|
|
 |
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Thông Huệ
|
|
Kinh Viên Giác là một trong những bộ Kinh có mặt sớm nhất và được thực hành trong nhiều thế kỷ đầu công nguyên tại Việt Nam, và cũng là bộ kinh quan trọng của thiền tông. Xin điểm qua một vài điểm quan trọng của Kinh Viên Giác.
- Thứ nhất, thâm ý của Đức Phật lúc thuyết kinh này cho đại chúng: Chỉ thẳng cho mọi người nhận ra tâm Viên Giác sẵn đủ và bình đẳng cùng chư Phật.
- Thứ hai, đã biết mình có chánh nhơn thành Phật, chúng ta phải nương theo lời Phật dạy trong kinh, tinh tấn tu hành để đạt được chánh quả.
- Thứ ba, để đền đáp ơn sâu của Phật-Tổ trong muôn một, chúng ta phải phát nguyện độ tất cả chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi, đồng tròn đạo nghiệp.
Mong rằng tất cả chúng ta, cuối cùng đều hòa nhập vào nhất thể, vào pháp giới tánh thanh tịnh là tâm Viên Giác của chính mình. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Từ Thông
|
|
Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là một bộ kinh được lưu truyền sâu rộng ở các nước Phật giáo theo hệ tư tưởng Đại thừa. Ở Trung Quốc, vào thời Diêu Tần khoảng cuối thế kỷ thứ ba, Ngài Cưu Ma La Thập, một nhà sư người Ấn dịch từ Phạn văn ra Hán văn với nhan đề Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Sư Quách Hoàng, sư Trúc Pháp Hộ dịch nhan đề là Chánh pháp Hoa Kinh. Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam những nước cùng một khuynh hướng ái mộ tư tưởng Đại thừa đều tôn trọng bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập. Ở Việt Nam khắp tòng lâm, tự viện, am thất chỗ nào không có kinh Pháp Hoa gần như chỗ đó được xem như thiếu Phật. Xem thế đủ biết “diệu lực” của Kinh Pháp Hoa, đức tin của người Phật tử đối với Kinh Pháp Hoa thâm hậu biết chừng nào! |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Thanh Từ
|
|
Quyển Pháp Bảo Đàn do Thiền sư Pháp Hải, đệ tử của Lục Tổ, trụ trì chùa Bảo Lâm ghi chép lại. Thế nên những lời được ghi lại đương nhiên là có khi sơ sót chút ít, có khi được bổ túc cho thành câu, thành văn, vì Lục Tổ chỉ giảng thôi chớ không có viết.
Tổ dạy rằng: Tất cả không có chân thật, chẳng do thấy nơi chân mà gọi là chân, nếu thấy được chân thì cái thấy đó trọn không phải là chân. Chúng ta nghe như khó hiểu, nhưng lẽ thật là như thế. Chân là tự nó chân, nếu thấy chân thì cái chân đó không thành chân.
Tổ chỉ thật là rõ ràng, nếu người hay tự có chân, chân đó ở đâu? Lìa giả tức tâm chân, tự tâm không chịu lìa giả, không chân chỗ nào tìm ra chân? Như vậy chân có là khi nào lìa được giả, có sáng là khi nào mất tối, còn tối mà muốn tìm sáng là không có, còn theo giả mà muốn tìm chân cũng không có. |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Thanh Từ
|
|
Kinh Pháp Hoa không ức dương đặc biệt cho một trình độ căn cơ nào, mà bao dung tế độ hết thảy mọi chúng sanh không bỏ sót một loài nào. Nhưng vì căn cơ chúng sanh không đồng, nên phải tùy theo trình độ mà giáo hóa có sai biệt, để cho người cao cũng như người thấp đều nhận được lợi ích, và cuối cùng đưa đến chỗ cứu kính bình đẳng là quả Phật. Do đó, kinh Pháp Hoa rất được nhiều thành phần xuất gia, cũng như Cư sĩ tôn quí, tín ngưỡng, thiết lập nhiều đạo tràng trì tụng, lễ kính, tu tập.
Kinh Pháp Hoa chẳng những ở Trung Hoa, Tăng Ni Phật tử quí trọng, mà khi truyền sang Việt Nam cũng được các chùa kính trọng, nên hay tổ chức các đạo tràng Pháp Hoa hay hội Pháp Hoa để trì tụng. Ở Nhật Bản, kinh Pháp Hoa cũng được tôn trọng nên có ra đời một phái tên Nhật Liên Tôn, chuyên trì kinh Pháp Hoa và niệm câu Nam mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Từ Thông
|
|
Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là một bộ kinh được lưu truyền sâu rộng ở các nước Phật giáo theo hệ tư tưởng Đại thừa.
Nhìn chung, sự nhận thức và triển khai của các Ngài, mỗi người một vẻ, vẻ nào cũng có cái hay cái diệu riêng của nó.
Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, người có chủng tánh Đại thừa, có được ít nhiều tuệ nhãn, nhìn vào như nhìn hạt ngọc kim cương. Tùy góc đứng khác nhau mà ngọc kim cương ảnh hiện màu sắc khác nhau, nhưng màu sắc nào cũng đều rực rỡ. Tùy khả năng tư duy tu của hành giả mà nhận thức cái “diệu nghĩa” của kinh một khác. |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Duy Lực
|
|
Nguyên văn chữ Hán của Kinh Viên
Giác chỉ có hơn mười ba ngàn chữ mà bao gồm tất cả giáo pháp đốn tiệm của
thượng căn và hạ căn. Phật dùng đủ thứ phương tiện giảng rõ các pháp tu chứng
và thiền bệnh, độc giả theo đó tu hành thì chẳng đọa tà kiến.
Vì dịch giả là người nước Kế Tân,
đối với văn phạm tiếng Hán chưa thông thạo lắm, nên lời văn chưa được lưu loát,
thành có nhiều chỗ tối nghĩa nên chúng tôi phải nhờ trực giải của Ngài Hám Sơn
(người đã kiến tánh) thêm vào để sáng tỏ nghĩa Kinh, gặp chỗ khó hiểu lại tùy
văn ghi chú hoặc lược giải để giúp cho người đọc dễ hiểu, nhưng vẫn cố giữ
nguyên văn của người dịch tiếng Phạn, chẳng bỏ sót một câu nào cả.
Nói tóm lại, chúng tôi dịch Kinh
này là muốn giúp cho người đọc hiểu thấu nghĩa Kinh, để theo đó tu hành cho đến
kiến tánh, nên chẳng chú trọng sự trau chuốt lời văn, có thể còn nhiều khuyết
điểm, xin độc giả hoan hỷ chỉ giáo cho.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Duy Lực
|
|
Kinh Duy Ma Cật bất khả tư nghì,
tuyệt diệu cùng tột, ý chỉ thâm huyền, chẳng phải lời nói có thể diễn tả. Siêu
việt tam không (Nhơn không, Pháp không, Không không) chẳng phải Nhị thừa có thể
đo lường. Mênh mông Vô vi mà Vô sở bất vi, chẳng biết tại sao như thế mà tự
được như thế, tâm cảnh đều tuyệt, nói bất khả tư nghì là vậy.
Ngài Cưu Ma La Thập dịch Kinh này
từ Phạn sang Hán, văn gọn mà nghĩa thấu, nguyên chánh bản dịch, giữ đủ thánh ý,
nhưng vì đời sau qua nhiều tay chép đi chép lại, rồi chia thành nhiều bản khác
nhau, hoặc có chỗ sai ý và tối nghĩa.
Chúng tôi dịch từ Hán sang Việt,
gặp những trường hợp này phải nhờ lời chú giải của Ngài La Thập và Tăng Triệu
để đính chính lại và làm sáng tỏ nghĩa kinh. Gặp những chỗ cùng một ý mà văn
hơi dài dòng, thì chúng tôi lược bỏ cho gọn và cố giữ bản ý để thích ứng với
độc giả đời nay. Có người nói làm như vậy không được, nhưng Ngài Cưu Ma La Thập
khi dịch Kinh Di Ðà, mười phương Phật Ngài chỉ dịch sáu phương, cũng vẫn giữ đủ
nghĩa kinh mà người đọc lại cảm thấy lưu loát dễ hiểu. Việc ấy cũng có thể làm
mô phạm cho người dịch Kinh đời sau. Cho nên chúng tôi cả gan lược bỏ chỗ dài
dòng là vậy, xin độc giả hoan hỉ thứ lỗi cho.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Duy Lực
|
|
Đại Phương Quảng là siêu việt số
lượng. Đại là thể tánh bao gồm tất cả. Phương Quảng là nghiệp dụng phổ
biến khắp nơi. Phật là quả giác viên mãn. Hoa là dụ cho vạn hạnh khai mở. Nghiêm là dụ cho đại Pháp trang
nghiêm thành tựu cho con người. Kinh là xuyên thấu tất cả Pháp. Đại Phương Quảng là Pháp sở
chứng. Phật là người năng chứng. Hai chữ Hoa Nghiêm dụ cho Phật ở
nơi nhân địa mà vạn hạnh như hoa; dùng hoa này mà trang nghiêm quả địa, nên gọi
là Hoa Nghiêm.
Vì Kinh Hoa Nghiêm quá dài, khó
đọc, khó tin, khó giải, khó hành, khó chứng, cho nên nay trích dịch yếu chỉ
Kinh này để giúp cho các điều khó kể trên được dễ lại một phần nào.
Duy Tắc Thiền sư là tổ thứ mười
chín của phái Lâm Tế, cũng là trưởng tử của ngài Trung Phong Thiền sư, sanh vào
cuối đời nhà Nguyên Trung Quốc. Tác phẩm và ngữ lục của ngài được ghi trong Tục
Tạng Kinh, tập thứ một trăm hai mươi hai.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Duy Lực
|
|
Pháp Bảo Ðàn Kinh là một quyển Kinh chuyên hoằng Pháp Ðốn Giáo của Thiền Tông, do Lục Tổ Huệ Năng giảng và Ngài Pháp Hải ghi lại, nay đã dịch sang nhiều thứ tiếng và đã phổ biến trên thế giới.
Lục Tổ là người không biết chữ nhưng nói ra lời nào cũng đúng ý Phật. Tổ nói: Diệu lý của chư Phật chẳng dính dáng với văn tự. Như vậy người đọc nên được ý quên lời, chớ nên chấp lời nghịch ý. Như Lục Tổ nói: Nay ta gượng nói ra, khiến ông bỏ tà kiến, chớ hiểu theo lời nói, mới cho biết ít phần.
Chớ hiểu theo lời nói là chớ chấp lời mà nghịch ý; mới cho biết ít phần là được ý mà quên lời, nói được ý là phải đốn ngộ ý của Tổ, cũng là ý của Phật vậy. Phật nói: Sự suy lường phân biệt chẳng thể hiểu được pháp này. Hễ nói đã chứng thì chẳng thể tỏ rõ cho người biết, nếu nói chẳng chứng thì thuyết lý chẳng thể liễu triệt, nên pháp đốn giáo này chẳng phải muốn người hiểu theo lời, cần phải tự tin, tự tu, tự chứng, tự ngộ mới được. Nếu chỉ dùng miệng luận bàn, dùng tâm suy lường là trái với ý Tổ. Phật có nói: Như Lai dùng tất cả thí dụ để diễn đạt mọi việc thì được; nhưng chẳng thí dụ nào có thể diễn đạt pháp này. Tại sao vậy? Vì tự tánh bất khả tư nghì, tâm trí chẳng đến được. Vậy phải tin rằng: miệng luận bàn, tâm suy lường là việc chướng đạo vậy. |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Thích Duy Lực
|
|
Diệu Pháp Liên Hoa là một đại pháp bất khả tư nghì, độ cho chúng sanh ở cõi Ta bà ác trược được không nhiễm, cũng như tự tánh chìm nơi ác thế đã lâu mà được hiện ra thanh khiết như hoa sen. Vì Diệu Pháp chẳng thể suy lường, người đọc khó hiểu, hiểu mà khó tin, tin mà khó hành, hành mà khó chứng. Cho nên nhiều người y văn giải nghĩa đuổi theo lời nói mà chẳng hiểu ý Phật, lại mê lầm hiểu theo mê tín, nghịch với ý chỉ trong kinh.
Tác dụng của Phật pháp là muốn chúng sanh đều được thành Phật để giải thoát cái khổ sanh tử, tự giác giác tha. Muốn đạt đến mục đích này thì phải thực hành đúng theo phương tiện của Phật dạy trong kinh, nhưng người đời nay có một số cho đọc tụng là trì kinh, một số thì chỉ nghiên cứu Phật học để thêm kiến giải mà không chú trọng sự thực hành thành ra mất hết tác dụng của Phật pháp. |
|
Đọc thêm...
|
|
Chư Kinh Giảng Giải -
Chú giải Kinh Điển Đại Thừa
|
|
Viết bởi Giác Khai
|
|
Mục đích tôi giải BÁT NHÃ TÂM KINH này là muốn chứng tỏ sự tham thiền
tức là trì Kinh. Nhiều người tưởng lầm tụng Kinh, niệm Kinh là trì Kinh, nhưng kỳ
thực họ chỉ là tụng niệm chứ không phải là trì, trì là phải y Kinh mà tín thọ
phụng hành mới được nói là trì Kinh, cũng như tụng giới không phải là trì giới
vậy. Bây giờ chúng ta đề cái NGHI TÌNH ấy là cây chỗi automatic, khỏi cần tác ý
muốn quét mà tự nhiên quét sạch tất cả, cũng như Tâm Kinh này dạy chúng ta quét
từ phàm phu, Tiểu thừa, Đại thừa, cho đến nhất Phật thừa, quét từng thứ lớp,
quét tới không còn gì để quét nữa, kết quả được KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT, biết rõ
được chính mình, làm chủ cho mình, đạt đến tự do tự tại, cũng là đạt đến bờ bên
kia (Ba la mật) rồi vậy.
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 của 2 |
|
|
|
|
 |
|