanh ở cõi Ta bà ác trược được không nhiễm, cũng như tự tánh chìm nơi ác thế đã lâu mà được hiện ra thanh khiết như hoa sen. Vì Diệu Pháp chẳng thể suy lường, người đọc khó hiểu, hiểu mà khó tin, tin mà khó hành, hành mà khó chứng. Cho nên nhiều người y văn giải nghĩa đuổi theo lời nói mà chẳng hiểu ý Phật, lại mê lầm hiểu theo mê tín, nghịch với ý chỉ trong kinh. Tác dụng của Phật pháp là muốn chúng sanh đều được thành Phật để giải thoát cái khổ sanh tử, tự giác giác tha. Muốn đạt đến mục đích này thì phải thực hành đúng theo phương tiện của Phật dạy trong kinh, nhưng người đời nay có một số cho đọc tụng là trì kinh, một số thì chỉ nghiên cứu Phật học để thêm kiến giải mà không chú trọng sự thực hành thành ra mất hết tác dụng của Phật pháp. Yếu Chỉ Diệu Pháp Liên Hoa KinhTác giả: Thích Duy Lực(Kinh này nguyên nằm trong Quyển: Chư Kinh Tập Yếu, Thích Duy Lực Biên Soạn, Thành Hội Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh, Ấn Hành: PL.2537 – 1993 nhưng nội dung của các kinh khác nhau đồng thời trong các bản ấn hành trước đều in riêng rẽ nên chúng tôi tách ra để dễ phân loại. bttdtkvn) Giải đề: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Giải ĐềDiệu là bất khả tư nghì. Pháp là phương tiện để đạt đến giác ngộ cuối cùng. Liên Hoa (Hoa sen) dụ cho Diệu pháp sanh nơi đất sình ô uế mà chẳng nhiễm, mùi thơm càng xa càng dịu dàng. Kinh là xuyên thấu cổ kim. Diệu Pháp Liên Hoa là một đại pháp bất khả tư nghì, độ cho chúng sanh ở cõi Ta bà ác trược được không nhiễm, cũng như tự tánh chìm nơi ác thế đã lâu mà được hiện ra thanh khiết như hoa sen. Vì Diệu Pháp chẳng thể suy lường, người đọc khó hiểu, hiểu mà khó tin, tin mà khó hành, hành mà khó chứng. Cho nên nhiều người y văn giải nghĩa đuổi theo lời nói mà chẳng hiểu ý Phật, lại mê lầm hiểu theo mê tín, nghịch với ý chỉ trong kinh. Tác dụng của Phật pháp là muốn chúng sanh đều được thành Phật để giải thoát cái khổ sanh tử, tự giác giác tha. Muốn đạt đến mục đích này thì phải thực hành đúng theo phương tiện của Phật dạy trong kinh, nhưng người đời nay có một số cho đọc tụng là trì kinh, một số thì chỉ nghiên cứu Phật học để thêm kiến giải mà không chú trọng sự thực hành thành ra mất hết tác dụng của Phật pháp. Trích lục yếu chỉ kinh này là muốn giải quyết những cái khó kể trên một phần nào, khiến cho người đọc ở chỗ cao sâu mà nắm được căn bản, ở chỗ quảng đại mênh mông mà tìm được trung tâm, để thực hành đúng theo lời Phật dạy cho đến cứu kính thành Phật. PHẨM TỰA Thứ Nhất. "Phật phóng hào quang chiếu soi" là một triệu chứng tốt đẹp để báo cho biết Phật sẽ giảng đại pháp hy hữu xưa nay chưa từng có. Ý muốn tất cả chúng sanh đều biết kính trọng pháp. Do trọng pháp mới có đủ lòng tin, đủ lòng tin rồi mới quyết chí thực hành theo, để đạt đến giác ngộ cuối cùng, vĩnh viễn tự do tự tại. Dù như vậy mà trong hội này vẫn có một số tứ chúng năm ngàn người, vì chưa đủ lòng tin, nên nghe Phật sẽ giảng đại pháp mà lại bỏ đi. Phật cho đó là những kẻ kém phước, tăng thượng mạn. PHẨM PHƯƠNG TIỆN Thứ Hai. Theo căn bản của Phật pháp chỉ có một Phật thừa, nhưng theo phương tiện thì giảng ra Vô lượng Vô biên để thích ứng với căn cơ và trình độ của mọi chúng sanh. Chúng sanh nào nghe được pháp này thì sẽ thành Phật. Chúng sanh do nghe pháp (đọc tụng cũng như nghe pháp) mà tín giải là khai Phật tri kiến. Do tín giải mà thọ trì (y theo chánh pháp thực hành) là thị Phật tri kiến. Do thọ trì mà chứng đắc là ngộ Phật tri kiến. Do chứng đắc mà thành đạo gọi là nhập Phật tri kiến. Chẳng lập tất cả tri kiến gọi là Phật tri kiến. Do một đại sự nhân duyên này (Nhất Phật Thừa) nên Phật thị hiện trên đời. Nói một Phật thừa vì tự tánh bất nhị. Tất cả pháp vốn chẳng có tự tánh. Chủng tử Phật do nhân duyên sanh khởi. Pháp nào trụ theo ngôi pháp đó. Cũng như ngọn đèn mỗi giây mỗi khác; ngọn đèn giây thứ nhứt trụ theo ngôi pháp giây thứ nhất, ngọn đèn giây thứ nhì trụ theo ngôi pháp giây thứ nhì; pháp sanh trụ ngôi sanh, pháp diệt trụ ngôi diệt, v.v... Tướng thế gian luôn luôn thường trụ như thế. Muốn thấu suốt nghĩa "thế gian tướng thường trụ" thì phải chứng ngộ tự tánh mới được. PHẨM THÍ DỤ Thứ Ba. Chúng sanh ba thừa ở trong nhà lửa tam giới, cũng như con nít ham chơi ngũ dục tài lợi, không sợ cái khổ sanh lão bệnh tử, không chịu ra nhà lửa để tránh khỏi chết thiêu. Phật phải dùng các phương tiện dối gạt (lời nói dối gạt là phương tiện để cứu độ chúng sanh nên không được coi là vọng ngữ) nói bên ngoài có đủ thứ đồ chơi, nào là xe dê, nào là xe nai, nào là xe bò. Hãy mau mau chạy ra mới được tùy ý lựa chọn món đồ chơi của mình ham thích. Khi tất cả được ra ngoài yên ổn rồi, Phật cho đồng đều mỗi đứa một xe bò lớn (Đại thừa) vì thật ra chẳng có xe dê, xe nai. Ở đây chỉ rõ dù lời Phật nói có ba thừa nhưng kỳ thực chỉ có nhứt Phật thừa mà thôi. PHẨM TÍN GIẢI Thứ Tư. Hàng Thanh văn Duyên giác, sau khi được nghe đại pháp chưa từng có và thấy Phật thọ ký Vô thượng Bồ đề cho Xá Lợi Phất mới biết trước kia được ít cho là đủ, tự cho đã được Niết bàn, chẳng cầu tiến lên. Đối với Đại thừa có Vô lượng pháp tài để thành tựu cho chúng sanh mà tâm họ chẳng ham thích, cũng như cha là Trưởng giả giàu sang mà con ruột lại bỏ đi ăn xin các nơi, cam chịu nghèo khổ. Dầu đã gặp cha ruột giàu sang nhưng không dám tin nhận, phải trải qua hai mươi năm lao nhọc hốt phẩn, mới phát hiện được tất cả tài sản kia thuộc về mình. Kinh nói "cha cho" nhưng sự thật thì tự tánh vốn sẳn có. "Cha" là dụ cho tự tánh Phật. PHẨM DƯỢC THẢO DỤ Thứ Năm. Pháp vương phá chấp ra đời, theo tâm ý chúng sanh mà tùy nghi thuyết pháp. Diệu pháp khó hiểu khó biết vì tự tánh Vô hình Vô thanh, lời nói chẳng thể diễn tả, ý thức chẳng thể suy lường. Kẻ có trí nghe rồi thì được tin, được hiểu. Kẻ Vô trí nghe rồi vẫn còn nghi ngờ, nhưng cũng được gieo trồng thiện căn. Ví như mưa xuống khắp nơi, tất cả cây cối và dược thảo tùy theo căn tánh lãnh thọ thấm nhuần mà sanh trưởng. Như Lai thuyết pháp cũng vậy, một tướng, một vị, gọi là tướng giải thoát, tướng lìa, tướng diệt. Chúng sanh y theo lời dạy tu hành, cứu kính sẽ được kiến tánh thành Phật. PHẨM THỌ KÝ Thứ Sáu. Ý của Phật ở phẩm này tỏ rõ rằng: tất cả đệ tử Phật, bất cứ thượng căn, trung căn, hạ căn chỉ cần đầy đủ lòng tin, thực hành theo đúng phương tiện của Phật dạy, cuối cùng tất cả đều sẽ được thọ ký thành Phật. PHẨM HÓA THÀNH DỤ Thứ Bảy. "Đại Thông Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật) Mười kiếp tọa đạo tràng" thân tâm chẳng động là trụ nơi Niết bàn Tiểu thừa (hóa thành) chưa đến cứu kính (bảo sở) nên: "Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng đặng thành Phật đạo." Sau này bỏ Niết bàn Tiểu thừa tiến lên Đại thừa mới được thành Phật. Mười sáu Vương Tử thành Phật ở mười phương thế giới để tỏ rõ "Phật Phật bất nhị". Chư Phật đều thuyết Kinh Pháp Hoa để tỏ rõ "Pháp pháp bất nhị". Hàng Thanh văn Duyên giác ham pháp Tiểu thừa, chẳng tin Đại thừa, nên Phật trước lập phương tiện nói Niết bàn Tiểu thừa để tâm họ được tạm yên ổn, rồi sau mới dạy pháp Bồ tát, để đi đến chỗ cứu kính. Cũng như đạo sư (Phật) dẫn dắt chúng Tiểu thừa đi tìm châu báu vì muốn thuận theo ý của đại chúng nên mới biến hóa thành lớn để tạm nghỉ, sau mới khuyên chúng bỏ nơi "hóa thành" tiến tới nữa, đến nơi "Bảo Sở" (quả Phật). PHẨM NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ Thứ Tám. THỌ HỌC VÔ HỌC NHƠN KÝ Thứ Chín. Phẩm tám, phẩm chín cũng như phẩm sáu, thất chúng đệ tử cho đến Thiên Long Bát Bộ, kẻ hộ trì chánh pháp, chẳng kể thứ lớp tốt xấu, quả vị cao thấp, hữu học (thấp), Vô học (cao), nếu được nghe một câu, một kệ của kinh này cho đến một niệm tùy hỷ đều được thọ ký thành Phật. Vì gieo chánh nhân thì sẽ được chánh quả. PHẨM PHÁP SƯ Thứ Mười. Phẩm này dạy rằng phải tôn trọng, tán thán, cung kính, cúng dường pháp sư. Nhưng pháp sư thuyết pháp cần phải hiểu rõ ý Phật, như nói: "vào thất Như Lai" là tâm đại bi, "mặt áo Như Lai" là tâm nhu hòa nhẫn nhục, "ngồi tòa Như Lai" là tất cả pháp KHÔNG (nghĩa là "có" "chẳng thực có", "không" "chẳng thực không", "chơn" "chẳng thực chơn", "vọng" "chẳng thật vọng", tất cả pháp đều chẳng thật gọi là tất cả pháp KHÔNG) rồi mới dùng tâm chẳng giãi đãi vì tứ chúng thuyết pháp. Nếu chẳng hiểu rõ ý Phật mà tự ý vọng thuyết thì sẽ bị cái tội cuồng vọng thuyết pháp. (Kinh Lăng Nghiêm có nói bốn thứ tội địa ngục: Một là phá Phật luật nghi. Hai là phỉ báng Đại thừa. Ba là cuồng vọng thuyết pháp. Bốn là hư tiêu tín thí).
|


